TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN ĐỖ TIẾN HẢO
TÌNH HÌNH XUẤT HIỆN BỆNH MỦ GAN TRÊN CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) NUÔI THÂM CANH Ở
MỘT SỐ TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. NGUYỄN THỊ THU HẰNG
2009
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến với giáo viên hướng
dẫn đề tài là cô Nguyễn Thị Thu Hằng và cô Đặng Thị Hoàng Oanh đã
tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Tôi cũng xin cám ơn đến toàn thể Quý Thầy Cô và cán bộ Khoa Thủy
2.4.2 Phân bố địa lý và mùa vụ xuất hiện 9
2.4.3 Các yếu tố ảnh huởng đến khả năng bộc phát của vi khuẩn E. ictaluri 9
2.4.4 Dấu hiệu bệnh lý, chẩn đoán và điều trị 10
2.5 Thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản 10
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
3.2 Phương pháp nghiên cứu 14
3.2.1 Thu thập các thông tin sơ cấp 14
3.2.2 Thu thập các thông tin thứ cấp 15
3.2.3 Phươ
ng pháp xử lý số liệu và phân tích số liệu 15
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ THẢO LUẬN 16
4.1 Kết quả điều tra tình hình xuất hiện bệnh mủ gan do E. ictaluri ở Đồng Tháp,
Vĩnh Long, An Giang và Cần Thơ 16
4.1.1 Kết quả khảo sát diện tích, mật độ, nguồn nước và mùa vụ xuất hiện
bệnh mủ gan 16
4.1.2 Những bệnh thường gặp ở cá tra nuôi thâm canh 17
4.2 Kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc/hóa chất phòng trị bệnh mủ gan 19
4.2.1 Mục đích sử dụng thuốc/hóa chất 19
4.2.2 Hóa chất khử trùng và diệt tạp 19
4.2.3 Kháng sinh dùng trị bệnh cho cá tra 21
CHUƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 24
5.1 Kết luận 24
5.2 Đề xuất 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 28
iii
TÓM TẮT
Đề tài “Tình hình xuất hiện bệnh mủ gan trên cá tra (Pangasianodon
ẩu.
Đặc biệt từ khi chúng ta hoàn toàn chủ động về giống nhân tạo thì nghề nuôi càng
ổn định và có những bước phát triển vượt bậc (Dương Nhật Long, 2003).
Cá tra là một trong các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu chủ lực của các tỉnh Đồng
Tháp, Vĩnh Long, An Giang và Cần Thơ… Từ năm 1996-2006, diện tích nuôi cá
tra, basa tăng gấp 7 lần, sản lượng tăng 36,2 lần, từ 22.000 tấn năm 1997 đã tăng
lên 800.000 tấ
n vào năm 2006 (Nguyễn Trọng Bình, 2008). Sản phẩm thuỷ sản
không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới, năm 2004 cả
nước xuất khẩu thuỷ sản thu về 240 triệu USD và năm 2006 là 661 triệu USD.
Hiện nay cá tra đã được xuất khẩu sang 80 quốc gia (Bộ Thuỷ Sản, 2007). Để có
sản lượng như thế ngoài việc tăng diện tích nuôi thì người nuôi còn tăng mật độ
nuôi làm xuất hiện nhiều loại bệnh như mủ gan, bệnh đốm đỏ, bệnh xuất huyết,
một số bệnh nấm, kí sinh trùng … Trong đó, bệnh mủ gan do vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri gây thiệt hại nhiều cho nghề nuôi cá tra thâm canh trong
những năm gần đây. Ở Việt Nam bệnh mủ gan được phát hiện lần đầu tiên năm
1998 trên cá tra, thỉnh thoảng trên cá basa, xuất hiện ở tất cả cá giai đoạn củ
a cá
tra (Từ Thanh Dung và ctv, 2005). Đầu năm 2006 các tỉnh An Giang và Đồng
Tháp, cá chết do bệnh mủ gan lên tới 60% (Tài nguyên và môi trường Việt Nam,
2006; trích dẫn bởi Lương Trần Thục Đoan, 2006). Kết quả điều tra bệnh mủ gan
trên cá tra nuôi thâm canh ở An Giang của Crumlish et al. (2006) cũng cho thấy
có đến 55% các hộ nuôi cá bị nhiễm bệnh mủ gan.
