LUẬN VĂN
Ô NHIỄM ĐẤT ĐỒNG BẰNG SÔNG
CỬU LONG Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 1
Lời nói đầu
Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm đất nói riêng là những vấn đề cấp bách
hiện nay, trong đó ô nhiễm đất ở đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ cụ thể. Để
có thể giải quyết, xây dựng được những biện pháp ngăn ngừa và khắc phục đòi hỏi
thời gian và nhân lực, công nghệ. Dưới góc độ là sinh viên năm thứ ba ngành quản
Tổng quan về tình hình sử dụng đất tại đồng bằng sông Cửu Long.
Nắm vững kiến thức về ô nhiễm đất và các tác nhân gây ô nhiễm môi trường
đất tại đồng bằng sông Cửu Long cũng như trong cả nước.
Đề xuất những phương pháp khắc phục để bảo vệ và nâng cao chất lượng môi
trường đất tại đồng bằng sông Cửu Long. Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 3 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN ĐẤT VIỆT NAM
VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
II.1. Đất:
II.1.1. Khái niệm:
Đất là một vật thể tự nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả của quá trình hoạt
động tổng hợp của năm yếu tố hình thành đất bao gồm:
Đá mẹ: sự hình thành đất là một quá trình phức tạp, biến đổi bởi nhiều yếu tố.
Đá là nền móng của đất. Do đá bị phá hủy vỡ vụn nên thành phần khoáng của
đất chiếm tới 95% trọng lượng khô. Nếu đá chứa nhiều cát thì đất sẽ nhiều cát,
đá nhiều Kali thì đất giàu Kali…
Sinh vật: chưa có sinh vật thì đá chưa tạo thành đất, trong đó có vai trò đặc biệt
quan trọng của vi sinh vật, phân hủy xác bã động thực vật tạo thành chất mùn
hữu cơ, tạo nên độ phì cho đất. Trong mỗi gam đất có từ hàng trăm triệu đến
hàng tỉ vi sinh vật các loại. Chúng tích lũy một lượng lớn các nguyên tố dinh
bao gồm ba loại chính là khoáng vô cơ, khoáng hữu cơ và chất hữu cơ.
Khoáng vô cơ là các khoáng vật hoặc đá vỡ vụn đã, đang bị phân hủy thành các
khoáng vật thứ sinh.
Khoáng hữu cơ chủ yếu là muối humat do chất hữu cơ sau khi phân hủy tạo
thành.
Chất hữu cơ là xác của động thực vật bị phân hủy do các vi sinh vật có trong
đất.
Ngoài ba thành phần chính trên, trong đất còn có nước, không khí, các sinh vật,
hạt keo đất tác động tương hỗ với nhau tạo thành một hệ thống tương tác các vòng
tuần hoàn của các nguyên tố dinh dưỡng như Nitơ, Photpho…
Các nguyên tố hóa học trong đất tồn tại dưới dạng hợp chất vô cơ, hữu cơ có hàm
lượng biến động và phụ thuộc vào quá trình hình thành đất. Thành phần hóa học của
đất và đá mẹ ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành đất có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Sau đó, thành phần hóa học của đất phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của đất,
các quá trình hóa, sinh, lý trong đất và tác động của con người.
Nước, không khí cũng là thành phần của phần lớn các loại đất. Không khí nằm
trong các khoảng không gian rỗng giữa các hạt đất, nước nằm trong các khoản rỗng
cũng như bề mặt hạt đất đã chiếm khoảng một nửa thể tích của đất. Cả hai đều đóng
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 5
vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và các loại hình sự sống khác
trong thiết diện đứng của đất trong một hệ sinh thái cụ thể.
II.2. Tài nguyên đất Việt Nam:
II.2.1. Tình hình sử dụng đất:
Lãnh thổ Việt Nam có diện tích tự nhiên phần đất liền khoảng 33 triệu ha, trong
đó khoảng 2/3 thuộc về miền núi và trung du, phần còn lại là đồng bằng châu thổ.
Diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích đất
tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,2 triệu ha. Diện tích đất tự nhiên của Việt Nam
13,2
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 6
Đất phi nông nghiệp
3309,1
1390,5
Đất ở
611,9
606
Đất chuyên dùng
1433,5
509,4
Đất tôn giáo, tín ngưỡng
12,9
12,7
Đất nghĩa trang, nghĩa địa
97,2
Nhóm đất mùn thô trên núi cao: Trên đỉnh các dãy núi cao, khí hậu lạnh có
tính chất của mùa đông ôn đới, các quá trình biến đổi sinh học diễn ra chậm,
chất hữu cơ không phân phủy triệt để nên đã hình thành nhóm đất mùn trên núi
cao. Đất này có tầng mỏng lẫn nhiều đá vụn nguyên sinh, trên bề mặt chỉ là
một lớp bùn thô thường có màu đen hoặc màu xám. Nhóm đất này cần được sử
dụng để phát triển rừng, tạo nguồn sinh thùy tốt cho những vùng đất thấp.
Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Từ độ cao 2000m trở xuống đến 900m là
nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi. Với điều kiện khí hậu lạnh giá, lại ở địa hình
cao, dốc, nên nơi nào không còn rừng, đất thường bị xói mòn mạnh. Loại đất
này có phản ứng chua vừa đến chua ít, lượng mùn khá nhưng nghèo lân tổng số
và dễ tiêu.
Nhóm đất đỏ vàng – feralít: Từ độ cao 900m đến vùng thấp 25m là nhóm đất
đỏ vàng feralit. Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất, khoảng gần 20 triệu ha,
được hình thành trên nhiều loại đá mẹ, phân bố rộng khắp các tỉnh trung du và
miền núi cả nước. Trong nhóm này có đất đỏ badan là loại đất tốt nhất ở nước
ta, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên, Đồng Nai và rải rác ở một số tỉnh
miền Trung. Đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cà phê, cao
su và chè.
Nhóm đất phù sa: Ở vùng đồng bằng châu thổ có nhóm đất phù sa được hình
thành do các con sông chuyển tải bồi đắp. Nước ta có hai đồng bằng lớn là
Đồng bằng sông Hồng khoảng 1,4 triệu ha và Đồng bằng sông Cửu Long,
khoảng 4 triệu ha, được hình thành do hoạt động của sông Hồng ở miền Bắc và
sông Cửu Long ở miền Nam; các con sông này chuyển tải các sản phẩm rửa
trôi từ thượng nguồn xuống bồi đắp dần. Về bản chất thổ nhưỡng, đất phù sa
mang đặc tính xếp lớp, thành phần cơ giới nặng, hàm lượng mùn và N, P, K
thuộc loại khá. Đất phù sa thuộc loại đất có độ phì nhiêu tự nhiên cao, thích
hợp với lúa, rau màu và nhiều loại cây trồng khác.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 9
II.3.Tổng quan đồng bằng sông Cửu Long:
II.3.1. Lịch sử hình thành đồng bằng:
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được tạo ra bởi phù sa sông Cửu Long ít
nhất là từ 6000 năm trước đây. Con người định cư ở đồng bằng sông Cửu Long từ lâu
đời, bắt đầu được biết đến từ thời Phù Nam cách đây khoảng hai ngàn năm qua di chỉ
Óc Eo ở Long Xuyên và Kiên Giang. Từ những năm đầu khẩn hoang, khai thác
ĐBSCL, lưu dân đã biến đất rừng thiên nhiên giữa các sông rạch thành đất định cư và
canh tác. Với vùng đất phì nhiêu, màu mỡ ở đây, đân số lần lần tăng nhanh kéo theo
sự nới rộng đất ruộng canh tác. Dân phát triển định cư lấn rừng tràm, vùng nước ngập
(wetlands). Trong lịch sử phát triển thì đa số thành phố gần sông và từ đó đến nay phát
triển ra các vùng khác còn hoang sơ.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, miền Nam còn nhiều rừng rậm, dân cư vẫn còn
thưa thớt. Các thú vật như hổ, bò tót, nai còn nhiều và hiện diện từ Đồng Nai, Gia
Định đến Sóc Trăng, Bạc Liêu. Đến nay đã hình thành một vùng đồng bằng rộng lớn
và trù phú, tạo nên vựa lúa của cả nước.
II.3.2. Vị trí địa lý:
ĐBSCL có vị trí như một bán đảo với 3 mặt Đông, Nam và Tây Nam giáp biển
(có đường bở biển dài 700km), phía Tây có đường biên giới giáp với Campuchia và
phía Bắc giáp với vùng kinh tế Đông Nam Bộ - vùng kinh tế lớn nhất của Việt Nam
hiện nay. ĐBSCL nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh
rạch phân bố rất dày thuận lợi cho giao thông thủy vào bậc nhất ở nước ta.
