Phân tích tình hình sản xuất và cung cấp giống tôm sú (Penaeus monodon) ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long - Pdf 11


i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN TIẾN DIỆT
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ CUNG CẤP
GIỐNG TÔM SÚ (Penaeus monodon)
Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. LÊ XUÂN SINH
PGs.Ts. TRẦN NGỌC HẢI
2011
iii
iv TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu về “Phân tích tình hình sản xuất và cung cấp giống tôm sú
(Penaeus monodon) ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” được tiến hành từ
tháng 8/2010 đến tháng 04/2011 nhằm làm rõ thực trạng sản xuất giống và
kinh doanh tôm giống ở ĐBSCL. Trên cơ sở đó cung cấp các thông tin cho các
bên liên quan và đề xuất các giải pháp cơ bản góp phần cải tiến hiệu quả của
việc sản xuất giống và kinh doanh, cũng như công tác quản lý chất lượng tôm
giống với sự quan tâm của người sản xuất và người sử dụng tôm giống.
Nghiên cứu này được thực hiện ở 6 tỉnh ĐBSCL gồm hai vùng: ven biển (Bến
Tre; Trà Vinh; Bạc Liêu; Cà Mau; Kiên Giang) và Thành phố Cần Thơ.
Phương pháp điều tra sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn được áp dụng cho các
nhóm đối tượng nghiên cứu. Số mẫu thu thập gồm: 67 trại sản xuất tôm
giống; 61 cơ sở ương vèo tôm giống; 20 Hiệp hội, các ban ngành và Viện
Trường.
Kết quả khảo sát cho thấy kinh nghiệm tham gia SXG của chủ cơ sở trung
bình là 9.8 năm, cơ sở ương vèo là 7,8 năm. Các chủ cơ sở tiếp nhận nguồn
thông tin kỹ thuật phổ biến nhất kinh nghiệm (SXG chiếm 92,5%, cơ sở ương
chiếm 88,5%) và tham gia các đợt tập huấn (SXG 68,7%, ương vèo chiếm

kiểm dịch 38,52% lượng tôm giống thả nuôi).
Hệ thống văn bản quản lý chưa phù hợp với tình hình thực tế. Các qui định về
kiểm dịch, qui chuẩn kỹ thuật chậm ban hành, chưa có sự thống nhất cao về
phương thức quản lý từ Trung ương đến địa phương.

vi

ABSTRACT
The study "status of production and supplying of black tiger shrimp post
larvae (Penaeus monodon) in the Mekong Delta" was carried out from August
2010 to Apil 2011 in two regions: the coastal Provinces (Ben Tre, Tra Vinh,
Bac Lieu, Ca Mau, Kien Giang) and Can Tho city with 67 shrimp hatcheries,
61 nursery sites; 20 associations, departments and institutes, universities. This
research described the procedure situation and trading as well as black tiger
shrimp seed usage in these areas. This also help to provide appropriate
information and to suggest the suitable solutions for many different elements
as well as the seed quality management with the interest of producers and seed
users.

actual situation. Quarantine regulations, the technical regulation issued later,

vii

no consensus on how higher management from ministry to localities.

CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên
cứu của tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ
luận văn cùng cấp nào khác.

Ngày 8 tháng 6 năm 2011
Ký tên viii

MỤC LỤC

Mục lục Trang
CẢM TẠ ii

TÓM TẮT iv

ABSTRACT vi


2.2 Tình hình sản xuất giống tôm sú trên thế giới và Việt Nam 10

2.2.1 Tình hình sản xuất giống tôm sú trên thế giới 10

2.2.2 Tình hình sản xuất giống tôm sú ở Việt Nam 11

2.2.3 Tình hình sản xuất giống tôm sú ở ĐBSCL 11

2.3 Các khái niệm cơ bản trong kinh tế thủy sản 14

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính 15

PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Phương pháp nghiên cứu 18

3.1.1 Nguồn thông tin và phương pháp thu thập số liệu 18

3.1.2 Phân bố mẫu 18ix

3.2 Ph
ương pháp xử lý và phân tích số liệu 18

3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 19

3.2.2 Phương pháp so sánh thống kê 19


4.2.3.1 Năng suất PL trong sản xuất giống 36

4.2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất tôm PL của trại SXG 40