Theo kết quả nghiên cứu của Lương Trần Thục Đoan (2006), thí nghiệm cảm
nhiễm (ngâm và tiêm) cá tra vớ
i dòng vi khuẩn E. ictaluri 224 ở nhiều nồng độ
khác nhau cho thấy sự xuất hiện đầu tiên của vi khuẩn E. ictaluri ở cơ quan máu
cá kế đến các cơ quan não, cơ, tim, mang, thận, gan, tỳ tạng và bóng hơi định
đường xâm nhập của vi khuẩn. Kết quả, thấy cá chết và vi khuẩn xuất hiện ở các
cơ quan máu, não, cơ, tim, mang, thận, gan, tỳ tạng và bóng hơi. Kết quả này cho
2
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới và trong nước
2.1.1 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá basa (Pangasius bocourti) là hai
trong số các loài cá thuộc họ cá da trơn có giá trị kinh tế cao được phân bố ở một
số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam. Cá tra
được nuôi hầu hết ở các nước Đông Nam Á và là một trong các loài cá nuôi quan
trọng trong khu vực này. Ở Campuchia, sản lượng nuôi cá tra chiếm bằng một
nửa sản lượng các loài cá nuôi, trong đó tỷ lệ cá tra chiếm 98% trong 3 loài thuộc
họ cá tra, chỉ
có 2% là cá basa và cá vồ đém. Tại Thái Lan chỉ đứng sau cá rô phi
Tilapia nilotica và Thái Lan cũng chính là nước đầu tiên thành công trong sinh
sản nhân tạo cá tra vào năm 1966, đến năm 1970 đã chủ động cung cấp giống cho
nghề nuôi cá tra trong nước (Lê Minh Toán và Bùi Huy Cộng, 2003; Phan
Minh Tân, 2005).
Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan là những nước sản xuất cá da trơn hàng đầu
thế giới với sản lượng hàng năm hơn 1 triệu tấn. Trong đó Mỹ là thị trường tiêu
thụ cá da trơn lớn nhấ
t trên thế giới (Phan Minh Tân, 2005). Sản lượng cá da trơn
đang ngày một phát triển tại Trung Quốc. Năm 2003, Trung Quốc bắt đầu xuất
khẩu phi-lê cá da trơn (Ictalurus punctatuc) vào thị trường Mỹ. Tổng sản lượng
mặt hàng này trong năm 2007 đạt hơn 20.000 tấn và chủ yếu là xuất sang Mỹ.
Tăng gấp 6 lần so với năm 2006 và trở thành nhà cung cấp chính cho thị trường
Mỹ (Viettrade, 2007; Josupeit, 2007; trích dẫn bởi Nguyễn Tấn Duy Phong,
2008).
Cá da tr
ơn (Pangasius spp.) đã được sinh sản và nuôi thành công tại Pueto Rico
với kết quả đạt được giống như ở châu Á (34 tấn/ha). Điều này có ý nghĩa quan
Theo Vinanet, năm 2007, dự báo nhu cầu tiêu thụ cá da trơn nói chung trên thế
giới vẫn tiếp tục tăng cao. Với ước tính sản lượng nuôi đạt 1 tri
ệu tấn năm 2007,
ngành nuôi cá tra, basa của Việt Nam sẽ vượt qua ngành nuôi cá hồi của Na Uy
hoặc của Chile, thậm chí còn vượt qua sản lượng cá rô phi của nước láng giềng
Trung Quốc (Viettrade, 2007).
Họ cá da trơn Pangasidea tập trung ở một số nước Đông Nam Á, nơi hoạt động
nuôi cá lồng, cá đăng quầng trên sông, hay ao theo quy mô nhỏ của nông dân
ngày càng phát triển. Tại Việt Nam, cá da trơn được nuôi chủ yếu ở ĐBSCL, phổ
biến là cá tra và cá basa. Cá gi
ống phụ thuộc vào nguồn vớt tự nhiên. Người nuôi
cá phải mua cá con của ngư dân vớt trong mùa cá bột chảy theo sông Mê Kông từ
Lào và Campuchia nhưng khá giới hạn về số lượng (Nguyễn Xuân Thành, 2004;
Thanh Tung và ctv, 2003; McGee và Mace, 2006).
Từ tháng 8 năm 1994, khoa Thuỷ sản trường Đại học Cần Thơ đã kết hợp với
CIRAD (Pháp) và công ty Agifish (An Giang) nghiên cứu thành công việc sinh
sản nhân tạo cá basa (Thoại Sơn, 2006). Từ đó, con giống với số lượng l
ớn và chi
phí thấp được cung cấp thường xuyên cho nông dân. Theo ước tính của các cơ
quan sản xuất giống, chi phí con giống giảm 2/3 so với trứơc. Bên cạnh đó, những
nghiên cứu về công nghệ nuôi với việc đưa thức ăn viên vào cũng đã giúp rút
ngắn thời gian nuôi và giảm tối thiểu được lượng thức ăn cho 1 kg tăng trọng
(Nguyễn Xuân Thành, 2003).
Hoạt động nuôi cá tra, cá basa bắt đầu phát triển dưới hình thức bè cá và hầ
m cá,
dọc hai bờ sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Đồng Tháp (Thanh Tùng và ctv,
2004; Nguyễn Xuân Thành, 2003). Nuôi cá bè, vốn được du nhập theo kinh
4
nghiệm của ngư dân trên hồ Tông-lê-sáp của Campuchia, nhanh chóng trở thành
Nguồn: MOFI và WB, 2006; Lý Thị Thanh Loan, 2008, Lê Xuân Sinh và ctv,
2008
2.2 Tình hình dịch bệnh trong nuôi thâm canh cá tra ở Việt Nam
Với xu hướng thâm canh trong nghề nuôi cá tra thì bệnh cá xảy ra là điều khó có
thể tránh khỏi. Bệnh là nguyên nhân gây thất thóat cho cá nuôi. Nếu không điều
trị kịp thời, bệnh sẽ lây lan nhanh chóng và dẫn đến kế
t quả không mong muốn.
Bên cạnh đó do quy định sử dụng kháng sinh trên cá rất khắt khe nên người nuôi
sử dụng phương pháp phòng bệnh là chính, hạn chế tối đa việc sử dụng kháng
sinh và đặc biệt là không sử dụng thuốc/hóa chất trong danh mục cấm của Bộ
Thuỷ Sản (MOFI và WB, 2006).
Các bệnh của cá tra, basa được xem là vấn đề lớn thứ hai (sau vấn đề thị trường)
trong các hệ thống nuôi ở
ĐBSCL. Các bệnh này có vẻ khó kiểm soát và điều trị
hiệu quả đối với nông dân nuôi cá tra, basa. Phòng chống dịch bệnh được coi là
5
việc làm chủ yếu trong quản lý sức khoẻ cho cá hiện nay. Theo khảo sát của
CIRAD (2001) thì có hai bệnh xuất hiện trong nuôi cá tra là bệnh đốm đỏ và đốm
trắng, tăng mạnh vào mùa nắng và giảm dần trong mùa mưa (Nguyễn Xuân
Thành, 2004).
Kết quả điều tra tại An Giang và Cần Thơ cho thấy các loại bệnh phổ biến trong
nuôi cá tra thâm canh như sau: Bệnh mủ gan, bệnh đốm đỏ, bệnh phù đầu, bệnh
lở loét, trắng mang-tr
ắng đuôi, lồi mắt-nổ mắt, nấm thuỷ mi, xuất huyết đường
ruột, ký sinh trùng. Trong đó bệnh thường gặp và gây thiệt hại lớn là: bệnh gan
thận mủ với tỉ lệ chết lên đến 80-90% nếu không có biện pháp điều trị kịp thời.
Kế đó là những bệnh phù đầu, mắt lồi, nổ mắt với tỉ lệ cá chết lên đến 60-70%
(Nguyễ
n Chính, 2005).
virus, vi khuẩn và ký sinh trùng) và tác nhân không truyền nhiễm do môi trường,
6
dinh dưỡng. Theo Từ Thanh Dung (2006) thì tần số xuất hiện bệnh vi khuẩn trên
động vật thủy sản là cao nhất với 50,9%. Cũng theo điều tra của Lê Phú Khởi
(2006) tại An Giang đã ghi nhận được một số bệnh xuất hiện trên cá tra với tần
suất khác nhau từ năm 2004 trở lại đây là: bệnh đốm đỏ, mủ gan, ký sinh trùng,
thối đuôi, vàng da, đường ruột, nổ mắt, tuột nhớt, rong bè (bỏ
ăn), sưng thận,
nấm, thối mang. Trong đó bệnh mủ gan xảy ra với tần suất cao nhất.
Vi khuẩn E. ictaluri được Hawke (1979) phân lập đầu tiên trên cá Nheo nuôi tại
châu Mỹ (Ictalurus punctatus) và được xác định là nguyên nhân gây bệnh ESC
(Enteric septicaemia of catfish). Còn ở Việt Nam E. ictaluri gây bệnh trên cá tra
được gọi bệnh mủ gan. Bệnh được ghi nhận đầu tiên ở ĐBSCL vào cuối năm
1998 trên cá tra nuôi bè với dấu hiệu bệnh có nhiều nốt trắng trên gan (Ferguson
và
ctv, 2001).
