Tài liệu TIỂU LUẬN: Phép biện chứng về mâu thuẫn và việc phân tích mâu thuẫn giữa xây dựng kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế doc - Pdf 10

TIỂU LUẬN:

Phép biện chứng về mâu thuẫn và
việc phân tích mâu thuẫn giữa xây
dựng kinh tế độc lập tự chủ với hội
nhập kinh tế quốc tế
Lời nói đầu

Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật luôn luôn xẩy ra mâu
thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa các yếu tố trong bản thân sự vật hay mâu thuẫn giữa
các sự vật với nhau. Triết học Mác-Lênin đã chỉ ra, mâu thuẫn là một tất yếu khách
quan, mang tính phổ biến và có đa dạng các loại mâu thuẫn. Xác định đúng từng
loại mâu thuẫn sẽ cho phép con người tìm ra được những giải pháp phù hợp, tối ưu
để giải quyết mâu thuẫn, tạo điều kiện thúc đẩy sự vật phát triển. Từ lí luận mâu
thuẫn, ta xem xét mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập
kinh tế quốc tế.
Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế tất yếu khách quan trong giai đoạn hiện nay,
xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên
quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu


Phần I
Phép biện chứng về mâu thuẫn

1. Khái niệm về mâu thuẫn
Mâu thuẫn của sự vật, của thế giới đã được rất nhiều nhà triết học trong lịch
sử bàn đến. Chẳng hạn, thuyết âm dương ngũ hành của Trung Hoa đã đề cập tới các
mâu thuẫn Âm – Dương, mâu thuẫn giữa các yếu tố bản nguyên Kim, Mộc, Thuỷ,
Hoả và Thổ. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Hêraclít cũng nhẫn mạnh mâu thuẫn của

Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, các
mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự
phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật. Nó tồn tại gắn liền với sự vật từ khi sinh
ra cho đến khi sự vật kết thúc.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào
đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó của sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự vật. Mâu thuẫn
cơ bản là cơ sở hình thành và chi phối các mâu thuẫn khác trong quá trình phát triển
của sự vật. Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi về chất.
Mâu thuẫn không cơ bản tồn tại bao giờ cũng gắn liền với mâu thuẫn cơ bản, và
trong quá trình vận động, mâu thuẫn cơ bản có thể làm nảy sinh mâu thuẫn không
cơ bản.
* Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Dựa vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật
trong một giai đoạn nhất định, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu
và mâu thuẫn thứ yếu.
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn phát triển
của mọi sự vật. Nó có tác dụng quyết định đến các mâu thuẫn khác tồn tại trong
cùng sự vật ở giai đoạn đó.
Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định đối với quá
trình phát triển của sự vật.
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong đó, mâu thuẫn chủ yếu là biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn cơ bản ở một giai
đoạn nhất định. Do đó, việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu chính là từng bước giải
quyết mâu thuẫn cơ bản.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu cũng có thể chuyển hoá cho nhau trong


Trong giai đoạn hiện nay, cũng như trong tương lai xa hơn, hội nhập kinh tế
quốc tế đối với Việt Nam có nghĩa là Việt Nam phải tham gia các tổ chức kinh tế
quốc tế và khu vực như AFTA, APEC, WTO,…, phát triển các quan hệ thương mại
và đầu tư rộng rãi với mọi quốc gia, đặc biệt là các trung tâm kinh tế thế giới, mở
rộng sự hợp tác với các công ty xuyên quốc gia. Phát triển các mối quan hệ này sẽ
dẫn đến một kết cục là: các hàng rào thuế quan và phi thuế quan phải giảm thiểu
theo các nguyên tắc của các tổ chức trên, các công ty nước ngoài được phép vào
Việt Nam hoạt động một cách bình đẳng với các công ty Việt Nam và ngược lại các
công ty Việt Nam cũng được phép hoạt động bình đẳng tại các nước đối tác. Trong
điều kiện đó việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ nên được hiểu như thế
nào là thích hợp. Liệu có mâu thuẫn giữa hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng
kinh tế độc lập tự chủ?
Trước hết, ta phải hiểu bản chất của nền kinh tế độc lập tự chủ. Có hai
cách hiểu sau:
Thứ nhất, nền kinh tế độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế hướng nội.
Mô hình kinh tế độc lập tự chủ hướng nội là một nền kinh tế có khả năng tự
đảm bảo các nhu cầu của đất nước, càng nhiều càng tốt. Một cơ cấu hoàn chỉnh,
hoặc tương đối hoàn chỉnh là quốc sách của mô hình này. Trong đó những ngành
công nghiệp nặng, đặc biệt là những ngành công nghiệp nền tảng gồm năng lượng,
sản xuất các nguyên liệu cơ bản như sắt thép, hoá chất, lọc dầu, xi măng,…được
đặc biệt chú trọng từ đầu. Quan điểm cơ cấu ngành của nền kinh tế độc lập tự chủ
theo mô hình này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tự đảm bảo các nhu cầu
trong nước, dù phải chịu những bất lợi về hiệu quả, và hầu như không tính tới
những lợi thế so sánh quốc tế. Ưu tiên hàng đầu là không phụ thuộc vào bên ngoài.
Với những chính sách này đã gây ra những tác hại to lớn: Nó làm tăng giá
các hàng hoá trong nước gây thiệt hại cho người tiêu dùng; Duy trì bảo hộ tình
trạng lạc hậu về công nghệ tổ chức quản lý; Chính sách bảo hộ cao đã làm méo mó
môi trường đầu tư; Hạn chế việc mở rộng thị trường.
Một nền kinh tế độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế hướng nội có một đặc trưng