4.3 Thông tin về hoạt động của cơ sở kinh doanh giống 47

4.3.1 Qui mô của cơ sở kinh doanh giống 48

4.3.2 Tình hình kinh doanh của cơ sở ương vèo giống tôm sú 48

4.3.3 Các chỉ tiêu kinh tế trong ương vèo tôm giống 52

4.5 Đánh giá rủi ro trong hoạt động sản xuất giống và ương vèo 55

4.6 Phân tích ma trận SWOT trong xản xuất và kinh doanh tôm sú giống 57

4.6.1 Điểm mạnh (Strength) 58

4.6.2 Điểm yếu (Weakness) 58

4.6.3 Cơ hội (Opportunity) 59

4.6.4 Nguy cơ (Threat) 59

4.6.5 Phân tích kết hợp các yếu tố 60x

4.6.5.1 K


5.2 Đề xuất 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC 76
xi DANH SÁCH BẢNG

Bảng Trang
Bảng 2.1 Diễn biến về diện tích, sản lượng, năng suất NTTS nước lợ vùng ĐBSCL
(2001-2010) 8

Bảng 2.2 Diện tích nuôi nước lợ (2008), tôm sú (2010) theo phương thức nuôi ở
ĐBSCL 9

Bảng 3.1 Phân bổ số mẫu khảo sát 18

Bảng 3.2 Phân tích ma trận SWOT trong sản xuất giống và cơ sở kinh doanh giống
tôm sú ở ĐBSCL 21

Bảng 3.3 Các biến chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu 21

Bảng 4.1 Một số thông tin chung của các cơ sở SXG và cơ sở ương giống 22



Bảng 4.16 Chi phí cố định của trại sản xuất tôm giống 37

Bảng 4.17 Chi phí biến đổi của trại sản xuất giống tôm sú 38

Bảng 4.18 Tổng chi phí, thu nhập và lợi nhuận SXG 39xii

B
ảng 4.19 Tổng chi phí, thu nhập và lợi nhuận trong SXG cho PL 40

Bảng 4.20 Tương quan đa biến giữa các biến độc lập ảnh hưởng đến NS tôm PL 42

Bảng 4.21 Các chỉ tiêu tài chánh của trại sản xuất giống 47

Bảng 4.22 Một số thông tin về thiết kế xây dựng trại ương vèo 48

Bảng 4.23 Thời vụ và số đợt kinh doanh 49

Bảng 4.24 Những tháng kinh doanh tốt nhất (Thống kê nhiều lựa chọn) 49

Bảng 4.25 Thông tin kỹ thuật của cơ sở ương vèo 50

Bảng 4.26 Nguồn cung cấp tôm giống cho trại vèo 51

Bảng 4.27 Sản lượng thu hoạch, kích cở, tỷ lệ sống trong ương vèo tôm giống 52

Bảng 4.28 Chi phí cố định của cơ sở ương vèo 53


Hình Trang
Hình 1: Bản đồ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và địa điểm khảo sát 20

Hình 4.1 Công suất thiết kế và thực tế giữa các vùng khảo sát 26

Hình 4.2 Mối quan hệ giữa vùng với năng suất trong SXG 43

Hình 4.3 Mối quan hệ giữa số đợt sản suất với năng suất trong SXG 44

Hình 4.4 Mối quan hệ giữa lượng thức ăn tổng hợp với năng suất trong SXG 45

Hình 4.5 Mối quan hệ giữa chi phí thuốc hoá chất với năng suất trong SXG 46

Hình 4.7 Diện tích và sản lượng nuôi tôm sú qua các giai đoạn (từ 2001 đến 2010) 62

