Tài liệu Văn hóa Việt Nam thế kỷ X - XIV - Pdf 10

TÌNH HÌNH VĂN HOÁ – XÃ HộI ở CÁC THế Kỷ X- XIV
I. Sự phân hoá xã hội
Từ thời Bắc thuộc, sự phân hoá xã hội theo hướng phong kiến Trung Quốc đã diễn ra,
nhưng chỉ được đẩy mạnh trong các thế kỷ thời Lý - Trần. Dần dần hình thành những giai
cấp chính của xã hội mới.
Giai cấp thống trị bao gồm các vương hầu, quý tộc, quan lại cao cấp và một bộ phận địa
chủ quan chức hoá. Chính sách phong cấp thái ấp, khuyến khích khẩn hoang lập nghiệp,
những chính sách ưu đãi của Nhà nước v.v…đã tạo điều kiện cho những người này trở
thành lãnh chúa, địa chủ, với chủ trương của Nhà nước “ai có quan tước mà con cháu
được tập ấm mới được ra làm quan, còn nếu người nào nhà giàu, khỏe mạnh mà không có
quan tước thì đời đời làm dân”, giai cấp thống trị hầu như trở thành một bộ phận đóng
kín, mặc dầu sự phát triển của giáo dục, khoa cử cùng nhu cầu nâng cao trình độ học vấn
của quan chức có làm giảm dần sự đóng kín đó.
Giai cấp bị trị bao gồm đông đảo nhân dân thuộc nhiều tầng lớp khác nhau như địa chủ,
nông dân, thợ thủ công, thương nhân. Làng xã vẫn là tế bào kinh tế- xã hội cơ bản, mang
trong mình khá nhiều tàn dư của xã hội nguyên thuỷ. Giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại
đa số trong cư dân và là lực lượng sản xuất chủ yếu, là những người gánh chịu mọi trọng
trách của xã hội: làm ruộng, đóng thuế, đi lính, lao dịch, chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Những
thế kỷ XI- XIV, nhất là trong buổi đầu các triều đại, cuộc sống của người nông dân còn
tương đối ổn định. Từ thế kỷ XIV, sự phân hoá giàu nghèo trong họ gia tăng, làm lên tình
trạng “dân gian nhiều người du đãng, đến già cũng không có tên trong sổ, không chịu
thuế dịch, sai phái tạp dịch không đến chơi”. Nhiều cuộc tranh đòi chẩn cứu cho dân
nghèo” đã bùng nổ.
Số lượng thợ thủ công không nhiều. Ngoài những người sống và làm ăn ở các phường
của Thăng Long, có một số sống rải rác ở các làng, làm nghề thủ công phục vụ dân làng
mình là chính. Đã xuất hiện một vài làng thủ công nhưng người thợ ở đây vẫn gắn bó với
đồng ruộng.
Thương nhân ngày càng nhiều nhưng ít người chuyên buôn bán để sống. Nhờ buôn bán
với thương nhân nước ngoài hay buôn bán lương thực, từ giữa thế kỉ XIV đã xuất hiện
nhiều nhà giàu có. Trần Dụ Tông (1341- 1369) đã từng chiêu tập các nhà buôn giàu ở
Đình Bảng (Bắc Ninh) Nga Đính (Hà Tây) vào cung đánh bạc “có tiếng đặt gần 300

Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo được truyền vào nước ta từ thời Bắc
thuộc.
