nghiên cứu - trao đổi
14 - Tạp chí luật học
ThS. Bùi Kiên Điện *
1. Nhân thân là khái niệm đặc trng chỉ
đợc sử dụng khi nói về bản chất của thực
thể tự nhiên, x hội đặc biệt, đó là con ngời.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
việc nghiên cứu nhân thân con ngời cần tiếp
cận từ góc độ x hội - lịch sử. Theo đó, nhân
thân con ngời đợc hiểu nh là sản phẩm
của thời đại nhất định, đợc quy định bởi
những điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực
x hội. Sự hình thành nhân thân của một
ngời chịu sự tác động của chính sự tồn tại
cá nhân của ngời đó, những kinh nghiệm
sống của họ đợc quy định bởi nội dung của
những quan hệ hình thành trong gia đình,
môi trờng bạn bè và những ngời quen biết,
trong tập thể lao động, học tập. Nh vậy,
nhân thân của ngời cụ thể chính là tình
hình về mọi mặt của một con ngời,
(1)
là
hình thức riêng biệt của sự tồn tại những
quan hệ x hội. Nói cách khác, nhân thân
những ngời xung quanh, với chính bản
thân mình). Quan điểm về nhân thân với
nội dung nh đ trình bày là cơ sở quan
trọng định hớng cho việc nghiên cứu một số
khái niệm đặc trng trong khoa học luật hình
sự, tội phạm học, khoa học điều tra hình sự,
tâm lí t pháp nh chủ thể của tội phạm,
nhân thân ngời phạm tội, nhân thân bị can,
nhân cách ngời phạm tội.
2. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự,
một ngời chỉ có thể bị cơ quan điều tra ra
quyết định khởi tố bị can khi có đủ căn cứ để
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 15
xác định họ đ thực hiện tội phạm.
(3)
Nh
vậy, theo quy định của pháp luật tố tụng hình
sự, bị can chính là ngời đ bị khởi tố về
hình sự.
(4)
Đối với loại ngời tham gia tố
tụng đặc biệt này, trớc khi ra quyết định
khởi tố bị can, cơ quan điều tra đ có thể áp
dụng biện pháp ngăn chặn nh bắt, tạm giữ.
phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan
điều tra. Trong trờng hợp vắng mặt không
có lí do chính đáng thì có thể bị áp giải.
(5)
Nh đ khẳng định ở phần trớc, việc
nghiên cứu những đặc điểm của cá nhân
cũng nh của các nhóm ngời cụ thể trong
x hội tất yếu phải xuất phát từ bản chất của
con ngời nói chung theo quan điểm mác xít.
Logic tơng tự cũng đợc sử dụng khi xem
xét vấn đề nhân thân bị can. Theo đó, nhân
thân bị can chính là nhân thân của ngời cụ
thể đợc bổ sung thêm những đặc điểm đặc
trng khác đ nêu ở phần trên. Nói cách
khác, nhân thân bị can chính là tổng hợp
những đặc điểm, dấu hiệu, những đặc tính
quan trọng của ngời cụ thể đ bị cơ quan có
thẩm quyền khởi tố về hình sự, phản ánh bản
chất x hội của ngời đó và đợc cơ quan
điều tra nghiên cứu, sử dụng phục vụ cho
công tác điều tra vụ án hình sự. Trong lí luận
khoa học điều tra hình sự, các nhóm dấu hiệu
đặc trng của nhân thân bị can đợc chia làm
hai nhóm sau:
- Thứ nhất, nhóm dấu hiệu x hội - nhân
khẩu học (giới tính, tuổi, trình độ học vấn,
nghề nghiệp, vai trò x hội, hoàn cảnh gia
đình của bị can);
- Thứ hai, nhóm dấu hiệu đạo đức - tâm
quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự, làm
cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của pháp luật. ở những cá
nhân bình thờng, nhóm dấu hiệu đạo đức -
tâm lí của họ (các dấu hiệu phản ánh mối
quan hệ của cá nhân đối với các giá trị x
hội, các chức năng x hội của mình nh mối
quan hệ với nhà nớc, x hội, tập thể, trách
nhiệm công dân, với những ngời xung
quanh, với chính mình) phát triển phù hợp
với những chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
Trong khi ấy, ở bị can những dấu hiệu này
thờng phát triển theo hớng tiêu cực, không
có lợi cho họ cũng nh x hội. Nh vậy,
những quan điểm về nhân thân con ngời là
xuất phát điểm cho việc nghiên cứu về nhân
thân bị can trong khoa học điều tra hình sự.
Đồng thời, sự khác biệt trong nội hàm của
hai khái niệm này chính là định hớng quan
trọng cho cơ quan điều tra không chỉ trong
việc xác định phạm vi những thông tin cần
thu thập để có thể làm rõ những đặc điểm
nhân thân bị can mà cả trong việc xác định
kế hoạch khai thác những đặc điểm đó một
cách có hiệu quả phục vụ công tác điều tra
làm rõ vụ án.