II.3.3. Điều kiện tự nhiên:
Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện
tích tự nhiên là 4.060.400 ha (khoảng 12 % diện tích Việt Nam), có bờ biển từ Đông
sang Tây dài trên 740 km với hải phận trên biển 360.000 km
2
. Vùng Đồng bằng sông
thực vật khác của môi trường nước ngọt như tràm và những loài thực thực vật hoang
dại khác . Sự ổn định của mực nước biển dẫn đến một sự bồi lắng trầm tích ven biển
khá nhanh với vật liệu sinh phèn thấp hơn.
Sự tham gia của sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình
hình thành vùng châu thổ. Lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp
vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và vào khoảng 100 triệu tấn vật liệu phù sa, những mảnh
vỡ bị bào mòn từ lưu vực sông, mặc dù một phần có thể dừng lại tạm thời dọc theo
hướng chảy, cuối cùng được mang đến cửa sông và được lắng tụ như một châu thổ.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 11
Những vật liệu sông được lắng tụ dọc theo sông để hình thành những đê tự nhiên có
chiều cao 3–4 m, và một phần của những vật liệu phù sa phủ lên trên những trầm tích
pyrit thời kỳ Holocen với sự biến thiên khá rộng về độ dầy tầng đất vùng và không
gian vùng. Các con sông nằm được chia cắt với trầm tích đê phù sa nhưng những vùng
rộng lớn mang vật liệu trầm tích biển chứa phèn tiềm tàng vẫn còn lộ ra trong vùng
đầm lầy biển.
Tuy nhiên, độ chua tiềm tàng không xuất hiện trong vùng phụ cận của những
nhánh sông gần cửa sông mà tại đây ảnh hưởng rửa bởi thủy triều khá mạnh. Ngược
lại, vùng châu thổ sông Sài Gòn, nằm kế bên hạ lưu châu thổ sông Mekong, được biểu
thị bởi một tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm do lượng vật liệu phù du trong nước
sông khá thấp và châu thổ này bị chia cắt bởi nhiều nhánh sông thủy triều và do bởi
những vành đai thực vật chịu mặn thì rộng lớn hơn vành đai này ở vùng châu thổ sông
Mekong, và kết quả là trầm tích của chúng chứa nhiều axít tiềm tàng. Hình 1. Đồng bằng sông Cửu Long
Khí hậu:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
giáp với biển nên chế độ nước ở đây chịu ảnh hưởng lớn của thủy triều. Căn cứ vào
đặc điểm hình thành và diễn biến của thủy triều, ta có thể chia vùng biển ĐBSCL ra
làm 2 đoạn và lấy mũi Cà Mau làm điểm trung gian:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 13
a. Khu vực biển Đông
Kéo dài từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau, dài 400 km chịu ảnh hưởng rõ rệt theo chế
độ thủy triều bán nhật triều không đều, biên độ triều khá lớn trên 2 m, đạt tối đa 3,5 m,
đặc biệt trong chu kỳ triều Maton (chu kỳ 19 năm) có thể lên đến 4 - 4,2 m. Tuy vậy,
triều biển Đông cũng chịu một phần ảnh hưởng triều biển Tây từ vịnh Thái Lan (bán
nhật triều không đều) nhất là đoàn càng đi về phía Cà Mau. Mỗi ngày có 2 lần triều
lên và 2 lần triều xuống nhưng biên độ triều trong 2 lần khác nhau. Trong mỗi chu kỳ
1/2 tháng, thấy rõ sự chênh lệnh đáng kể về biên độ kỳ nước cường. Nước lớn thường
xảy ra vào những ngày mồng 2 đấn mồng 3 âm lịch, hoặc ngày 18 - 19 âm lịch. Nước
kém xảy ra vào thời gian giữa 2 kỳ nước cường (ngày mồng 7 - 8 âm lịch hoặc 20 - 21
âm lịch).
Các đặc trưng này xảy ra đều đặn suốt chiều dài 300 km dọc bờ biển, chỉ riêng
đoạn gần đến mũi Cà Mau thì mới có sự biến động lớn về tính chất và biên độ của
thủy triều. Theo Nguyễn Ngọc Thụy (1979) thì biên độ thủy triều ngoài khơi vùng
nam biển Đông gia tăng dân khi tiến sát đến thềm lục địa ĐBSCL và giảm dần khi
sóng triều truyền sâu vào sông Cửu Long. Tại vùng biển Tây Nam biển Đông, sóng
bán nhật triều được tăng cường về biên độ khi tiến về phía đất liền do cấu trúc địa
hình, địa mạo của đáy biển ở đây tương đối phức tạp. Điều này, ở vịnh Thái Lan
cũng có ảnh hưởng tương tự nhưng mức độ thấp hơn.