Phật giáo sớm phổ cập trong nhân dân và đạt mức cực thịnh ở các thế kỉ XI - XIII. Chùa
chiền mọc lên ở nhiều nơi. Từ thời Đinh - Tiền Lê, một số nhà sư như Ngô Chân Lưu,
Pháp Thuận, Vạn Hạnh.v.v đã tham gia tích cực vào việc xây dựng chính quyền. Sớm
mang nặng tư tưởng sùng Phật, Lý Công Uẩn mới lên ngôi, đã cho dựng nhiều chùa, cấp
độ điệp cho hàng ngàn người làm sư, hàng ngàn lạng vàng, bạc thuê thợ đúc chuông lớn
đặt ở các chùa khiến nhà sử học Lê Văn Hưu ở thế kỉ XIII đã nhận xét: ''Lý Thái Tổ lên
ngôi mới được hai năm, tôn miếu chưa dựng, xã tắc chưa lập mà đã dựng 8 chùa ở phủ
Thiên Đức, lại sửa chùa quán ở các lộ, cấp độ điệp cho hơn 1000 người ở kinh sư làm
tăng
Các vua nhà Lý kế nghiệp cũng không ngừng cho xây dựng chùa chiền, đúc chuông, tô
tượng, cho người sang nhà Tống xin kinh Phật, biến các chùa thờ Phật thành nơi cầu đảo,
làm lễ tạ ơn khi chiến thắng quân xâm lược, lễ đại xá Quý tộc, quan lại, nhân dân theo đó,
xây dựng chùa chiền ở khắp nơi, bia chùa Linh Xứng đã ca ngợi: "Từ khi đạo Phật truyền
sang nước ta đến nay đã hơn 2000 năm mà việc phụng thờ ngày càng thêm mới. Hễ
những chỗ nào núi cao, cảnh đẹp đều mở mang để lập chùa chiền, như thế nếu không
phải là nhờ bậc vương công, đại nhân giúp đỡ xây dựng thì làm sao nên được''. Thừa
nhận thực tế đó, nhà sử học Lê Văn Hưu viết: " cho nên đời sau mới xây tường cao ngất
trời, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa thờ Phật lộng lẫy hơn cả cung điện của vua. Rồi
người dưới bắt chước, kẻ hủy cả thân thể, đổi lối mặc bỏ sản nghiệp, trốn thân thích,
nhân dân quá nửa làm sư, trong nước chỗ nào cũng có chùa.
Phật giáo tiếp tục phát triển ở thời Trần, mặc dầu có phần hạn chế hơn. Các vua đầu thời
Trần đã tìm đến cửa Phật, Trần Nhân Tông thực sự vứt bỏ áo bào, cạo đầu, trở thành một
vị sư danh tiếng. Đầu thế kỉ XIV, nhà Nho Trương Hán Siêu đã kêu lên: "thiên hạ năm
phần thì sư tăng chiếm một”; đến giữa thế kỉ đó, nhà Nho Lê Quát than thở: "nhà Phật lấy
họa phúc để cảm động lòng người, sao mà được người tin theo lâu bền như thế! Trên từ
Vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật đến hết tiền của cũng
không xẻn tiếc chỗ nào có người ở tất có chùa Phật, bỏ đi rồi lại dựng lên, nát đã rồi lại
sửa lại lâu đài chiêng trống chiếm đến nửa phần so với dân cư" (bia chùa Chiêu Phúc).

Bài ''Phật tâm ca'' của Tuệ Trung thượng sĩ có đoạn:
Phật, Phật, Phật bất khả biến
Tâm, Tâm, Tâm bất khả thuyết
Nhược tâm sinh thời thị Phật sinh Nhược Phật diệt thời thị tâm diệt Diệt tâm tồn Phật thị
xứ vô
Diệt Phật tồn tâm hà thời yết
(Nghĩa là phật không thể biến được Tâm không thể nói được tâm
Tâm sinh thì Phật cũng sinh
phật diệt ắt tâm cũng mất
Không đâu tâm diệt mà còn phật
Chẳng lúc nào Phật diệt mà còn tâm)
Trần Nhân Tông cũng nói:
''Chỉn Bụt là lòng, sá ướm hỏi đòi cơ Mã tổ"
Từ đó mà có quan niệm, ''lấy tâm truyền tâm, không dùng văn tự", "Phật ở trong lòng,
lòng lặng lẽ và sáng suốt, đó chính là chân Phật", nghĩa là ''giác ngộ được bản tâm'' có thể
thành Phật. Một khi lòng đã giác ngộ, thanh tĩnh thì cũng
''Chẳng còn bị thử, tranh nhân chấp ngã
Trần duyên rũ hết, thị phi chẳng nề
Thân này chẳng quản bữa đói bữa no
Công danh chẳng trọng, phú quý chẳng màng…
(Trần Nhân Tông)
Và lúc ấy, dù là vua quan, đại thần, thừa tướng hay quốc sư, cư sĩ đều có thể thành phật.