Hình 4.8 Năng suất bình quân toàn vùng ĐBSCL 62

Hình 4.9 Số trại và tổng lượng tôm giống ở ĐBSCL 63

Hình 4.10 Tổng lượng tôm giống thả nuôi năm 2010 64
xiv DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP: Chi phí
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

Chất lượng và giá trị của các sản phẩm nuôi trồng ngày càng cao trở thành nguồn
nguyên liệu chính cho chế biến và đóng góp đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu
thủy sản chung của cả nước.
Sản xuất giống (SXG) tôm sú cung cấp cho nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL đã có
những tiến triển khả quan; mạng lưới ương nuôi, cung cấp con giống phát triển
mạnh mẽ về số lượng, chất lượng giống; tính năng động và linh hoạt của hệ
thống cung ứng giống đã góp phần đáng kể vào kết quả nuôi tôm sú ở địa
phương; năm 2001, toàn vùng chỉ có 862 trại SXG với sản lượng 3.952 triệu tôm
giống, đến năm 2005 đã lên đến 1.280 trại SXG, với sản lượng 12.000 triệu
giống tương ứng, chiếm 29,2% số trại SXG và 42,05 % lượng tôm giống sản xuất
so với cả nước (4.300 trại SXG và 29.000 triệu con tôm giống); sau 6 năm số trại
SXG tăng 1,48 lần và sản lượng tôm giống được sản xuất trong vùng tăng 3,04
lần (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009). Năm 2009, ĐBSCL có 1.105
trại SXG tôm nước lợ đang hoạt động, trong đó có 1.100 trại SXG tôm sú và 05
trại SXG tôm chân trắng, đã sản xuất hơn 9 tỷ con giống tôm sú và hơn 250 triệu
con giống tôm chân trắng (Cục Nuôi trồng thủy sản, 2009). Các tỉnh có năng lực
SXG tôm mạnh nhất ở ĐBSCL là Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Kiên Giang và
Bến Tre và số lượng giống đó chỉ đáp ứng được 40,5 % nhu cầu của nghề nuôi
trong vùng (28.740 triệu con) (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009). Năm
2010 ĐBSCL có 1.220 trại SXG sản xuất 20,915 tỷ tôm giống đáp ứng 50,77%
lượng giống thả nuôi (Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL năm 2010).
Theo Lê Xuân Sinh (2006) vào năm 2000 – 2001 Cần Thơ có khoảng 30 trại
SXG tôm sú theo qui trình lọc sinh học, tuần hoàn, có giá bán Post larvae (PL)
thường xuyên cao gấp 1,5 – 2 lần so với tôm giống thông thường. Năm 2005 Cần
Thơ chỉ còn 13 trại SXG tôm sú ứng dụng qui trình lọc sinh học, tuần hoàn đem
lại hiệu quả cao cung cấp giống sạch của vùng ĐBSCL (Nguyễn Thanh Phương,
2005). Năm 2010 số trại SXG tôm sú tăng lên 20 trại (Chi cục Thủy sản Cần

2


xuất và ương, vèo giống tôm sú.
(4) Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm cải thiện hiệu quả sản xuất kinh
doanh cũng như công tác quản lý tôm sú giống ở ĐBSCL. 3

1.3 Nội dung của đề tài
1- Tổng hợp các thông tin liên quan tới tình hình sản xuất, ương giống và
công tác quản lý cũng như qui hoạch phát triển giống phục vụ nghề nuôi tôm bền
vững của ĐBSCL.
2- Khảo sát tình hình sản xuất giống, ương giống tôm sú tại các tỉnh trọng
điểm trong vùng nghiên cứu (Cần Thơ, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh và
Kiên Giang).
3- Thu thập số liệu về kiểm dịch (tỉ lệ đạt yêu cầu, không đạt yêu cầu, xử lý
vi phạm…) đối với sản xuất giống trong tỉnh, nhập tỉnh.
4- Phân tích các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của trại sản xuất giống
và cơ sở ương, vèo giống tôm sú.
5- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận của trại sản
xuất giống và cơ sở ương, vèo giống.
6- Phân tích những thuận lợi và khó khăn để đề xuất các giải pháp khả thi
về kinh tế - kỹ thuật và quản lý góp phần phát triển hợp lý việc sản xuất kinh
doanh tôm sú giống cho nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL.