b. Khu vực phía Tây:
Từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên dài 250 km. Ở khu vực này chịu chi phối bởi thủy
triều nhật triều không đều của vùng biển vịnh Thái Lan, đoạn gần mũi Cà mau bị ảnh
hưởng của thủy triều biển Đông. Triều phía Tây tiến vào đất liền qua các sông thiên
77.000 ha) tập trung ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau.
b. Hệ sinh thái đầm nội địa (rừng Tràm):
Trước đây rừng Tràm đã từng bao phủ một nửa diện tích đất phèn. Hiện nay chỉ
còn lại trong khu vực đất than bùn U Minh và một số nơi trong vùng đất phèn ở Đồng
Tháp Mười và đồng bằng Hà Tiên là những nơi bị ngập theo mùa.
Rừng Tràm rất quan trọng đối với việc ổn định đất, thuỷ văn và bảo tồn các loại vật.
Rừng Tràm thích hợp nhất cho việc cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 15
không phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp như vùng đầm lầy than bùn và đất phèn
nặng. Cây tràm thích nghi được với các điều kiện đất phèn và cũng có khả năng chịu
được mặn.
Hình 2. Rừng ngập mặn
Hiện nay, rừng tràm chỉ phân bố ít ỏi ở vùng đất than bùn U Minh, ở vùng đất
than bùn Đồng Tháp Mười và cánh đồng Hà Tiên. Những vùng đất ngập nước dưới
rừng tràm có khả năng giữ nước ngọt quanh năm cung cấp cho sinh hoạt cùa người
dân và cho khu động vật hoang dã, han chế quá trình phèn hóa và làm giảm tốc độ
dòng chảy trong lũ , là nơi cư trú cho rất nhiều loài thủy sàn nước ngọt , cung cấp gỗ,
củi, cá, mật ong và bảo tồn đa dạng sinh học. Tầng than bùn ở vùng rừng Tràm U
Minh có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái. Trong điều kiện khô như bị thoát
nước, than bùn sẽ bị oxi hóa rất nhanh làm cho đất bị phèn hóa và sinh ra các độc tố
như sắt và nhôm.
c. Hệ sinh thái cửa sông:
Cửa sông là nơi nước ngọt từ sông chảy ra gặp biển. Chúng chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi các thuỷ triều và sự pha trộn giữa nước mặn và nước ngọt. Cửa sông duy trì
những quá trình quan trọng như vận chuyển chất dinh dưỡng và phù du sinh vật, du
đẩy các ấu trùng tôm cá, xác bồi động thực vật và nó quyết định các dạng trầm tích
sông Tiền và sông Hậu, là lớp phủ trầm tích nước ngọt trẻ nhất ở đồng bằng sông Cửu
Long. Loại đất này được sử dụng triệt để cho sản xuất nông nghiệp (lúa, cây ăn trái,
rau, đậu đỗ, v v ).
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 17
Đất phèn:
Diện tích 1.600.263 ha, là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất và phức tạp nhất ở
đồng bằng sông Cửu Long. Đất phèn phân bố ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác
Long Xuyên và bán đảo Cà Mau. Vùng Đồng Tháp Mười, phần lớn đất phèn hình
thành từ trầm tích sét nặng có độ thấm cao, khi bị oxy hóa dễ dàng xuất hiện khoáng
Jarosite. ở Tứ giác Long Xuyên đất phèn tương đối đồng đều về nguồn gốc hình thành
và độc tố, ít có những biến động lớn trong cùng một khu vực. Đất phèn vùng bán đảo
Cà Mau hình thành trên trầm tích sông biển hỗn hợp chứa Pyrite bị phủ một lớp trầm
tích sông mỏng bên trên, do đó lượng chất độc không cao, đất thường bị nhiễm mặn
vào mùa khô bởi nước biển tràn vào sông rạch.
Nhóm đất mặn : diện tích 744.547 ha, gồm đất mặn do ngập nước thủy triều
mặn hoặc đất mặn do nước ngầm mặn gây nên. Đất mặn bị ngập thủy triều thường
mặn quanh năm và bão hòa muối. Đất mặn không bị ngập thủy triều thường có độ
mặn cao nhất về mùa khô, mùa mưa nước mưa đã hòa tan muối và rửa mặn nên độ
mặn giảm nhiều, có thể cấy lúa một vụ mùa mưa.
