TIỂU LUẬN:
Quan điểm lịch sử cụ thể với
công cuộc đối mới kinh tế ở Việt
Nam hiện nay A.Đặt Vấn Đề Bước vào thiên niên kỷ mới, loài người đã và đang có những bước tiến
quan trọng trong công cuộc trinh phục thế giới. Những thành tựu trong lĩnh
vực khoa học - kỹ thuật nói riêng và trong mọi mặt của đời sống xã hội nói
chung đã nâng dần loài người lên một tầm cao mới. Trong sự chuyển biến
mạnh mẽ đó, Việt Nam chúng ta cũng không ngừng biến đổi vận động. Tính
đến nay nước ta đã thực hiện công cuộc đổi mới được hơn một thập kỷ, bên
cạnh những thành tựu đã đạt được, những vấn đề của nền kinh tế luôn đặt ra
những thách thức cho các nhà kinh tế. So với thế giới, nước ta vẫn là một
nước nghèo, nền kinh tế còn yếu kém, chậm phát triển, những tàn dư của nền
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại đã kìm hãm sự phát triển
của nền kinh tế. Chính vì thế chúng ta phải nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng
đặc điểm của nó sẽ khác nhau, thậm trí có thể làm thay đổi hòan toàn bản
chất của sự vật.
2. Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể
Quan điểm lịch sử có 3 yêu cầu:
Thứ nhất: Khi phân tích xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong
điều kiện không gian và thời gian cụ thể của nó, phải phân tích xem những
điều kiện không gian ấy có ảnh hưởng như thế nào đến tính chất, đặc điểm
của sự vật, hiện tượng. Phải phân tích cụ thể mọi tình hình cụ thể ảnh hưởng
đến sự vật, hiện tượng.
Thứ hai: Khi nghiên cứu một lý luận, một luận điểm khoa học nào đó
cần phải phân tích nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh làm nảy sinh lý luận đó. Có
như vậy mới đánh giá đúng giá trị và hạn chế của lý luận đó. Việc tìm ra
điểm mạnh và điểm yếu có tác dụng trực tiếp đến quá trình vận dụng sau
này.
Thứ ba: Khi vận dụng một lý luận nào đó vào thực tiễn phải tính đến
điều kiện cụ thể của nơi được vận dụng. Điều kiện này sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến kết quả của sự vận dụng đó.
3. Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?
Trước tiên cần phải khẳng định rằng KTTT định hướng XHCN cũng là
một dạng vật chất. Nền kinh tế Việt Nam là một dạng vật chất xã hội theo sự
phân loại của triết học Mác-Lênin. Chính vì thế nền KTTT định hướng
XHCN Việt Nam cũng tồn tại, vận động và phát triển theo những nguyên lý,
quy luật của triết học Mác-Lênin, mà cụ thể là trong những điều kiện không
gian thời gian theo quan điểm lịch sử cụ thể.
Sự ra đời và phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hơn 10 năm
qua đã góp phần thay đổi bộ mặt đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Tuy
khi bắt đầu đổi mới. Bức tranh chung của kinh tế Việt Nam năm trước đổi
mới là tăng trưởng thấp 3,7%/năm, làm không đủ ăn và dựa vào nguồn viện
trợ bên ngoài rất lớn. Thu nhập quốc dân trong nước, sản xuất chỉ đáp ứng
được 80-90% thu nhập quốc dân sử dụng. Đến năm 1985 tỷ trọng thu từ bên
ngoài chiếm 10,2% thu nhập quốc dân sử dụng, nợ nước ngoài lên tới 8,5 tỷ
rúp và 1,9 tỷ USD. Cũng vào các năm đó nền kinh tế rơi vào tình trạng
khủng khoảng trầm trọng, siêu lạm phát ở mức 774,7% vào năm 1986 kéo
theo giá cả leo thang và vô phương kiểm soát.
Sự tàn phá của chiến tranh và nền kinh tế bao cấp yếu kém kéo dài đã
để lại nhiều hậu quả nặng nề: cơ sở vật chất thấp kém với nền KH - CN, kỹ
thuật lạc hậu, hầu hết các hệ thống máy móc trong các xí nghiệp đều do Liên
Xô cũ giúp đỡ từ trong chiến tranh nên năng suất thấp, chất lượng kém.