1.4 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
Đề tài dự kiến được tiến hành từ tháng 8/2010 đến tháng 04/2011. Điều tra thu
mẫu các tỉnh, thành: Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, và Kiên
Giang.
Nhập, xử lý số liệu và viết báo cáo được thực hiện tại Đại học Cần Thơ.


quả của sự đóng góp lớn sản lượng từ nguồn nuôi trồng mà còn có sự tăng trưởng
sản lượng từ nguồn thủy sản khai thác tự nhiên (FAO, 2005).
Mười nước đứng đầu thế giới về sản lượng nuôi trồng thủy sản theo thứ tự gồm:
Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Bangladesh, Chile, Nhật
Bản, NaUy và Philippines. Năm 2006, sản lượng nuôi trồng thủy sản của
Việt Nam là 1,67 triệu tấn, đứng thứ 3 thế giới (FAO, 2006).
Nghề nuôi trồng thủy sản nội địa tiếp tục đóng góp chính cho nghề nuôi
thủy sản nói chung, với hơn 61% sản lượng và 53% tổng giá trị sản

5

phẩm nuôi trồng. Nuôi thủy sản nước ngọt chiếm 58% sản lượng và 48%
giá trị, nuôi biển chiếm 34% sản lượng và 36% giá trị. Trong khi đó,
nuôi nước lợ với tỷ lệ sản lượng thấp 8% nhưng cho tỷ lệ giá trị đến 16% do
nuôi chủ yếu các loài tôm có giá trị cao (Nguyễn Thanh Phương, Giáo trình
NTTS, 2009).
Cơ cấu nhóm loài nuôi cho thấy, năm 2006, cá nước ngọt cho sản lượng cao nhất
là 27,8 triệu tấn, đạt giá trị 29,5 triệu USD; động vật thân mềm và rong biển cho
sản lượng và giá trị tương đương nhau. Trong khi đó, giáp xác có sản lượng chỉ
4,5 triệu tấn nhưng đạt giá trị đến 17,95 triệu USD (FAO, 2006).
Hầu hết sự tăng sản lượng thuỷ sản của thế giới phải dựa vào ngành nuôi thuỷ
sản (NTTS), trong đó các nước đang phát triển khu vực châu Á - Thái Bình
Dương đóng góp xấp xỉ 90% sản lượng và gần 75% giá trị. Sản lượng NTTS từ
mức 1 triệu tấn vào những năm 1950 đã lên tới hơn 50 triệu tấn năm 2006, Trung
Quốc sản xuất 67% tổng sản lượng và 49% tổng giá trị (FAO, 2008).
Trên thế giới, Châu Á cho sản lượng thủy sản nuôi trồng lớn nhất, chiếm
89% tổng sản lượng và 77% tổng giá trị sản phẩm thủy sản nuôi trồng thế giới
năm 2006. Năm 2006, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới là 51 triệu tấn
và sản lượng khai thác là 92 triệu tấn. Trong số này, Trung Quốc chiếm 66,7%
tổng sản lượng nuôi, các nước Châu Á khác chiếm 22,8%, và các nước khác còn