- Nhân thân bị can và nhân thân ngời
phạm tội.
Nhân thân ngời phạm tội là một trong
những đối tợng nghiên cứu của tội phạm
Tạp chí luật học - 17
pháp lí tố tụng hình sự đợc sử dụng để chỉ
ngời phạm tội đang tham gia tố tụng hình
sự ở giai đoạn điều tra. Nói cách khác, nếu
khái niệm ngời phạm tội là khái niệm nội
dung chỉ ngời đ thực hiện hành vi phạm tội
do Bộ luật hình sự quy định thì bị can chính
là tên gọi tố tụng của ngời phạm tội khi họ
tham gia vào giai đoạn điều tra do cơ quan
điều tra tiến hành.
(7)
Do đó, nhân thân bị can
chỉ đợc coi là biểu hiện cụ thể của nhân
thân ngời phạm tội, có những dấu hiệu (đặc
điểm) tơng tự nh nhân thân ngời phạm tội
nhng không phải là một. Ngoài ra, lợng
thông tin về nhân thân của bị can mà cơ quan
điều tra có đợc không phải luôn ở mức độ
đầy đủ, trùng khít với những đặc điểm nhân
thân ngời phạm tội tồn tại trong thực tế.
Những thông tin về đặc điểm nhân thân
ngời phạm tội sẽ đợc bổ sung, làm đầy đủ
bởi các cơ quan tiến hành tố tụng khác (viện
kiểm sát, toà án) khi bị can tiếp tục tham gia
vào các giai đoạn sau đó của quá trình tố
tụng hình sự (truy tố, xét xử). Tìm ra sự
tơng đồng và khác biệt trong nhân thân bị
can và nhân thân ngời phạm tội là cơ sở
quan trọng đầu tiên định hớng cho việc tiếp
ngời khác cũng nh với chính bản thân
mình Đồng thời, ngay cả đối với những
dấu hiệu có trong chủ thể của tội phạm và
nhân thân bị can thì trong nhân thân của bị
can chúng cũng đợc thể hiện rộng hơn, chi
tiết hơn. Tơng tự nh vậy, dấu hiệu chức vụ
và các dấu hiệu khác của chủ thể đặc biệt
cũng là dấu hiệu của nhân thân bị can nhng
chúng đợc cơ quan điều tra xem xét với
phạm vi rộng hơn, vợt ra ngoài phạm vi của
khái niệm chủ thể tội phạm nh tính chất tầm
quan trọng của chức vụ, thời gian và chất
lợng thực hiện công việc đợc giao Nh
vậy, toàn bộ các dấu hiệu pháp lí thuộc chủ
thể của tội phạm chỉ là bộ phận chứ không
phải là toàn bộ các dấu hiệu (đặc điểm) của
nhân thân bị can. Nhận thức đợc điều đó sẽ
giúp cho điều tra viên xác định chính xác nghiên cứu - trao đổi
18 - Tạp chí luật học
giới hạn nhiệm vụ của mình trong việc thu
thập, nghiên cứu và sử dụng những thông tin
về đặc điểm nhân thân của bị can phục vụ
thực tiễn điều tra hình sự.
- Nhân thân bị can và nhân cách bị can.
Theo quan điểm mác xít, nhân cách là sự
tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể của
đạo đức - tâm lí và pháp lí hình sự. Nếu so
sánh hai khái niệm trên có thể thấy những
đặc điểm nằm trong nhân cách bị can chỉ là
một bộ phận tạo nên nhân thân bị can. Điều
đó có nghĩa, nội hàm của khái niệm nhân
thân bị can có nội dung lớn hơn nhiều so với
nội hàm của khái niệm nhân cách bị can.
Cho nên, nếu việc nắm vững những đặc điểm
nhân thân của bị can là một trong những cơ
sở giúp cơ quan điều tra xác định phơng
hớng điều tra nói chung, các thủ thuật,
chiến thuật phù hợp cần phải áp dụng để đấu
tranh với bị can nói riêng thì các thông tin về
nhân cách của bị can chủ yếu giúp điều tra
viên xác định các biện pháp tác động tâm lí
đối với bị can trong quá trình điều tra vụ án
một cách có hiệu quả nhất./.
(1).Xem: Từ điển nghiệp vụ phổ thông - Viện nghiên
cứu khoa học công an. 1977, tr. 368
(2).Xem: Mác - Ănghen. Tuyển tập, tập 1, Nxb. Sự
thật, Hà Nội, 1980, tr. 257.
(3).Xem: Khoản 1 Điều 103 BLTTHS.
(4).Xem: Khoản 1 Điều 34 BLTTHS.
(5).Xem: Khoản 4 Điều 34 BLTTHS.
(6). X em: G i áo t rình tội ph ạm học, Tr ờng
đại học luật Hà Nội, Nxb. CAND, H. 1998,
tr. 136.
(7). Nhng cần lu ý là không phải mọi bị can trong
thực tế tố tụng hình sự đều là ngời phạm tội bởi có