Theo Từ Thanh Dung và ctv (2004) vùng ĐBSCL bệnh mủ gan xuất hiện đầu tiên
ở các tỉnh nuôi cá tra thâm canh phát triển mạnh như Vĩnh Long, Đồng Tháp và
Cần Thơ, sau đó bệnh lây lan sang các vùng lân cận. Đặc biệt những năm gần đây
bệnh cũng xuất hiện ở một số tỉnh mới phát triển nuôi cá tra như Trà Vinh, Bến
Tre và Sóc Trăng. Cá bị bệnh mủ gan không có dấu hiệu bất thường bên ngoài. Ở
giai
đoạn mới chớm bệnh cá vẫn còn bắt mồi. Tuy nhiên ở giai đoạn này nếu
không phát hiện sớm và môi trường nuôi quá bẩn thì bệnh cá sẽ trở nên trầm
trọng hơn và rất khó khăn trong điều trị. Khi bị bệnh nặng hơn, cá có biểu hiện
gầy, bơi lờ đờ, da nhợt nhạt, có hiện tượng xuất huyết trên da và hậu môn. Bên
trong nội tạng (gan, thận, tỳ tạ
ng) xuất hiện những đốm trắng đường kính 1-3mm
và các cơ quan này sưng to và có hiện tượng nhũn ở thận.
thâm canh.
Theo nghiên cứu trước đây cho rằng bệnh mủ gan không tìm thấy trên đối tượng
cá basa mà chỉ xu
ất hiện trên cá tra. Theo Ferguson và ctv (2001) giải thích
nguyên nhân có thể là kết quả của sự khác biệt về tính nhạy cảm của loài (trích
dẫn bởi Phan Thị Mỹ Hạnh, 2004; Lê Thị Bé Năm, 2002). Nhưng kết quả nghiên
cứu gần đây cho rằng bệnh mủ gan chủ yếu xuất hiện trên cá tra, thỉnh thoảng
xuất hiện trên cá basa (Từ Thanh Dung, 2005) bệnh xuất hiện ở tất cả các giai
đoạn phát triển củ
a cá tra. Tỉ lệ hao hụt lớn ở cá giống nhưng gây thiệt hại kinh tế
lớn nhất ở giai đoạn cá đạt trọng lượng khoảng 300-500g.
2.4.1 Đặc điểm sinh hóa
Vi khuẩn E. ictaluri được mô tả đầu tiên bởi Hawke et al. (1981) là vi khuẩn
thuộc họ Enterobacteriaceae, vi khuẩn gram âm, hình que ngắn, kích thước
khoảng 0.75x1,5-2,5 µm, di động ở 25-30
0
C và di động yếu hoặc không khi di
động khi nhiệt độ cao hơn 30
0
C. Sau đó, Waltman et al. (1986) khi nghiên cứu
119 dòng vi khuẩn E. ictaluri báo cáo rằng tất cả các dòng vi khuẩn kiểm tra đều
cho phản ứng dương tính với methyl red, nitrate, lysine, ornithine và catalase.
Cũng theo kết quả của nghiên cứu này thì 100% dòng vi khuẩn kiểm tra cho phản
ứng âm tính với citrate, voges-proskauer, arginine, oxidase và urea.
Đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn E. ictaluri tiếp tục được Shotts and Teska (1989)
nghiên cứu bổ sung. Theo hai tác giả này thì ngoài những đặc điểm trên thì vi
khuẩn E. ictaluri còn cho phản ứng cytochrome, oxidase âm tính và có khả năng
lên men và sinh sản phẩm NO
3
n tại bệnh mủ gan đã lây lan khắp các tỉnh ĐBSCL và xem như là
bệnh không thể tránh khỏi (Từ Thanh Dung, 2005).
Mùa vụ xuất hiện bệnh mủ gan là thường vào mùa lũ, đỉnh điểm vào tháng 7,
tháng 8 (mùa mưa). Tuy nhiên trong vài năm gần đây, bệnh này xuất hiện trên cá
tra hầu như quanh năm. Trong một vụ nuôi, bệnh có thể xuất hiện ít nhất 3-4 lần,
gây hao hụt 20-60% phụ thuộc vào chế độ chăm sóc và vệ sinh ao (Từ
Thanh
Dung, 2005). Cũng theo Từ Thanh Dung cho đến nay bệnh mủ gan hướng lan
truyền theo chiều ngang lây lan trực tiếp từ cá bệnh sang cá khoẻ, qua phân, qua
môi trường nước. Vi khuẩn E. ictaluri sống trong môi trường nước ao 1-2 tuần,
trong bùn đáy ao và cây cỏ thuỷ sinh, vi khuẩn có thể tồn tại 90 ngày ở nhiệt độ
25
0
C (Plumb, 1999). Vì thế, bệnh mủ gan có thể kéo dài, chí phí điều trị rất tốn
kém và mầm bệnh lưu giữ trong bùn đáy và môi trường đến vụ sau, nếu không cải
tạo ao đúng cách bệnh sẽ dễ dàng tái phát trở lại khi gặp hoàn cảnh thuận lợi,
công tác điều trị lúc này sẽ khó khăn hơn do việc điều trị kém hiệu quả hơn do vi
khuẩn nảy sinh tính kháng thuốc.