Bảng 2. Phân loại đất mặn
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2002
Ngoài ra, Đồng bằng sông Cửu Long còn có diện tích đất ngập nước 4.939.684
ha, bao gồm diện tích đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển ngập thủy triều
dưới 6 mét.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng. Các dạng đất ngập nước chủ yếu là đất ngập nước
mặn không thường xuyên canh tác nông nghiệp và đất ngập nước mặn không
thường xuyên nuôi trồng thủy sản.
Đất ngập nước mặn đầm phá có diện tích 2.521 ha theo kết quả khoanh định
trên bản đồ đất ngập nước vùng đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ 1:250.000,
phân bố ở đầm Đông Hồ (Hà Tiên) và đầm Thị Tường (Cà Mau) ở vùng ven
biển vịnh Thái Lan.
Đất ngập nước ngọt thuộc sông có diện tích 1.963.240 ha, bao phủ vùng đồng
lụt rộng lớn ở trung tâm của đồng bằng. Dạng đất ngập nước ngọt thuộc sông
ngập thường xuyên là các nhánh chính của sông Tiền, sông Hậu, các sông khác
và các dòng kênh, có diện tích 128.139 ha. Dạng đất ngập nước ngọt thuộc
sông ngập không thường xuyên là các cánh đồng canh tác lúa nước, các vườn
cây ăn trái và các diện tích canh tác nông nghiệp khác, có diện tích 1.771.381
ha.
Đất ngập nước ngọt thuộc hồ ở đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 56.389
ha, phân bố ở vùng hồ rừng Tràm U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau), hồ rừng Tràm U
Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) và ở Vườn quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng
Tháp).
Đất ngập nước thuộc đầm có diện tích 229.363 ha, dạng đất ngập nước chủ yếu
là đất ngập nước thuộc đầm ngập không thường xuyên, sử dụng để canh tác
nông nghiệp, phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên.
Vai trò của đất ngập nước:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 20
ĐNN là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người nhiều loại
nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí và nơi lưu trữ các nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra, đất
ngập nước còn có vai trò quan trọng trong thiên nhiên và môi trường như lọc nước
thải, điều hòa vi khí hậu, chống xói lở bờ biển, ổn định mực nước ngầm, là nơi trú
Thủ phủ
Khoảng cách
với TP HCM
(Km)
ĐBSCL
40,263
17,099
425 TP Cần Thơ
1,389
1,127.1
811
TP Cần Thơ
169
Long An
4,993
1,407.1
282
Thị xã Tân An
47
Đồng Tháp
3,238
1,643.7
508
TX Cao Lãnh
143
An Giang
1608
776.3
483
TX Vị Thanh
230
Trà Vinh
2,215
1,015.8
459
TX Trà Vinh
200
Sóc Trăng
3,223
1,259.8
391
TX Sóc Trăng
230
Bạc Liêu
2,547
786.4
309
TX Bạc Liêu
280
Cà Mau
5,211
1,198.1
230
TP Cà Mau
247
Bảng3: Đơn vị hành chính đồng bằng sông Cửu Long
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Ô nhiễm đất đồng bằng sông Cửu Long
Nhóm III lớp DH06QM Page 23
CHƯƠNG III: Ô NHIỄM ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
III.1. Những khái niệm có liên quan:
III.1.1. Ô nhiễm đất:
Đất bị ô nhiễm là đất bị thay đổi tính chất, chứa những chất độc hại đối với sự sống
của con người và sinh vật.
Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân
gây ô nhiễm.
Nếu theo nguồn gốc phát sinh thì có:
Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt
Ô nhiễm đất do các chất thải công nghiệp
Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
Nếu theo tác nhân gây ô nhiễm:
Ô nhiễm đất do tác nhân hóa học: ví dụ như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
chất thải sinh hoạt và công nghiệp.
Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: vi khuẩn, giun sán, ký sinh trùng…
Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: các chất phóng xạ
Chất ô nhiễm đi vào đất nhiều nhưng đi ra rất ít, vì sau khi thấm vào trong đất, chất ô
nhiễm sẽ ở lại và lưu tồn trong đất. Yếu tố này phụ thuộc nhiều vào khả năng tự làm
sạch của đất.
III.1.2. Khả năng tự làm sạch của đất:
Là khả năng tự điều tiết của đất trong hoạt động của môi trường đất thông qua một số
cơ chế đặc biệt để giảm thấp ô nhiễm từ ngoài vào, tự làm trong sạch và loại trừ các
chất độc hại cho đất. Mức độ làm sạch phụ thuộc vào các yếu tố như:
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -