z
1
Tiểu Luận
Ô nhiễm môi
trường đất do
nhiễm phèn
2
Mục Lục
Bài tiểu luận
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT DO NHIỄM PHÈN
Mở đầu
Ô nhiễm môi trường đang là mối đe dọa của tất cả loài người chúng ta. Có thể nói
rằng ‘Bà mẹ thiên nhiên đang kêu cứu chúng ta, muốn chúng ta hãy có những
hành động tốt để cứu lấy môi trường chúng ta đang sống.Và để tìm ra biên pháp tốt
nhằm bảo vệ và cứu lấy môi trường trước hết chúng ta phải tìm ra nguyên nhân
gây ra ô nhiễm môi trường. Có rất nhiều loại ô nhiễm môi trường và mỗi loại lại
xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.Sau đây chúng tôi xin đưa ra một loại ô
nhiễm môi trường mà tôi nghĩ nó rất gần với chúng ta đó là ô nhiễm môi trường
đất. Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm này có từ rất lâu nhưng nó lại rất mới
so với chúng ta đó chính là ô nhiễm đất do đất bị nhiễm phèn.
3
I: Khái niệm ô nhiễm môi trường đất
1.Định nghĩa môi trường đất
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là
nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
CO
2
, H
2
S. FeS, )
* Nhân tạo:
- Chất thải công nghiệp: khai thác mỏ, sản xuất hóa chất, nhựa dẻo,
nylon, các loại thuốc nhộm, các kim loại nặng tích tụ trên lớp đất mặt làm đất
bị chai, xấu, thoái hóa không canh tác tiếp được.
4
- Chất thải sinh hoạt:
+ Rác và phân xả vào môi trường đất: rác gồm cành lá cây,rau, thức ăn
thừa , vải vụn , gạch ,vữa, polime, túi nylon
+Rác sinh hoạt thường là hỗn hợp của các chất vô cơ và hữu cơ độ ẩm
cao nhiều vi khuẩn vi trùng gây bệnh.
+Nước thải sinh hoạt theo cống rãnh đổ ra mương và có thể đổ ra đồng
ruộng kéo theo phân rác và làm ô nhiễm đất
- Chất thải nông nghiệp:
+ Phân và nước tiểu động vật
+ Sử dụng dư thừa các sản phẩm hóa học như phân bón hóa học, chất
kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, tồn tại lâu trong đất, tích tụ sinh
học, thay đổi cân bằng sinh học giữa đất và cây trồng
+ Lan truyền từ môi trường đã ô nhiễm (không khí, nước), từ xác bã
thực, động vật
Để phân loại ô nhiễm môi trường đất có thể dựa theo các tác nhân gây ô
nhiễm có:
• Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng
phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho
hữu cơ v.v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ
axit v.v ).
2-
xuất hiện nhiều và linh động. Làm
rễ cây không hút chất dinh dưỡng(Al). Fe làm cho rễ chặt không hô
hấp được. chúng ta điều biết Al có tương quan nghịc với giá trị pH. ở
nông độ 1-2 ppm đã có tác động xấu với cây trồng. khi đất bị phèn
nặng, pH thấp,Al tích trữ trong các mô rễ ngăn chặn sự kéo dài và
phân chia của tế bào, ức chế hoạt động của các enzim làm nhiễm xuc
tác cho việc tổng hợp các chất trong vách tế bào, làm cho bộ rễ của
cây cằn cỗi, long hút rụng, phát triển không bình thường và dẫn đến
chết.
Độc tố Fe(Fe
2+
, Fe
3+
): khi pH trong đất giảm, Fe
2+
được giải
phóng ra gây độc cho cây- đặc biệt nó có thể lan truyền ra những
khu vực rộng lớn xung quanh. Theo một số tác giả Fe
2+
150 –
200ppm đã gây độc cho lúa, đồng thời ảnh hưởng đến sự sống của
6
các sinh vật trong vùng và ở nồng độ Fe
2+
= 500ppm nhiều cây trồng
không sống được.
Độc tố H
2
: đang bị ô nhiễm
Nhiều NO
3
: sạch (đã được cung cấp)
Chỉ số vệ sinh
Nitơ anbumin của đất (N thuộc cơ thể vi sinh vật)
CSVS=
N hữu cơ của đất
- Môi trường ô nhiễm => chỉ số vệ sinh giảm vì hoạt động sinh vật
giảm → N
2
trong anbumin giảm.
- Đất bị ô nhiễm => vi sinh vật hoạt động yếu=> N hữu cơ tăng chỉ số
vệ sinh giảm
7
- Trong y tế ta có:
Chỉ số vệ sinh tình trạng ô nhiễm
<0,7 mạnh
0,7-0,85 trung bình
0,85-0,98 yếu
>0,98 sạch(không ô nhiễm)
2.2.4 Kết quả phân tích hàm lượng
* Hàm lượng Clo để đánh giá:
- Ít Clo: tốt
- Nhiều clo: bẩn xấu
• xét nghiệm vi sinh vật:
- Chỉ tiêu về bệnh tật. dựa vào số lượng vi sinh vật mà chủ yếu
là trung bình vi sinh khuẩn (tiểu trung bình/1g đất) người ta
phân tích thấy:
- 1-2,5 triệu : đất không có vấn đề
thuộc vào bản chất đố, tuỳ thuộc vào môi trường nó hoạt động, dạng
nó tồn tại và đối tượng nó gây độc. có thể không độc hoặc chưa độc
cho một cây nào đó nhưng lại độc, thậm chí gây chết cho một cây
trồng khác.
Ví dụ: NH
4
là một chất dinh dưỡng cho cây trồng tuy nhiên khi hàm
lượng trong đất vượt quá 1/500 lại gây độc cho các loại cây trồng. hay
Mn
+2
có hàm lượng vượt quá 1-10
+2
% trong tro thực vật thì gây độc
cho một số loại cây.
• Mỗi loại giống lúa và giai đoạn sinh trưởng của chúng đều có khả
năng chịu đựng mức độ độc tố khác nhau. Nhưng theo nhiều kết
quả nghiên cứu của các tác giả trong nước với nước ngầm, nhìn
chung mức độ chịu đựng các độc tố của lúa trung bình như sau:
pH EC
(ms/cm)
Al
3 +
(ppm)
Fe
2 +
(ppm)
SO
4
2
(ppm)
ảnh hưởng tại những vùng đất phèn, mà do ảnh hưởng của chế độ nước
trong khu vực các độc tố sẽ lan truyền sang những khu vực lân cận.
+ Làm đất bị nhiễm chua, nhiễm mặn.
+ Tính chất hoá học của đất bị thay đổi.
+ Chất lượng nước bị thay đổi theo chiều hướng bất lợi.
+ Chất lượng nước ngầm bị nhiễm bẩn
- Do sử dụng phân bón.
Khi bón phân khoáng chỉ có 50% được cây trồng sử dụng. Lượng
còn lại tham gia vào vấn đề gây ô nhiễm môi trường đất.
+ Biến đổi thành phần tính chất của đất nếu không sử dụng
hợp lý.
+ Làm chua đất
+ Biến đổi cân bằng dinh dưỡng đất và cây trồng.
+ Một lượng lớn xâm nhập vào nguồn nước, vào khí quyển
- do thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
+ Hay gây nên hiện tượng “ phóng đại sinh học”
Tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường đất
- Do chứa chất thải công nghiệp, sinh hoạt.
+ Chứa sản phẩm độc hại ở dạng rắn. nhiều nghiên cứu gần
đây đã chứng minh 50% chất thải công nghiệp là rắn: than, bụi, sỉ,
quặng…. Từ đó ước tính 15% gây độc hại và nguy hiểm cho con
người và đất đai. Chất thải sinh hoạt ở dạng rắn cũng chiếm tỷ trọng
lớn.
10
+ Chất thải công nghiệp là các hoá chất kim loại nặng như:
Cu, Pb, Hg, Sđ…. Thường chứa nhiều trong rác phế thải của ngành
luyện kim màu, sản xuất ô tô.
+ Trong đất, tính trị độc và gây độc của các kim loại nặng
phụ thuộc vào nhiều yếu tố: ooxxy hoá khử, Ph, số lượng nước và
phức chất mà nó hoà tan các kim loại nặng.
và sunfat là do lưu quỳnh (S) trong nước lợ và không liên quan dến sú vẹt.
11
Qua các thí nghiệm, kết hợp với điều tra thực tế trong dịp lập bản đồ đất cho miền
Bắc việt Nam, Fritlan đã giải thích sự hình thành đất phèn: S có trong nước biển
theo thủy triều và vùng nước lợ. còn sắt, nhôm (Fe,Al) do sự phân tích củ keo sắt
và sự rủa trôi của các dòng chảy, trầm tích ờ vùng nước lợ, cùng với S lắng đọng
trong phù sa, tạo nên phèn. Quan điểm này chua giải thích đượcnhững nơi có chế
độ nước của các con sông giống nhau, nhưng có vùng tạo phèn, có vùng không tạo
phèn
Moorman và những nơi cộng sữ cho rằng sự hình thành đất phèn xuất hiện ở vùng
nước lợ, có thủy triều xâm nhập và có sự tham gia của vi sinh vật với các điều kiện
và các giai đoạn sau:
- Ion SO
4
2-
bị khử trong điều kiện thiếu oxy, có sự tham gia của vi sinh vật
yếm khí. Trong giai đoạn này cần phải có đầy đủ chất hữu cơ để làm thức ăn cho vi
sinh vật yếm khí Thibacillus…
- Tiếp đó phản ứng giũa sunphure H
2
S với sắt có trong đất để tạo thành
FeSO
4
và H
2
SO
4
theo phản ứng:
2H
2
+H
2
O
Trong đất xuất hiện từng vệt màu vàng trấu, chính là màu vàng của Fe
2
(SO
4
)
3
Theo tác giả ở đây cũng có phản ứng thuận nghịch :
Fe
2
(SO
4
)
3
+ 2H
2
O 2FeSO
4
(OH) + H
2
O
Acid sunphuaric mới được tạo thành gây chua cho đất và sẽ phản ứng mạnh với
các khoáng sét để tạo thành sunphat nhôm, natri và kali theo phương trình phản
ứng sau:
Al
2
O
(SO
4
)
3
, FeSO
4
. đất trở nên chua, hóa phèn.
+ nếu trong đấtn có CaCO
3
thì phản ứng tiếp tục theo một chiều hướng sau:
2CaCO
3
+ H
2
SO
4
CaSO
4
.2H
2
O + 2CO
2
Khi đó Na
+
, Mg
+
đã hập thụ sẵn trong nước ( nước lợ chứa nhiều Na
+
, Mg
+
mực nước thủy triều chênh lệch ít và nơi không có nước biển tràn lên trong niên
đại vừa qua thì lớp pyrite mỏng. đất dọc theo bờ biển mới bồi sở dĩ chứa ít pyrit, có
lẽ phần lớn vì chưa đủ thời gian cho pyrite lắng tụ. bởi vì muốn tạo được 1% pyrit
trong đất phải mất từ 50-1000 năm. Nếu bờ biển được bồi lên nhanh chóng thì
rừng đước cũng phát triền theo sau đó, sau một thời gian ngắn, cho nên sự tạo
thành pyrite cũng gắn theo. Điều này được chứng minh ở vùng đất bồi đáp nhanh
của sông Cửu Long và một số chi nhánh của sông Đồng Nai.
Một tác giả khác, các tác giả đã đưa ra một điều kiện cho sự hình thành phèn
là phụ thuộc vào lượng CaCO
3
.
Về nguồn gốc của đất phèn hiện tại:
Theo tác giả: sự hình thành đất phèn hiện tại cũng phải có đất phèn tiểm tàng. Khi
đất phèn tiềm tàng thoáng khí trong một thời gian lâu, khi mà mực nước ngậm
giảm xuống dưới lớp đất chứa pyrite trong nhiều tuần lễ. hein65 tượng này xảy ra
một cách từ từ trong quá trình tự nhiện do sự nâng lên của mặt đất, hay bồi đắp của
bờ biển, hoặc sự hạ thấp của thủy triều hoặc xảy ra một cách đột ngột do đắp bờ
13
hoặc làm khô cạn nước. nghĩa là phải có quá trình oxy hoa xảy ra, và quá trình đó
được tiến hành khi lớp đất trên kho, nứt nẻ, lớp pyrite vẫn còn ẩm ướt và bị oxy
xâm nhập, thì những hat pyrite nhỏ li ti, sẽ bị oxy hóa thành sunphat sắt II (rễ hòa
tan) và acid sunphatric. Phản ứng chung như sau:
FeS
2
+ 7/2O
2
+ H
2
O Fe
2+
2
O +1/3K
+
1/3KFe(SO
4
)
2
(OH)
6
+1/3SO
4
2-
Sự xuất hiện của sắt Fe
3+
dưới dạng KFe
3
(SO4)
2
(OH)
6
đã làm cho dất có màu vàng
đặc trưng. Nếu trong điều kiện ẩm ướt và có không khí thì sự chuyển biến xảy ra
trong vòng 7- 15 ngày ở trong phòng thí nghiệm và vài tháng ở thực địa .
Khi đã xuất hiện tấng vàng (tầng Jarosit) tức là đất phèn đã chuyển từ phèn tiềm
tàng sang phen hiện tại.
Có nhiều quan điểm trình bày về nguyên nhân, quá trình hình thành đất phèn, một
cách tổng quát có thề nói rằng: đất phèn được hình thành ở những vùng nước lợ
hoặc vùng biển cũ có thủy triều xâm nhập với sự tham gia của một số loại vi sinh
vật yếm khí trong các điều kiện nhất định về môi trường, thời gian và hàm lượng
chất hữu cơ trong đất. hay nói ngắn gọn đất phèn được hình thành do sản phẩm bồi
3H
2
S +2Fe(OH)
3
2FeS +S + 6H
2
S
Khi tháo nước mặt và hạ thấp nước ngầm xuống dưới tầng pyrite, bằng con đường
tự nhiên hay nhận tạo, các quá trình oxy hóa bắt đầu xảy ra.
Quá trình oxy hóa FeS
2FeS +9/2 O
2
+2H
2
O Fe
2
O
3
+ 2H
2
SO
4
Quá trình oxy hóa FeS
2
2FeS
2
+ 7 O
2
+2H
2
4
)
3
+ 2H
2
O
Fe(SO
4
)
3
+ 6H
2
O Fe(OH)
3
+ 3H
2
SO
4
+Jarosit được hình thành
Fe(SO
4
) +1/4O
2
+3/2H
2
O +1/3K
+
1/3 KFe
3
- Sự có mặt với số lượng lớn của lưu huỳnh (S) và hợp chất của lưu huỳnh
SO
4
2-
, H
2
S, FeS, FeS
2
ở trong đất. S được tạo thành trong đất từ hai con đường:
15
+ con đường thứ nhất: S, SO
4
2-
hay các dạng khác của S được tích lũy từ xác
dộng vật đặc biệt là thảm thực vật rừng ngập mặn phổ biến là các loại thực vật
Phitophova va Avicermia (các loại sú vẹt). Rừng sú ẹt trong điều kiện nước biển,
nước lợ, đã tích lũy nhiều S trong cây, trong rễ, nhờ một áp suất thẩm thấu 5-6 at
và bộ rễ khỏe và hệ thống rễ lớn. Khi rừng sú vẹt bị phù sa vùi lấp, quá trình phân
giải trong điều kiện yếm khí xảy ra có sự tham gia của vi khuẩn Closdium,
Thiobacillus, Thidans để tạo ra S, rồi các hợp chất của nó là H
2
S, FeS, FeS
2
.
Tổ cải tạo đất viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp việt nam ngâm cây sú vẹt 100
ngày, tăng từ 0% lên đến 0,72%.điều này chứng tỏ vai trò của cây sú vẹt rất lớn
trong nguồn gốc sing phèn.
+ con đường thứ hai của sự tạo thành SO
4
2-
- 72 – 100 cm (H3), Lớp than bùn mịn, hàm lượng mùn 35 – 55 % lẫn
sét, đất có màu đen hoặc đen đậm.
- 100 – 150 cm (Cp), tầng sinh phèn, sét pha thịt, có màu xám đen, rất
ẩm ướt, vẫn còn lẫn than bùn, đất bị glây mạnh. Mùa khô độ sâu của
mực nước ngầm xuất hiện 130 cm cách mặt đất.
4.5 Đặc điểm hóa tính
Độ dày của tầng than bùn thường từ 40 – 100 cm có nơi tới trên 100
cm.
Hàm lượng chất hữu cơ trong tầng than bùn biến động từ 30 – 90 %.
Tỷ lệ C/N của than bùn rất cao tới 40 – 60, biểu hiện than bùn là chất
hữu cơ phân giải rất kém và nghèo đạm, nhưng đất vẫn thuộc loại giàu
N %, 0,4 – 0,8 %. Than bùn có phản ứng chua: pH 4,0 – 4,8.
Sự chênh lệch pH giữa than bùn tươi và than bùn khô không lớn (than
bùn tươi pH= 4,5. Khô pH = 4,0). Tầng sinh phèn (Cp) nằm dưới tầng
than bùn, có độ chênh lệch pH giữa đất tươi và đất khô tương đối
nhiều. Hàm lượng SO3 % tổng số ≥ 0,70 %, ở tầng Cp hàm lượng SO3
% ≥ 1,4. Hàm lượng SO4= % hoà tan tương đối cao 0,11 – 0,25 %, do
trong lá cây tràm có nhiều lưu huỳnh S. Hàm lượng cation trao đổi khá
cao 16 – 23 lđl/100g đất. Độ bão hoà bazơ đạt mức trung bình (45 – 58
%). Đặc biệt ở đất than bùn phèn tiềm tàng không xuất hiện tầng Bj có
màu vàng rơm của khoáng jarosite trong phẫu diện đất.
5. Phân bố đất phèn
5.1 Phân bố đất phèn trên thế giới
Trên thế giới có khoảng 12,6 triệu ha đất phèn, chủ yếu xuất hiện ở các vùng ven
biển nhiệt đới hay cận nhiệt đới, gồm các vùng : Nam Nhật Bản, Nam Triều Tiên,
Nam ấn Độ, Thái Lan, Băng la đét, Đông và Nam Malayxia, Pakistan, Inđonexia,
Đông Nam của Đông- Timo, Miến điện, việt Nam. Ngoài ra còn thấy xuất hiện ở :
Guianas, Venezuela, Braxin, Achentina, Newsiland và những vùng ven biển thuộc
lưu vực Đông Amazon, một số nước Đông Phi và Tây Phi. Một số đất phèn cũng
được tìm thấy ở Hà Lan.
Vùng phèn đồng tháp mười:
Vùng đồng tháp mười là phần dưới của vùng ngập lũ kéo dài dọc bờ trái sông Tiền
từ Kongpongcham trở xuống QL1A- phía Nam và sông Vàm Cỏ Đông-phía Đông.
Diện tích toàn vùng trũng là 991.000 ha, trong đó phần thượng lưu nằm trên đất
Campuchia là 288.000 ha, phần Đồng Tháp mười chiếm 703.000 ha.