Bên cạnh mặt tích cực, toàn cầu hoá kinh tế cũng đưa lại không ít mâu
thuẫn. Cụ thể là:
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài, có
nhiều vốn đầu tư đổ vào thì nền kinh tế mới có điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng
hiện đại, mới có điều kiện đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cao năng suất lao
động. Tuy nhiên, vốn đầu tư từ nước ngoài bao giờ cũng gắn với những điều kiện
nhất định, như điều kiện về mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng, thời gian sử
dụng,…Như vậy là nước nhận đầu tư đã phần nào bị chi phối, bị khống chế về kinh
tế, chính trị bởi chủ đầu tư. Và từ đó làm nảy sinh mâu thuẫn bên ngoài giữa nước
nhận đầu tư và nước chủ đầu tư, nước nhận đầu tư mất tính độc lập. Hơn nữa, nếu
sử dụng không đúng nhu cầu của nền kinh tế hay sử dụng không có hiệu quả thì nền
kinh tế không những không phát triển mà còn bị khủng hoảng, mất cân đối. Nghĩa
là ảnh hưởng đến tính tự chủ về kinh tế của nước nhận đầu tư.
- Toàn cầu hoá, tức hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ dần, các
công ty được tự do cạnh tranh bình đẳng trên toàn thế giới. Lúc đó, ở những nước
kém phát triển, do các công ty làm ăn kém hiệu quả, sức cạnh tranh yếu nên dần
dần sẽ bị phá sản, giải thể. Hàng hoá ngoại nhập chiếm lĩnh thị trường nội địa, nền
kinh tế bị lệ thuộc vào nước ngoài. Dẫn đến nước yếu thế trong cạnh tranh sẽ bị mất
quyền tự chủ.
- Toàn cầu hoá, nghĩa là sẽ hình thành các thể chế kinh tế toàn cầu. Các quốc
gia thành viên phải áp dụng và thi hành hệ thống luật pháp quốc tế, các quan hệ tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển. Do đó, độc lập, tự chủ về
kinh tế chỉ mang tính tương đối.
-Những nước nghèo sẽ ngày càng nghèo hơn do bị thiệt thòi vì những quy
định bị áp đặt từ những nước lớn. Đồng thời, những nước nghèo và kém phát triển
nếu không nhanh chóng tạo ra được một thiết chế kinh tế tương hợp với thiết chế
kinh tế khu vực và toàn cầu, không có khả năng cạnh tranh và hội nhập thực sự thì

Thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, phải đủ mạnh, đủ tạo ra một môi trường
đầu tư, kinh doanh thuận lợi, chi phí thấp, rủi ro thấp, khả năng sinh lợi lớn.
Cơ cấu kinh tế gồm những ngành có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng tự
điều chỉnh, tự rút lui khỏi những ngành kém khả năng cạnh tranh.
Cơ cấu doanh nghiệp cũng phải bao gồm những doanh nghiệp có sức mạnh
công nghệ và trí lực, đủ sức cạnh tranh trên thương trường trong nước và quốc tế.
Nguồn nhân lực trong nước phải được đào tạo tốt và phát triển, sử dụng có
hiệu quả.
Biểu hiện tập trung của sức cạnh tranh của nền kinh tế là ở chất lượng và giá
thành của sản phẩm và dịch vụ của đất nước. Nếu sản phẩm và dịch vụ của một
quốc gia có giá thành cao, chất lượng thấp, thì sẽ không tiêu thụ được ở cả thị
trường trong nước và bên ngoài. Kết cục sẽ dẫn đến là nền kinh tế của quốc gia đó
sẽ lâm vào suy thoái, khủng hoảng, tụt hậu kéo dài. Trong điều kiện đó khó có thể
nói đến độc lập và tự chủ. Còn như một nền kinh tế làm ra các sản phẩm và dịch vụ
chất lượng cao, giá lại thấp, có thể chiếm lĩnh cả thị trường trong nước và quốc tế,
tạo ra thu nhập ngoại tệ, dự trữ ngoại tệ lớn, có thể nhập khẩu nhiều loại hàng hoá
và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu trong nước. Một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao
như vậy trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay là một nền kinh tế có tính độc lập
và tự chủ cao.
Thứ ba, có khả năng ứng phó có hiệu quả với những chấn động chính trị,
kinh tế, xã hội bên ngoài.
Những chấn động bên ngoài có thể là: một cuộc chiến tranh từ bên ngoài tới, một
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực hay thế giới,…Chiến lược tốt nhất của một quốc
gia là cố tránh tham gia những cuộc chiến tranh ở bên ngoài và tránh để xẩy ra xung
đột và chiến tranh ở trong nước. Còn một khi chiến tranh đã bùng nổ, đã tham
chiến, thì nhất định đất nước sẽ bị tàn phá nhất là trong điều kiện chiến tranh hiện
đại ngày nay. Song một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao, có dự trữ ngoại tệ lớn, sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status