10 tấn/ha với mật độ nuôi 80-120 PL/m
2
Nước này đã có kế hoạch nuôi trở lại
tôm sú.
Ấn Độ: Sản lượng tôm nuôi năm 2008 chỉ đạt 70.000 tấn. Năm 2009 đạt 95.000
tấn. Sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ thấp vì giảm diện tích vùng nuôi, mật độ thả
giống thấp 5-10 PL/m
2
thất bại do dịch bệnh, chủ yếu là bệnh đốm trắng.
Philippin: Năm 2008, sản lượng tôm nuôi của Philippin là 54.000 tấn, sang năm
2009 giảm, ước chỉ đạt 35.000 tấn.
2.1.2 Tình hình nghề nuôi tôm sú ở Việt Nam
Nghề NTTS của Việt Nam hiện đang phát triển nhanh chóng, nhất là trong
khoảng hơn một thập niên trở lại đây. Việt Nam vào Năm 2000, với 250.000 ha
diện tích nuôi tôm đến năm 2001 đã tăng lên 478.000 ha. Chỉ trong vòng 1 năm,
235.000 ha gồm 232.000 ha ruộng lúa, 1.900 ha ruộng muối và 1.200 ha diện tích
đất hoang hoá ngập mặn đã được chuyển đổi thành ao nuôi tôm. Tốc độ tăng đã
có phần chững lại, nhưng trong các năm 2002 và 2003, diện tích nuôi tôm ở Việt
Nam vẫn tiếp tục tăng. Đến hết năm 2003 cả nước có 530.000 ha diện tích nuôi
tôm. Diện tích này bao gồm cả phần nuôi tôm luân canh với trồng lúa (Bộ Thuỷ
sản, 2001).
Trong NTTS thì tôm sú là đối tượng nuôi quan trọng. Nuôi tôm sú ở Việt Nam
bắt đầu từ những năm 1990 nhưng dấu mốc nhảy vọt nhanh chóng là vào những
năm 2000 -2005, đặc biệt là ở vùng ĐBSCL. Năm 2005 tổng sản lượng thuỷ sản
của Việt Nam đạt 432.000 tấn với giá trị kim nhạch xuất khẩu là 2,62 tỷ USD.
Nuôi trồng thủy sản chiếm tỉ lệ 41,8% tổng sản lượng và hơn 62% tổng giá trị
kim ngạch xuất khẩu 1,623 tỷ USD của cả nước (Bộ Thủy Sản 2006). Năm 2006
diện tích NTTS tăng thêm 15.600 ha đưa tổng số diện tích NTTS của cả nước đạt
khoảng 1.050.000 ha, trong đó riêng diện tích nuôi tôm nước lợ (chủ yếu là tôm
sú) là 585.000 ha. Tổng sản lượng nuôi tôm nước lợ (chủ yếu là tôm sú) đạt

2006). Tuy tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi vẫn không được ngăn chặn triệt để,
các loại bệnh xuất hiện trên tôm sú như bệnh đốm trắng, bệnh đầu vàng, bệnh
phân trắng,… đã gây thiệt hại cho nhiều hộ nuôi trên nhiều vùng nuôi của cả
nước. Nhưng từ năm 2005 cho đến nay kết quả xét nghiệm tôm giống cho thấy
bệnh đốm trắng trên tôm sú Post larvae có chiều hướng giảm đi. Kết quả xét
nghiệm phát hiện bệnh đốm trắng năm 2003: 5,85%; năm 2004: 4,87%; năm
2005: 4,215; năm 2006: 1,32% (Phân Viện nghiên cứu Thủy sản Minh Hải,
2007).
Giai đoạn 2001-2007, NTTS vùng ĐBSCL đã có sự tăng trưởng cả về diện tích,
sản lượng và giá trị, giải quyết việc làm; từng bước phát triển thành một nghề sản
xuất quy mô hàng hóa, có tính cạnh tranh cao. Tổng diện tích có khả năng phát
triển NTTS của vùng khoảng 1.366.430 ha, trong đó nuôi mặn lợ 886.249 ha
(chiếm 89% so với toàn quốc). Diện tích nuôi của vùng tăng từ 527.398 ha năm
2001 lên 746.373 ha năm 2008, chiếm 54% diện tích có khả năng, đạt tốc độ tăng

8

trưởng bình quân 5,09%/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trung bình về sản
lượng thủy sản nuôi đạt cao hơn so với tăng diện tích và đạt 22,80%/năm (từ
462.441 tấn năm 2001 lên 1.947.346 tấn năm 2008) chiếm trên 80% so với tổng
sản lượng NTTS toàn quốc (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009).
Bảng 2.1 Diễn biến về diện tích, sản lượng, năng suất NTTS nước lợ vùng ĐBSCL
(2001-2010).
TT Địa Phương Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Năng suất
(tấn/ha)
Năm 2001 2010 2001 2010 2001 2010
1 Long An 3.288 5.678 1.936 6.483 0,5 1,00