Vùng trũng được ngăn cách với sông chính bởi các dòng ven sông (dải đất cao ven
sông tự nhiên) kéo dài từ Kongpongcham- nơi địa hình cao từ 10-15m, dến Cao
Lãnh còn lại khoảng 2,5-3,0m. mặt giồng thượng lưu rộng hang ngàn mét và thu
hẹp dần về phía hạ lưu có nơi chỉ còn vài trăm mét. Sau giồng là những vùng
trũng.
Đồng Tháp mười từ biên giới trở về xuôi có dạng hình long máng với các thành
cao 3 phía: vùng phù sa cổ Hồng Ngự- Tân Hồng (phía Bắc); các giải đất cao ven
sông (phía Tây) và vùng dất xám Vĩnh Hưng- Mộc Hóa (phía Dông). Dịa hình thấp
d ần theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, nơi thấp nhất là vùng Bắc Dông- BoBo.
18
Trước đây khu vực giữa đồng tháp mười là vùng ngập nước quanh năm, trong mùa
lũ nhiều nơi ngập sâu tới 3-5m, khả năng thoát lũ chậm, không bị ảnh hưởng nhiều
nước mặn.
Đồng tháp mười là ổ phèn lớn nhất ĐBSCL,khoãng 40% diện tích đất toàn vùng là
đất phèn. Đất phèn ở các dạng tiềm tàng, hoạt động và đang chuyển hóa. Trong đất
ít hoặc mới xuất hiện tầng Jarosite. Diện tích đất phèn nặng phân bố chủ yếu ở
vùng Bắc Đông, BoBo, Chợ Bưng, Tràm Chim, nơi giao thoa của các dòng triều và
lũ ở những vùng này vào đầu mùa mưa (5,6,7,8) đường dẳng trị chua (pH=4)
chiếm một phần diện tích lớn trong vùng, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, môi
trường và đời sống của nhân dân.
Vung phèn Tứ giác Long Xuyên:
Có dạng một tứ giác, được giới hạn bởi sông Hậu ở phía đông, Biển Tây ở phía
Tây, biên giới Campuchia ở phía Bắc, phía Nam là kênh cái sắn. bao gồm diện tích
của hai tỉnh Kiên Giang va An Giang, gồm các huyện An Biên, Hà Tiên, Bảy Núi,
Hòn Đất… tổng diện tích khoảng 490.000 ha. Đây là vùng thường bị ngập nước
đất phèn trong cả nước). Riêng đồng bằng sông Cửu Long chiếm tới
hơn 88 % diện tích đất phèn trong cả nước.
Đến năm 1996, nhóm biên tập bản đồ đất tỷ lệ 1/1.000.000 theo phân
loại định lượng của FAO – UNESCO thì:
- Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols) có diện tích 1.863.128 ha và được
chia thành 2 đơn vị:
• Đất phèn tiềm tàng (Proto – thionic Gleysols) có diện tích 652.244
ha (bao gồm cả đất phèn tiềm tàng dưới rừng ngập mặn).
• Đất phèn hoạt động (Orthi – thionic Fluvisols) có diện tích
1.210.884 ha.
- Và diện tích đất phèn ở Việt Nam tập trung nhiều nhất ở đồng bằng
sông Cửu Long (Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và bán đảo Cà
Mau). Trong phân loại đất phèn, thì nhóm đất phèn mà chúng ta sử
dụng trên bản đồ theo phân loại của FAO – UNESCO chỉ là cấp đơn vị
(soil units) nằm trong 3 nhóm đất: Đất phù sa (Fluvisols), Đất glây
(Gleysols) và nhóm đất than bùn (Histosols), như vậy sẽ có các đơn vị
đất phèn sau đây:
- Đất phù sa phèn (Thionic Fluvisols)
- Đất glây phèn (Thionic Gleysols)
- Đất than bùn phèn (Thionic Histosols)
6.1 Phân loại của nhân dân vùng đất phèn.
Nhân dân vùng đất phèn Nam Bộ xếp loại đất phèn theo kinh nghiệm sản xuất và
đặt trưng hình thaiscuar đất phèn hoặc theo phẫu diện đất phèn.
a.Phèn nóng: chủ yếu do sunphat sắt FeSO4, Fe2(SO4)3 tạo thành,ít nhôm và
sunphats nhôm.Mức độ độc hại loại phèn ít hơn so với phèn nhôm.