2.4.3 Các yếu tố
ảnh huởng đến khả năng bộc phát của vi khuẩn E. ictaluri
Vi khuẩn E.ictaluri chỉ thích hợp với điều kiện nhiệt độ khoảng 18 – 28
0
C (Plumb
1999). Do đó bệnh do vi khuẩn E. ictaluri xảy ra trên cá trơn xảy ra vào mùa có
nhiệt độ thấp. Trên cá nheo, bệnh ESC xảy ra thường vào cuối mùa xuân đến đầu
mùa hè trong suốt mùa thu, khi nhiệt độ nước vào khoảng 18 – 28
0
C (Plumb
1999). Trong điều kiện thí nghiệm gây cảm nhiễm trên cá nheo giống, thì ở 25
0
0
C (Plumb và
Quinlan, 1986; được trích dẫn bởi Plumb, 1999). Khả năng có thể giúp vi khuẩn
9
tồn tại trong ao một thời gian dài, nếu không có biện pháp cải tạo ao tốt truớc khi
nuôi thì cá rất dễ mắc bệnh mủ gan.
Theo Plumb (1999), vi khuẩn E. ictaluri có khả năng gây bệnh độc lập với các
điều kiện gây sốc. Tuy nhiên, tỷ lệ cá chết khi gây cảm nhiễm kết hợp với điều
kiện gây sốc cho tỷ lệ cao hơn ở cá chỉ gây cảm nhiễm với vi khuẩn. Đ
iều này thể
hiện qua kết quả thí nghiệm của Wise et al. (1993) lần lượt là 97 và 77%,
Ciembon et al. (1995) với tỷ lệ lần lượt là 53% ở nghiệm thức gây sốc và 16% ở
nghiệm thức bình thường (Trích dẫn bởi Plumb, 1999).
2.4.4 Dấu hiệu bệnh lý, chẩn đoán và điều trị
Về dấu hiệu bệnh lý, cá bệnh mủ gan không có những biểu hiện bất thường bên
ngoài. Ở giai
đoạn mới chớm bệnh, cá vẫn bắt mồi nhưng giảm ăn. Một số trường
hợp cá có biểu hiện gầy, bơi lờ đờ, da nhợt nhạt, có biểu hiện xuất huyết trên da
và hậu môn. Dấu hiệu đặc thù nhất là bên trong nội quan các cơ quan gan, thận, tỳ
tạng xuất hiện những đốm trắng, đường kính từ 1-3mm, các cơ quan này sưng to
và có biểu hiện nhũ
n ở thận (Ferguson và ctv, 2001).
Trên cá tra, E. ictaluri tấn công vào các cơ quan như thận, gan, tỳ tạng (Từ Thanh
Dung và ctv, 2001). Theo Lương Trần Thục Đoan (2006), thì thận và tỳ tạng là 2
cơ quan mà vi khuẩn tấn công đầu tiên chứ không phải ở gan. Ngoài ra, khi thu
mẫu ngoài thực tế cũng tìm thấy vi khuẩn tại các bộ phận khác như: máu, não, cơ,
mang, tim, bóng hơi. Trong đó, thận, tỳ tạng và bóng hơi là những cơ quan bị
nhiễm
E. ictaluri cao.
độc cho người và động vật. Do đó, việc sử dụng kháng sinh cần tuân theo các
nguyên tắc:
- Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn.
- Phải chọn đúng kháng sinh và dạng thuốc thích hợp.
- Phải sử kháng sinh đúng liều và đúng thời gian qui định.
- Biết cách dùng phối hợp kháng sinh trị bệnh.
- Nắm vững các chố
ng chỉ định của kháng sinh.
- Điều chỉnh liều lượng theo từng đối tượng sử dụng thuốc.
- Không chỉ theo dõi hiệu quả trị liệu mà còn phải theo dõi các tác dụng phụ
của kháng sinh.
- Biết sử trí đúng khi có tai biến do kháng sinh gây ra.
Theo Lê Thị Kim Liên (2007), tuỳ thuộc vào các loại vi khuẩn là gram âm hay là
gram dương và cấu tạo của từng loài vi khuẩn mà chịu sử tác động của các nhóm
kháng sinh khác nhau. Phần lớn kháng sinh tác
động trên các nơi chính thuộc quá
trình biến dưỡng của tế bào vi khuẩn:
- Tác động ức chế sự tổng hợp thành tế bào của vi khuẩn.
- Tác động ức chế sự tổng hợp protein cần cho vi khuẩn.
- Tác động ức chế sự tổng hợp hay ức chế chức năng của acid nucleic.
- Tác động ức chế chức năng của màng tế bào vi khuẩn.