Điều kiện địa lý cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nền kinh tế. Về địa hình, nước ta trải dài trên nhiều vĩ tuyến, bề ngang
hẹp, địa hình phức tạp mang đậm nét của sự phân dị sâu sắc về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội. Các đặc điểm này chi phối sự phân công lao động xã
hội theo lãnh thổ và phát triển các vùng kinh tế. Nằm ở Tây Thái Bình
Dương và Đông Nam á, khu vực phát triển cao, ổn định, nơi cửa ngõ của
giao lưu quốc tế, Việt Nam có nhiều khả năng để phát triển nhiều loại hình
kinh tế khác nhau dựa trên những lợi thế về vận tải biển, dịch vụ viễn thông,
du lịch. Tài nguyên khoáng sản phân bố không đều trên các vùng, ngay ở
mỗi vùng cũng phân tán và thiếu đồng bộ không gắn với nhau gây khó khăn
cho việc khai thác sử dụng chúng và ảnh hưởng đến việc bố chí kinh tế của
các vùng. Về dân số, nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào nhưng
phân bố cũng không đồng đều.
Về chế độ chính trị: Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một trong
những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Theo các nhà kinh
ngày càng sâu sắc. Như vậy có nghĩa là ngày nay, không một nền kinh tế nào
có thể đứng tách ra khỏi cộng đồng quốc tế. Tình hình đó đòi hỏi một sự hợp
tác ngày càng rộng tạo nên thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước dù lớn hay
nhỏ, phát triển hay đang phát triển. Trong lịch sử phát triển của xã hội có lẽ
chưa bao giờ có một sự hợp tác để phát triển rộng rãi đan xen lồng ghép và
nhiều tầng lớp như hiện nay với sự hình thành nhiều tổ chức kinh tế như
ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam á), WTO (tổ chức thương mại thế
giới) AFTA, EU,
Đối với các khu vực, Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam á, Châu
á Thái Bình Dương, một khu vực được coi là có nền kinh tế năng động và có
tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới trong những năm gần đây. Hầu hết các
nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan, Inđônêsia đều đã tiến hành
nền KTTT được mấy thập kỷ và một số nước đã trở thành các nước công
nghiệp mới (NIC).
Như vậy thế giới và khu vực đã phát triển vượt ta khá xa về mọi mặt
đặc biệt là về kinh tế. Vì thế đã đặt ra cho Việt Nam nhiều thách thức trong
qúa trình phấn đấu xây dựng và cải tiến nền KTTT định hướng XHCN.
2. Thực trạng quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt
Nam dưới tác động của những điều kiện cụ thể
2.1 Giai đoạn 1986 - 1991
Đây là giai đoạn đầu chúng ta chuyển sang nền KTTT. Do chưa nhận
thức được đầy đủ những yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nên ta đã
có một số chính sách chưa đúng.
Một chính sách sai lầm trong giai đoạn này là tập trung công nghiệp
hoá - hiện đại hoá theo hướng ưu tiên cho công nghiệp nặng. Đây là một sai
lầm nghiêm trọng đã làm mất rất nhiều thời gian, tốn rất nhiều tiền bạc bởi
lúc này với xuất phát điểm và kinh tế rất thấp, cơ sở vật chất, công nghệ còn
2.2Giai đoạn 1991 đến nay
Giai đoạn này, do đã dần điều chỉnh phù hợp với những điều kiện,
nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến nền KTTT nên kinh tế Việt Nam đã đạt được
một số thành tựu đáng kể:
Điều đầu tiên cần nói đến là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương
đối ổn định. Giai đoạn 1986 - 1990, GDP tăng trung bình 3,9% thì đến giai
đoạn này GDP tăng bình quân 8,2%. Cơ cấu giữa các thành phần kinh tế và
các ngành cũng hợp lý hơn. Hàng loạt các công ty, doanh nghiệp tư nhân
hoạt động trong mọi lĩnh vực đã ra đời. Dịch vụ thương mại phát triển tương
đối mạnh đã tạo điều kiện cho việc sản xuất hàng hoá, làm cho số lượng
hàng hoá phong phú hơn và chất lượng không ngừng được cải tiến. Giao
thông vận tải được chú trọng sửa chữa và xây mới nên hàng hoá đã đến được
các vùng sâu, vùng xa và miền núi.