Trên mặt nước ở ruộng, ở kênh thường có một lớp váng vàng.váng vàng này
dính vào tay chân khi lám ruộng, thuongf gây ngứa và dễ gây mục quần áo.
b.Phèn lạnh: chủ yếu do sunphat nhôm tạo nên,loại này độc hại hơn phèn
nóng.Nước trên ruộng và trong kênh mương ở khu vực đất phèn này trong suốt
20
+ đất phèn có tầng an toàn lớn hơn 30 cm
+đất phèn có tầng hữu cơ một phẫu diện.
Với mục đích nêu mức độ an toàn trong quá trình khai thác sữ dụng, người
ta phân đất phèn tiềm tàng theo chiều dày lớp đất che phủ trên tầng sinh phèn và
gọi là chiều dày của tầng an toàn. Chiều dày tầng an toàn càng mỏng thì càng an
21
toàn trong quá trình khai thác,sử dụng. đất phèn tiềm tàng rất rễ chuyển hoàn thành
phèn hoạt hoạt.
Loại đất đang chuyển hóa: thông thường chúng ta hiểu là đang chuyển hóa từ phèn
tiềm tàng sang phèn hiện tại từ phèn ít sang phèn nhiều, song cũng cần phải hiểu
them cả chiều ngược của nó tức là đất phèn đang chuyển hóa từ phèn ít sang không
phèn, loại này theo Phan Liêu gọi là Đất phèn thủy ngân
a)loại đât phèn hiện tại
danh từ đất phèn hiện tại, ở nước ta còn được gọi là đất phèn hoạt động chỉ
là một khái niệm tương đối, để cho chúng ta hiểu rằng loại đất phèn này đang ở
trạng thái hoạt động gây chua, nhưng tương đối ổn định về mặt hàm lượng các độc
tố. thường ở những vùng đã canh tác lâu đời hoặc ngập về mùa mưa, khô hạn về
mùa khô, mực nước lên xuống theo thời gian và theo mùa vụ. thực vật chỉ thị là
năng ngọt, năng kim, bàng đưng, dứa dại, cú ma, cú cơm.
Trong loại đất phèn hiện tại được chia làm 3 loại như sau:
• Loại phèn ít và trung bình.
Hiện nay ranh giới phèn ít và trung bình trong thực tế xác định rất khó khăn nên
vẫn xác định là một loại: loại này thường xuất hiện ở địa hình tương đối cao
hơn vùng phèn nhiều,gần các sông gạch tự nhiên, có độ thoát nước nhanh
hơn,nằm ở vùng đất phèn nhiều và vùng đất phù sa mới trung tính. Ví dụ những
vùng đất gần sông tiên,sông Hậu,nhưng cách các con sông này một khỏa đất
phù sa gần trung tính,được bồi hằng năm. Như ở Cai Lậy,Cái Bè,Lấp Vò, Châu
Thành A, Châu Thành B, Ô Môn, kế Sách( Hậu Giang , Hồng Dân (Bạc Liêu),
Châu Thành ( Vĩnh Long) … ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh có các
vùng phèn của Tân Thuận (Nhà Bè), Hóc Môn , Thành Lộc, An Phú, An Lạc,
Limông 15-13% và cát khoảng 15-30%.
Tính chất hóa học được thể ở một phẫu diện điển hình trong bảng 7 và 8.