Thuốc kháng sinh trở thành một phần tất yếu trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt
là nghề nuôi cá tra hiện nay. Tuy nhiên, sử dụng thuốc kháng sinh cần nắm rõ các
nguyên tắc sử dụng để mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, sẽ dễ dẫn đến hiện
tượng kháng thuốc và làm mất tác dụng của thuốc.
Theo Bùi Thị Tho (2003) cho rằng hiện tượng kháng thuốc là hiện tượng kháng
sinh không còn tác dụng điề
u trị đối với vi khuẩn gây bệnh. Hiện tượng kháng
thuốc chia thành hai loại: sự đề kháng thuốc là bản thân vi khuẩn bình thường đã
có khả năng chóng lại tác dụng của thuốc kháng sinh, còn đề kháng thu nhận là vi
thức ăn làm giảm hấp thu của thuốc và làm hại tạp khuẩn ruột. Khi uống dùng
amoxcillin sẽ tốt hơn.
- Ampicillin + sulactam
Theo Bùi Kim Tùng (2001), thuốc hấp thu tốt qua đường ruột, mở rộng hoạt phổ
do ức chế beta – lactamaz.
- Cephalosporin
Có phổ kháng khuẩn rộng và tác dụng mạnh đối với vi khuẩn gram âm, có tác
dụng ức chế tổng hợp vỏ tế bào. Đa s
ố các thuốc kháng sinh thuộc nhóm này đều
bị thủy phân bởi dịch vị dạ dày hoặc không qua ruột vào máu, gây xáo trộn tiêu
hóa. Vì thế khá nhiều thuốc không uống mà tiêm. Cephaloprin là thuốc khó dùng
và dễ gây kháng thuốc.
Cephaloprin: bao gồm các thuốc kháng sinh cefalexin, cefixime,
cefazolin…Trong đó cefalexin là thuốc đầu tiên uống được, hấp thu hoàn toàn
qua ruột và không gây xáo trộn tiêu hóa. Điều trị các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm
trùng toàn thân ( Bùi Kim Tùng, 2001).
- Aztreonam
12
Aztreonam thuộc nhóm monolactam. Là thuốc không bị phân hủy bởi beta –
lactamaz, khuyếch tán tốt đến mô, ức chế sự tổng hợp vỏ tế bào vi khuẩn và trị
được các khuẩn gram âm hiếu khí và một số gram dương (Bùi Kim Tùng, 2001).
Nhóm tetracylin
Có tác dụng ức chế sự tổng hợp protein, có hoạt phổ kháng khuẩn rộngbao gồm
vi khuẩn gram âm và gram dương. Bao gồm các thuốc oxytetracylin,
chlortetracylin, doxycylin và minocylin. Hầu hết các tetracylin đều hại tạp khuẩn
ruột ngoại trừ
doxycylin và minocylin. Trong đó, doxycylin không bị ảnh hưởng
bởi thức ăn trong ruột cao gấp 10 lần so với các kháng sinh cùng nhóm.
Tetracylin dùng để trị nhiễm khuẩn toàn thân và nhiễm trùng ruột (Bùi Kim
Đồng Tháp 10
Cần Thơ 10
Vĩnh Long 10
An Giang 10
Tổng 40
Đối với thông tin sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp nông hộ và cán bộ kỹ thuật tại địa
bàn khảo sát bằng cách sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn theo những nội dung chính
sau:
Thông tin tổng quát: thông tin về chủ hộ như tên, tuổi, địa chỉ, số năm kinh
nghiệm, trình độ văn hóa, số lao động trong gia đình, tổng diện tích đất, các hoạt
động kinh tế khác trong gia đ
ình ngoài nuôi trồng thuỷ sản.
Thông tin kỹ thuật: đặc điểm của mô hình nuôi, tình hình sử dụng thuốc và hóa
chất trong cải tạo và ương nuôi, con giống, thức ăn và chế độ cho ăn, chế độ thay
nước, tình hình phòng và trị bệnh, máy móc và thiết bị phục vụ cho nuôi trồng
thuỷ sản.
14
3.2.2 Thu thập các thông tin thứ cấp
Các báo cáo định kỳ hàng năm của sở, chi cục thuỷ sản vùng nghiên cứu. Các tạp
chí chuyên ngành, báo cáo của Bộ Thuỷ sản, các báo cáo khoa học trong và ngoài
nước có liên quan đến tình hình nuôi thâm canh cá tra nói riêng và cá da trơn nói
chung. Bên cạnh đó số liệu cũng được thu thập từ các website chuyên ngành
trong và ngoài nước cũng như các quyết định, nghị định, chỉ thị của Bộ Thuỷ sản
và Chính phủ.
Thu thập các thông tin về tình hình nuôi, tình hình xuất hi
ện bệnh trên cá tra nuôi
thâm canh ở từng địa phương thông qua Chi cục Thuỷ sản thành phố Cần Thơ,
tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Vĩnh Long.