Tóm lại, Thiền Trúc Lâm lấy sự giác ngộ trong lòng làm gốc, mong muốn đưa Phật đến
mọi nhà, mọi người đồng thời cũng gắn Phật với cuộc sống thực tại, với vận mệnh dân
tộc.
Trân Nhân Tông được xem là vị tổ thứ nhất của Phật Trúc Lâm. Người kế tục là sư Pháp
Loa và sau đó là sư Huyền Quang…
Tuy nhiên công cuộc xây dựng một nhà nước theo mô hình Hán- Đường, việc tiếp xúc
thường xuyên với nền văn minh Trung Hoa và sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc đã
không cho phép Phật giáo- dù là phái Trúc Lâm, phát triển thành quốc giáo. Các vua

Trường 2: Thi thơ phú
Trường 3: Thi chế, chiếu, biểu.
Trường 4: Thi văn sách
Kỳ thi Hương ở địa phương cũng bắt đầu được tổ chức. Các sách học chính cũng được
quy định: Ngũ kinh, Tứ thư, Bắc sử…
Những người đỗ đạt được bổ vào các chức ở viện Hàn lâm, các, cơ quan hành khiển,
sung vào các phái bộ sứ thần hay tiếp sứ Trung Quốc. Dần dần họ trở thành một bộ phận
quan trọng trong bộ máy nhà nước, đặc biệt ở thời Trần Nhiều người trong số đó đã đóng
góp quan trọng vào công cuộc ngoại giao cũng như chính trị, như Nguyễn Hiền, Mạc
Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm sư Mạnh, Lê Quát
Trong nhân dân, Nho học cũng từng bước phát triển. Ban đầu các nhà chùa là nơi dạy học
chữ nho, các sách kinh sử. Về sau, nhiều nhà nho, nhiều thái học sinh không làm quan, ở
nhà dạy học. Một trong những người thầy giáo xuất sắc hồi ấy là Chu Văn An.
Sự phát triển của giáo dục Nho học đã góp phần phổ cập Nho giáo trong nhân dân với các
quan niệm về tam cương, ngũ thường, trung quân. Truyền thống tôn sư trọng đạo cũng
hình thành. Tuy nhiên, Nho giáo phổ biến chủ yếu trong tầng lớp quan lại, các nho sĩ.
Nhân dân chỉ tiếp nhận những gì gần gũi với họ, góp phần củng cố những tục lệ cổ truyền
của họ. Vì vậy mà sứ thần nhà Nguyên sang Đại Việt vào cuối thế kỉ XIII đã nhận xét:
Hạ tục kiêu phù thạm
Trung Hoa lễ nhạc vô
(Nghĩa là “Tục dân rất nông nổi, không lễ nhạc Trung Hoa”)
Giữa thế kỉ VIV, nhà nho Lê Quát nhận xét “ta từng dạo xem núi sông dấu chân đi hằng
nửa thiên hạ mà tìm nhà học và văn miếu thì chẳng thấy đâu”.
Vì vậy, nảy sinh cuộc đấu tranh phê phán Phật giáo trong giới nho sĩ. Từ cuối thế kỉ XIII,
Lê Văn Hưu đã phê phán nhà Lý quá tôn sùng Phật giáo “tiêu phí của và sức dân vào việc
thổ mộc”. Sang thể kỉ XIV, Trương Hán Siêu viết bài kí tháp Linh Tế núi Dục Thúy
(Ninh Bình) cho là "Phật giáo mê hoặc chúng sinh phá hoại di luận, hao phí của cải,
nườm nượp mà đi, nhung nhúc mà theo, ít kẻ không phải là yêu ma gian tà" Bất bình vì
lắm kẻ "Trốn việc quan đi ở chùa", nhiều vị sư sa đọa, ông viết ở bài văn bia chùa Khai
Nghiêm: "một bọn giảo hoạt gian ngoan, mất hết cả bản ý khổ hạnh, không hư, chỉ ham

Tuy nhiên, cuộc sống sôi động cũng lôi kéo các nhà sư về với những nét đẹp của đất trời,
Nhà sư Mãn Giác đã viết: Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Cáo tật thị chúng)
(nghĩa là: Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước nở cành mai)
hoặc như nhà sư Quảng Nghiêm viết:
Nam nhi tự hữu xung thiên chí
Hữu hướng Như Lai hành xứ hành
(nghĩa là: Làm trai tự có chí xông lên, Sao chỉ biết làm theo đúng Như Lai)
Chúng ta cũng còn được đọc lời Chiếu dời đô đậm đà niềm tin vào sự tự cường của dân
tộc hoặc bài ''thơ thần'' ''Nam quốc sơn hà Nam đế cư" vốn được xem là bản Tuyên ngôn
độc lập đầu tiên ở giai đoạn hai, tuy văn học Phật giáo còn tiếp tục phát triển với nhiều
bài văn bia, tập Khóa hư lục của Trần Thánh Tông, các bài ngữ lục của Trần Nhân Tông,
Tuệ trung thượng sĩ ngữ lục V.V… nhưng cùng với sự phát triển của giáo dục, một dòng
văn học trần tục, yêu nước đã nổi lên làm rạng rỡ cho thơ văn một thời.