Một thành tựu quan trọng nữa là trong điều kiện nền kinh tế thế giới
với sự cạnh tranh rất khốc liệt gây ra sự phân cực giàu nghèo mạnh mẽ với
nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, Đảng ta kịp thời rút kinh
nghiệm và đã có những đường lối, chính sách định hướng cho nền kinh tế
phát triển theo đúng định hướng XHCN, hướng thị trường hàng hoá vào ưũy
đạo cạnh tranh lành mạnh cùng phát triển. Chính vì vậy nền KTTT của ta
chẳng những không xảy ra khủng hoảng mà còn tránh được ảnh hưởng tiêu
cực từ những cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước trong khu vực và thế giới
mà cụ thể là cuộc khủng hoảng tiền tệ vào năm 1997. Tuy nhiên nền kinh tế nước
ta so với khu vực và thế giới vẫn là một nền kinh tế kém phát triển, cần có nhiều
biện pháp để phát triển theo kịp các quốc gia khác.
KTTT đã ra đời và phát triển qua nhiều gia đoạn và cho đến bây giờ
nó vẫn là kiểu kinh tế xã hội tiến bộ nhất. Trải qua các giai đoạn phát triển,
KTTT ngày càng được hoàn thiện và được áp dụng trên nhiều quốc gia. Nền
KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam mặc dù mới ra đời cách đây hơn một
thập kỷ nhưng cũng đã trải qua nhiều thăng trầm, không ngừng vận động và
tăng trưởng kinh tế, bảo đảm nguồn nhân lực thông qua hệ thống giáo dục đào tạo,
bảo đảm y tế, nâng cao trình độ văn hoá cho người lao động. Giữ vững an ninh, trật
tự xã hội, củng cố sự nghiệp quốc phòng an ninh nhằm ngăn chặn mọi thế lực phản
động phá hoại trong và ngoài nước; Tích cực cải tạo xã hội, xoá bỏ các tệ nạn xã hội
như tham nhũng, nghiện hút, mại dâm, ma tuý, hạn chế ô nhiễm môi trường, giữ
vững sự cân bằng sinh thái. Muốn vậy cần nâng cao nhận thức con người trong việc
bảo vệ giữ gìn cuộc sống của chính họ; vận dụng sáng tạo, không rập khuôn các mô
hình KTTT trên thế giới; Có phương hướng kết hợp định hướng XHCN với tăng
trưởng kinh tế trong những năm tới.
C. kết luận
Với việc áp dụng quan điểm lịch sử cụ thể vào công cuộc đổi mới kinh
tế ở Việt Nam, chúng ta đã có được một nền kinh tế thị trường năng động,
một nền kinh tế theo định hướng XHCN với những thành tựu hết sức to lớn:
Nhịp độ bình quân hàng năm về sản phẩm quốc nội trong 5 năm 1991 -1995
là 8,5%, nhịp độ tăng bình quân hàng năm về sản xuất công nghiệp là 13,3%,
sản xuất nông nghiệp là 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20%. Cơ cấu kinh tế có
bước chuyển đổi tích cực: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ
22,7% năm 1990 lên 30,3% năm 1995, tỷ trọng dịch vụ từ 38,6% lên 41,5%.
Bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế. Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội tăng
từ 15,8% GDP năm 1990 lên 27,7% năm 1995. Lạm phát bị đẩy lùi từ 67,1%
năm 1991 xuống 12,4% đầu năm 1995. Quan hệ sản xuất được điều chỉnhphù
hợp hơn với yêu cầu của lực lượng sản xuất. Số hộ có thu nhập trung bình số
hộ giàu tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn Mục lục
Trang
A. Đặt vấn đề
1
Nội dung 3
I. Quan điểm lịch sử cụ thể 3
1- Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể 3
2- Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể. 3
3- Tại sao phải vận dụng quan điểm lịch sử vào quá trình xây
dựng nền KTTT định hướng xhcn ở Việt Nam.
4
II.Quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN dưới góc
nhìn của quan điểm lịch sử cụ thể.
5
1-Những điều kiện cụ thể ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nền
KTTT định hướng XHCN.