2 Tiền Giang 4.610 6.805 17.292 32.628 0.54 2,96

phủ, các tỉnh trong vùng đã rà soát quỹ đất, các loại mặt nước, các vùng làm
muối kém hiệu quả, các vùng đất cát hoang hóa quy hoạch chuyển đổi và triển
khai các dự án NTTS, nên tốc độ tăng trưởng diện tích giai đoạn này đạt cao hơn
các giai đoạn còn lại. Xét theo các địa phương, trong 8 năm qua, tốc độ tăng diện
tích NTTS vùng ĐBSCL có sự khác nhau giữa các tỉnh; cao nhất ở Hậu Giang
(49,63%/năm), Trà Vinh (23,67%/năm), Kiên Giang (18,8%/năm), các tỉnh còn
lại đạt tốc độ tăng không cao (dưới 9,69%/năm) (Viện Kinh tế và Quy hoạch
thủy sản, 2009).
Diện tích NTTS nước mặn, lợ của vùng ĐBSCL chủ yếu tập trung ở các tỉnh ven
biển vùng ĐBSCL thuộc các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên
Giang, Bến Tre, Tiền Giang và Long An. Đến năm 2010, tỉnh dẫn đầu là Cà Mau
đạt 266.952 ha, kế đó là Bạc Liêu 128.552 ha, Riêng tỉnh Hậu Giang được tách
ra từ tỉnh Cần Thơ, do đó chỉ có khoảng 45 ha nuôi tôm sú luân canh lúa năm

9

2008, đến năm 2010 giảm còn 28 ha ở huyện Long Mỹ (Viện Kinh tế và Quy
hoạch thủy sản, 2009).
Đối với tôm mặn lợ tôm sú vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các đối tượng nuôi mặn,
lợ của vùng. Năm 2008, đạt 583.290 ha, chiếm 94,48% tổng diện tích nuôi mặn
lợ. Trong đó, diện tích nuôi tôm sú chủ yếu tập trung ở vùng Bán đảo Cà Mau
với 264.522 ha (chiếm 45% diện tích nuôi tôm của vùng); Tôm chân trắng mới
được đưa vào nuôi trong năm 2008 với diện tích là 1.399 ha, chiếm tỷ lệ nhỏ
khoảng 0,23% tổng diện tích mặn lợ của vùng, phương thức nuôi chủ yếu QCCT
(chiếm 54,79% tỷ trọng đối tượng và chiếm 51,89% so với tổng diện tích NTTS
của cả vùng ĐBSCL), nuôi tôm lúa chiếm 28,84% tỷ trọng của nuôi tôm và
27,32% tổng diện tích NTTS của vùng. Diện tích nuôi BTC và TC chỉ chiếm
6,77% trong tổng diện tích nuôi tôm nước lợ (trong đó diện tích nuôi thâm canh
chiếm thấp hơn 4%). Năm 2010 diện tích nuôi tôm sú giảm so với 2008 nhưng tỷ
lệ nuôi TC/BTC tăng từ 7,14 lên 13%(Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản,


13

QCCT 320.343

54,79

51,89

307.307

55

Tôm lúa 168.633

28,84

27,32

139.685

25

Tôm vườn 3.834

0,66

0,62

11.175

558.740 100

Nguồn: Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009, Sở NN&PTNT các tỉnh 2010.
Trong giai đoạn 2001-2008, sản lượng thủy sản nuôi nước lợ vùng ĐBSCL tăng
từ 224.183 tấn lên 627.243 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
12,9%/năm. Trong đó, tôm biển 16,7%/năm, nhuyễn thể 7,10%/năm và các đối
tượng khác 3,2%/năm. Tôm biển (chủ yếu là tôm sú) vẫn chiếm tỷ trọng lớn
trong tỷ lệ cơ cấu sản lượng nuôi, khoảng 44 - 65%, nhuyễn thể 16 - 29% và các