Bản thiên cổ hùng văn Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo có thể xem là áng văn mở đầu
cho dòng văn học đó. Ngày nay chúng ta không khỏi xúc động khi đọc lại những câu:
''Huống chi ta cùng các ngươi sinh ra vào lúc rối ren, lớn lên trong buổi hoạn nạn, thấy sứ
giả của giặc qua lại dọc ngang ngoài đường, khua tấc lưỡi cú vọ mà khinh rẻ triều đình,
đem cái thân chó dê mà ngạo mạn tể tướng, thác lệnh của Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa
để thoả lòng tham vô cùng…ta từng tới bữa quên ăn, nửa đêm đập gối, nước mắt giàn
giụa, lòng dạ như dần, vẫn căm giận muốn ăn thịt nằm da, nhai gan uống máu của giặc.
Dẫu trăm thây ta phơi ngoài bãi đồng, nghìn xác ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin
làm…” Đó là đạo lí làm người dân Việt trước hoạ xâm lăng của một kẻ thù hung bạo.
Và từ ý thức dân tộc kiên cường đó mà có những câu thơ của Trần Quang Khải
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ cựu giang san

(Lính già từng trải mùi chinh chiến, Nói đến nam chinh ủ mặt mày)
bên cạnh đó là hàng loạt bài thơ ca ngợi cảnh thiên nhiên, giàu đẹp của đất nước hay đầy
cảm xúc tự nhiên như: Đứng mãi nào hay ngày đã muộn
Khắp đồng lúa tốt tựa mây xanh (Thơ Bùi Công Quán, dịch) hoặc: Ruộng xanh như gấm
nay lại thấy Mây phủ nhà vua mất lối đi (Dịch thơ Phạm Sư Mạnh) hoặc: Sáng dậy mở
cửa sổ Xuân đi nào có hay
Một đôi bươm bướm trắng
Phất phới lướt hoa bay
(dịch thơ Trần Nhân Tông)
Vào nửa sau thế kỉ XIV, cùng với sự suy thoái của nhà Trần, xuất hiện những nhà thơ
Trần Nguyên Đán, Chu An, Nguyễn Phi Khanh với những bài, thấm đượm tình thương
yêu nhân dân, thông cảm với cuộc sống khổ cực của nhân dân. Một thành tựu lớn của
thời kì này là sự sáng tạo ra chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán. Không lâu sau khi ra đời, chữ
Nôm là được hoàn thiện dần và được dùng để sáng tác thơ văn, xuất hiện những nhà thơ
nôm nổi tiếng như Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố, Hồ Quý Ly Sử cũ cũng từng ghi,
khi vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chămpa, nhiều người đã
"làm thơ Nôm để chê cười Thời Lý- Trần cũng để lại nhiều văn bia dài, nhiều bài phú
"lưu loát, đẹp đẽ'' như Đông hồ bút, Trảm xà kiếm, Ngọc tỉnh liên,Thiên Hưng trấn
Ngoài ra thể loại truyện cũng ra đời như Báo cực truyện, Việt điện u linh, Lĩnh nam chích
quái, Nam ông mộng lục
Với ý thức dân tộc sâu sắc, nhân dân Đại Việt không chỉ xây dựng cho mình một nền văn
học phong phú mà còn cả một nền nghệ thuật đặc sắc. Các công trình xây dựng từ cung
điện của vua đến dinh thự của các quan lại, đền đài, chùa quán nhiều không kể xiết, mặc
dầu di tích còn lại không nhiều. Năm 984, Lê Đại Hành ''làm điện Bách bảo thiên tuế ở
núi Đại Vân, cột điện dát vàng làm nơi coi chầu, bên đông là điện Phong lưu, bên tây là