22
Bảng 7:kết quả phân tích đất phèn hiện tại,tại quỳnh phụ thái bình
(viện nghiên cứu khoa học và kinh tế thủy lợi 1991)
Tầng
đất(cm
)
pH
trong
H
2
O
pH
kc
Hữu
cơ %
EC
ms/c
m
Nt
Mg/100
g
Pt
(%)
Kt
(%)
Ca
Meq/100
g
3.2
2.62
2.62
840
2170
0.25
0.21
0.07
0.07
0.88
0.93
4.3
5.6
1.9
5.1
1.1
2.1
222
185
Bảng 8: kết quả phân tích đất phèn hiện tại, tại Tâng Thành
(viện nghiên cứu Thủy lợi Miền Nam 1993)
Tầng
đất(cm
)
pH Mùn
(%)
EC
Ms/c
m
150
3,6
3,53
3,50
3,28
2,97
6,84
4.14
0,88
1,04
4,25
1,07
0,95
0,85
1,12
4,25
0,464
0,300
0,157
0,164
0,185
0,067
0,033
0,019
0,004
0,015
0,880
0.940
1,420
1,380
2,82
2,55
8,81
6,94
3,63
5,18
6,11
0,77
0,78
1,22
1,63
2,84
0,458
0,357
0,171
0,158
0,200
0,067
0,046
0,019
0,020
0,011
1,000
1,280
1,160
1,240
1,240
0,58
1,04
1,50
như: Bầu, mắm, đước đôi, đước nhọn, vẹt
Các loại cây này mọc thành rừng dày với bộ rể khỏe, làm giảm tốc độ dòng
chảy, làm lắng đọng phù sa biển, chứa nhiều lưu huỳnh. Bản thân chúng
cũng tích lũy lưu huỳnh, khi chết đi thải ra nhiều lưu huỳnh là nguồn gốc
đầu tiên sinh ra đất phèn. Chiều sâu tầng thực vật bị vùi lấp này thường thấy
ở 1-2m dưới mặt đất đối với đất phèn ở Đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng
Bắc Bộ như vùng Hải Phòng, Thái Bình thấy ở độ nông hơn 0,7- 1,5m
Ngoài ra còn có các thực vật khác như: chà là, dừa nước, tràm, . Qua nghiên
cứu người ta thấy ở những vùng đất mà chỉ có các loại thực vật này chôn vùi
thì lưu huỳnh tổng số rất ít, không có khả năng gây chua nhiều,pH của đất
khoảng 5,5-6
Như vậy , chủng loại và chiều sâu của các loại thực vật bị vùi lấp có khả
năng ảnh hưởng lớn đến mức độ sinh phèn trong đất
- Thực vật hiện tại
Thực vật đang sống trên đất phèn cũng thay đổi theo tính chất của mỗi loại đất.
Mỗi loại đất đều có hệ thực vật thích ứng với nó
Thực vật ở vùng phèn tiềm tàng thường có các loại cây Chà là, Ráng dại, Lác
biển, bàng, năng kim
24
Nếu là vùng đất phèn tiềm tàng sâu trong nội địa là những vùng trũng ngập
nước quanh năm, gồm các loại thủy sinh mọc chìm dưới nước hoặc chìm trong
nước một phần như: súng co , sen, nhị cán vàng, nhị cán tròn, cỏ bấc, rau
muống thân tím lá cứng và rau giòn, rau dừa
Thực vật ở vùng đất phèn nhiều thường có: Năng ngọt( chiếm đa số ngoài ra
còn có vài loại cây khác )
ở vùng phèn ít và trung bình : năng ngọt, cỏ năng , lác. Thực vật trong đất phèn
không chỉ phụ thuộc vào tính chất trong đất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào chế
độ nước. Trong cùng một loại đất phèn khi chế độ nước thay đổi thì chỉ thị thực
vật cũng thay đổi
ngoài các thực vật kể trên đối với các vùng nước phèn đứng yên hoặc những