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu và phân tích số liệu
4.1.1 Kết quả khảo sát diện tích, mật độ, nguồn nước và mùa vụ xuất hiện
bệnh mủ gan
Theo kết quả khảo sát thì diện tích ao trung bình của các hộ nuôi cá tra tại Đồng
Tháp là 6.500±3.500 m
2
. Ao có diện tích khác nhau từ 2.000 đến 10.000 m
2
. Mật
độ thả trung bình tại Đồng Tháp là 48,5±36,5 con/m
2
. Ao có mật độ thấp nhất là
30 con/m
2
và mật độ cao nhất là 85 con/m
2
.
Diện tích ao trung bình của các hộ nuôi cá tra tại Vĩnh Long là 6.200±3.800 m
2
.
Ao có diện tích khác nhau từ 1.000 đến 10.000 m
2
. Mật độ thả trung bình tại Vĩnh
Long là 43,5±16,6 con/m
2
. Ao có mật độ thấp nhất là 35 con/m
2
và mật độ cao
nhất là 60 con/m
2
.
nuôi ở Đồng Tháp, Vĩnh Long là Sông Tiền, ở An Giang, Cần Thơ là Sông Hậu.
Từ kết quả khảo sát cho thấy hầu hết các chủ hộ điều thực hiện tốt công tác sên
vét, cải tạo ao trong quá trình nuôi. Mỗi vụ sên vét trung bình là 2 lần. Và hầu hết
các hộ
đều trang bị đầy đủ những trang thiết bị phục vụ cho việc sên vét, cải tạo
ao nuôi. Đa số những hộ nuôi đều không sử dụng ao lắng để xử lý nước mà thải
trực tiếp ra sông, rạch. Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt chung
quanh và tác động đến môi trường nơi sản xuất.
Cá sống trong môi trường nước nên mọi hoạt động đ
iều bị ảnh hưởng bởi nguồn
nước. Nguồn nước tốt sẽ giúp cá phát triển nhanh hơn, ngược lại nguồn nước bị ô
nhiễm sẽ làm cho cá chậm phát triển cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho mầm
bệnh phát triển nhanh. Chính vì vậy, việc sử dụng nguồn nước như thế nào là rất
ảnh hưởng đến quá trình nuôi. Khi thay nước cần phải xác đị
nh chính xác nguồn
nước cấp để tránh tình trạng làm xấu đi hoặc ô nhiễm chất lượng nước trong ao
(Dương Nhật long, 2004).
16
Đa số các hộ nuôi đều chọn vị trí nuôi gần các con sông lớn để chủ động trong
việc thay nước và xử lý nước.Vị trí gần sông lớn người nuôi gặp được nhiều
thuận lợi như: lợi dụng thuỷ triều lên xuống để cấp và thóat nước cho ao nuôi từ
đó sẽ giảm được chi phí bơm nước, thuận lợi hơn cả là nguồn nước luôn dồi dào
và ít bị ô nhiễm. Vi
ệc thay nước sẽ làm tăng oxy, giảm các chất độc hại trong ao
nuôi, kích thích cá hoạt động và bắt mồi. Tuy nhiên, nếu thay nước không hợp lý
cũng sẽ làm cho cá bị sốc, cho nên thay nước như thế nào là hợp lý là vấn đề cần
phải được lưu ý. Theo Dương Nhật Long, (2004), chỉ nên thay nước khoảng 20-
30% là hợp lý.
Việc duy trì chất lượng nước tốt sẽ làm cho cá phát triển nhanh, vì vậy cần phải
Tháp
(n=10)
Vĩnh
Long
(n=10)
An
Giang
(n=10)
Cần
Thơ
(n=10)
Gan
thận
mủ
Cá
giống,
cá thịt
Da bi mất màu, bụng căn to
và mắt hơi lồi, khi mổ ra thì
gan, thận, tỳ tạng có nhiều
đốm trắng (như đốm mủ)
8 8 6 7
Xuất
huyết
Cá
giống,
trên mặt nước, bỏ ăn, xuất
huyết nhẹ ngoài da, mang
nhợt nhạt
0 1 0 3
Vàng da Cá thịt
Cá bỏ ăn, bơi lảo đảo, cá có
màu vàng tái nhạt hoặc
vàng
nghệ
0 0 0 1
Tuột
nhớt
(trắng
đuôi)
Cá thịt
Đầu tiên xuất hiện một đốm
trắng ở phần đuôi, sau đó
lan
về phía trước thân và cuối
cùng cả đoạn thân sau đều
có
màu trắng
2 0 2 0
đục, cá thường nổi và thích
tập trung nơi nước chảy. Cá
bệnh nặng lờ đờ rồi chìm
xuống đáy ao và chết3 1 2 1
Sán lá
đơn chủ
Cá
giống,
cá thịt
Cá ngứa, lội đĩa, thường tấp
vào bờ, nổi đầu liên tục còn
gọi là “rong bè”0 1 2 0
Đốm
trắng
Cá
giống,
cá thịt
Xuất hiện những đốm trắng
bằng đầu kim hoặc nhỏ hơn
xuất hiện trên thân cá
như quy hoạch thiết kế ao nuôi vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy mặc dù các hộ nuôi
đã chăm sóc kỹ ao nuôi của mình nhưng tình hình dịch bệnh vẫn xảy ra là điều
khó tránh khỏi. Các bệnh này xuất hiện hầu như quanh năm chủ yếu do hai
nguyên nhân chính là môi trường nước dơ và ký sinh trùng gây ra.