điện Tử hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên hữu là điện Cực lạc Năm 1010, Lý Thái tổ
dời đô về Thăng Long, ở cung thành "Phía trước dựng điện Càn Nguyên làm chỗ coi
chầu, bên tả làm điện Tập Hiền, bên hữu làm điện Giảng Võ đều có thềm rồng, bên
trong thềm rồng có mái cong, hàng hiên bao quanh 4 mặt. Sau điện Càn Nguyên dựng hai
điện Long An và Long Thụy làm nơi nghỉ ngơi''. Lý Thái Tông làm thêm điện Tuyên

Âm nhạc, sân khấu đều phát triển, Ban đầu âm nhạc Việt Nam chịu ảnh hưởng ít nhiều
của nhạc Chăm. Năm 1060, Lý Thánh Tông đã cho dịch các khúc nhạc Chămpa và cho
nhạc công ca hát. Về sau ảnh hưởng của nhạc phương Bắc tăng lên. Sử liệu cũ còn ghi lại
các khúc “Nam thiên nhạc”, “Ngọc lâu xuân”, “Mộng du tiên”, những bài hát “Trang chu
nằm mộng hoá ra con bướm”, “Bạch lạc thiên mẹ li biệt con”v.v…Nhà nước có kép hát,
đào nương. Sứ giao tập của Trần Cương Trung (cuối thế kỉ XIII) mô tả lễ yến ở điện Tập
hiền “tiếng hát tiếng đàn hoà lẫn nhau…” hoặc “mỗi lần rót rượu lại hô to lên rằng:
“Phường nhạc tấu khúc nhạc” thì dưới giải vũ lại tấu nhạc theo luôn với những khúc như
Giáng Châu Long, Nhập hoàng đô…âm điệu cũng giống âm điệu cổ nhưng ngắn hơn…”
Nhạc cụ có trống cơm, tiêu, não bạt, sáo, đàn cầm, đàn tranh, đàn tì bà, đàn 7 dây, đàn hai
dây, đàn bầu…
Nhảy múa thường được tổ chức ở cung đình cũng như trong nhân dân. Ngoài ra, nghệ
thuật chèo, tuồng rất phát triển. Chèo hát là sinh hoạt được các quý tộc ham thích. Cùng
với chèo, hề cũng phổ biến. Sau kháng chiến chống Nguyên, tuồng cũng xuất hiện với
nghệ nhân người Tống là Lý Nguyên Cát. Múa rối là một ngành nghệ thuật đặc sắc.
Cùng với âm nhạc, sân khấu, các ngày lễ hội trong nhân dân cũng có nhiều trò vui chơi,
đua tài như leo dây, vật, đua thuyền, trò chơi tang cưu, ném còn, đánh cầu…Trò “vật cù”
của Phạm Ngũ Lão rất được ham chuộng:
Hai bên tranh lấy quả cầu
Dân an quốc thái sống lâu vững bền.
Tóm lại sự phát triển của văn học nghệ thuật phong phú, đa dạng, đã tạo nên một bộ phận
quan trọng của nền văn minh Đại Việt đương thời.
- Khoa học - kỹ thuật:
Công cuộc xây dựng đất nước và củng cố nền đôc lập dân tộc sớm làm nảy sinh nhu cầu
ghi chép lịch sử. Các nhà nước Lý- Trần đều có Viện quốc sử chuyên ghi chép những
hoạt động của nhà nước - chủ yếu của vua. Nguồn sử liệu cũ đã nhắc đến sách sử của Đỗ
Thiện thời Lý, tuy nhiên, bộ sử chính thống đầu tiên chỉ ra đời ở thời Trần. Theo lệnh của
vua, năm 1272, nhà sử học- quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu đã soạn xong bộ Đại Việt
sử kí 30 tập, viết lịch sử nước ta từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu Hoàng. Bộ sử này không
còn nữa, chỉ được nhắc đến trong các bộ sử thời Lê. Tiếp theo, một số người đã viết thêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status