10

đối tượng khác chỉ đạt 20-28% tổng sản lượng nuôi nước lợ trong giai đoạn năm
2001 - 2008. So với toàn quốc, tôm nuôi ở ĐBSCL luôn chiếm 83% sản lượng
tôm nuôi toàn quốc và đạt tốc độ tăng bình quân 16,7%/năm, trong khi cả nước
đạt 11,5%/năm. Không giống như cơ cấu diện tích nuôi, sản lượng tôm nuôi
không chỉ tập trung ở vùng Bán đảo Cà Mau mà còn phân bố ở các tỉnh khu vực
hạ lưu sông Tiền và sông Hậu. Năng suất tôm nuôi bình quân có xu hướng tăng
từ 0,35 tấn/ha năm 2001 lên đến 1,06 tấn/ha năm 2008, tốc độ tăng năng suất
bình quân đạt 12,5%/năm. Năng suất tôm sú có sự biến động lớn giữa các
phương thức nuôi và giữa các địa phương (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản,
2009) (Số liệu chi tiết được trình bày phần phụ lục 1,2,3,4).
Theo Lê Xuân Sinh & ctv (2005) cho thấy chi phí cố định cho nuôi tôm sú
thường xuyên chiếm 8-10% tổng chi phí hàng năm tuỳ theo mức đầu tư vào công
trình và trang thiết bị thì chi phí nuôi tôm phụ thuộc chủ yếu vào việc mua giống,
thức ăn, thuốc thú y thủy sản và chi phí trả công lao động (bao gồm cả sên, vét,
trông coi và thu hoạch). Tác giả cũng phân tích rõ sử dụng nguồn tôm bố mẹ,
cung cấp giống và quản lý giống là 3 vấn đề cần giải quyết cùng lúc mới có thể
phát triển nghề nuôi tôm ven biển ở ĐBSCL theo hướng bền vững.
2.2 Tình hình sản xuất giống tôm sú trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất giống tôm sú trên thế giới

tử, Bộ Nông Nghiệp, 2010).
Theo Trần Ngọc Hải, 2009. Nghề sản xuất tôm biển (trong đó có tôm sú) ở Việt
Nam có những bước tiến quan trọng và có thể tóm lược như sau:
- Đầu 1970s, nghiên cứu sinh sản nhân tạo tôm biển đầu tiên, với loài P.
merguiensis, P. penicillatus, P. japonicus.
- Trại nghiên cứu sản xuất giống đầu tiên được thành lập vào 1982, tại Qui
Nhơn, do FAO tài trợ.
- 1985: sản xuất thành công tôm sú (P. monodon) tại Nha Trang, và tôm sú
trở thành đối tượng chủ yếu trong sản xuất giống ở Miền trung.
- 1994: cả nước có 800 trại SXG.
- 1999: cả nước có 2.125 trại SXG.
- 2002: cả nước có khoảng 3.000 trại SXG.
- Riêng tôm thẻ chân trắng năm 2002 được nhập từ Mỹ và thử nghiệm sản
xuất giống thành công, đến năm 2009 có khoảng 490 trại tôm thẻ trong tổng số
3.377 trại SXG tôm giống.
2.2.3 Tình hình sản xuất giống tôm sú ở ĐBSCL
Sản xuất tôm sú giống ở ĐBSCL đã có những tiến triển khả quan. Mạng lưới
ương nuôi cung cấp con giống cho nghề nuôi phát triển mạnh mẽ về số lượng;
chất lượng giống cũng được cải thiện rất nhiều so với thời kỳ mới chuyển đổi
(2000); tính năng động và linh hoạt của hệ thống cung ứng giống tôm sú ở
ĐBSCL đã góp phần đáng kể vào kết quả nuôi tôm ở địa phương. Số lượng trại
và sản lượng tôm giống sản xuất ở các tỉnh liên tục tăng (Viện Kinh tế và Quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status