4.2 Kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc/hóa chất phòng trị bệnh mủ
gan
4.2.1 Mục đích sử dụng thuốc/hóa chất
Hiện nay, do trình độ thâm canh hóa cao nên nhu cầu sử dụng thuốc/hóa chất là
không thể thiếu. Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi ở 4 tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh
Long, An Giang và Cần Thơ thường sử dụng một số loại thuốc/hóa chất trong
nuôi cá tra thâm canh để phòng trị bệnh cho cá, xử lý môi trường và diệt tạp.
Ngoài ra, một số loại thuốc cũng được người nuôi bổ sung vào thức ăn nhằm mục
đích thúc đẩy tăng trọng cho cá.
Nhóm hóa chất khử trùng-diệt tạp và kháng sinh được các hộ nuôi sử dụng bổ
sung vào thức ăn chủ yếu là men vi sinh, các chất khóang và vitamin C.
4.2.2 Hóa chấ
t khử trùng và diệt tạp
Kết quả điều tra 40 hộ nuôi cá tra thâm canh ở Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang
và Cần Thơ cho thấy hầu hết các hộ nuôi đều sử dụng các loại hóa chất phổ biến
có phổ diệt khuẩn nằm trong giới hạn cho phép của bộ thuỷ sản (Bảng 4.2).
19
Bảng 4.2: Tỉ lệ sử dụng hóa chất của các hộ nuôi cá tra
Tỉ lệ hộ nuôi sử dụng hóa chất (%)
Loại hóa chất Tên thương mại
Vĩnh Long
(n=10)
Cần Thơ
(n=10)
An Giang
Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi cá thâm canh ở các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh
Long, An Giang và Cần Thơ đã sử dụng 9 loại hóa chất để xử lý môi trường, diệt
tạp, diệt ký sinh trùng. Trong đó các hộ nuôi sử dụng vôi (100%) và muối
(86,5%) chiếm thỉ lệ cao nhất. Ngoài ra, một số hóa chất khác cũng được người
dân sử dụng để xử lý ao như BKC (40%), đồng sulfate (22,5%), thuốc tím (15%),
chlorine (10%), zeolite (7,5%), virkon (7,5%), biozym (2,5%). Không thấy người
nuôi sử
dụng những hóa chất cấm sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản như
trichlorofon, rotenon, nicotin. Đây cũng là điều đáng mừng khi các hộ nuôi cá tra
thâm đã nhận thức được tác hại khi dùng những hóa chất có phổ diệt khuẩn rộng
đã được hạn chế hoặc cấm sử dụng.
Theo Nguyễn Chính (2005) những hóa chất được sử dụng phổ biến nhất vẫn là
vôi, muối, BKC và đồng sunlfate. K
ết quả điều tra trong đề tài của chúng tôi đã
thấy có 9 loại hóa chất được người nuôi cá tra sử dụng, tuy nhiên các loại hóa
chất dùng trong nuôi cá vẫn còn ít hơn các loại hóa chất dùng trong nuôi tôm sú.
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Thị Phương Nga (2004) cho biết có 40 loại hóa
chất được sử dụng trong mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Hóa chất
với hoạt chất như saponin, trichlorofon được sử dụng phổ biến nhất trong diệt tạp
và Potassium monopersulfate (Virkon)
được sử dụng nhiều trong cải tạo ao.
Vôi được các hộ nuôi cá tra thâm canh dùng thường là vôi nông nghiệp (hay bột
đá vôi - CaCO
3
), vôi sống (CaO). Vôi có chức năng chủ yếu là diệt trùng khi cải
tạo ao, làm tăng và ổn định pH. Vôi nông nghiệp không làm tăng pH nhiều nhưng
có tác dụng làm hệ đệm môi trường nước rất tốt. Tác dụng đệm môi trường giúp
ổn định pH trong ao, giảm sự chênh lệnh pH nước ao giữa ngày và đêm (Lê Thị
Kim Liên và ctv, 2008).