Tháng 8 năm 2002
Tel: (617) 495-1134
Fax: (617) 496-5245
e-mail:
TRUNG TÂM DOANH NGHIỆP VÀ CHÍNH PHỦ
79 John F. Kennedy Street, Cambridge, MA 02138 TÌNH HÌNH BẤT ỔN Ở NHỮNG NỀN KINH TẾ GIÀU:
LIỆU CÓ ẢNH HƯỞNG XẤU RA SAO
ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN?
nạn trầm trọng. Cũng có thể đầy rủi ro cho một quốc gia muốn theo chân những nước
khác trên con đường tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nếu những thị trường lớn trở nên
bất ổn. Nếu những nước nhập khẩu lớn lâm vào cảnh đình trệ kinh tế quá lâu, lượng
nhập khẩu sẽ tăng không bao nhiêu và các thế lực bảo hộ có thể thúc giục các chính
khách dựng lên những rào cản thương mại. Vì thế, khả năng của những nước giàu
trong việc giải quyết những vấn nạn của họ cũng có ý nghĩa đối với những nước
nghèo hy vọng dùng hội nhập toàn cầu để phát triển. Liệu những vấn nạn của họ có
cơ may khắc phục hay không?
Những vấn nạn mang tính chu kỳ và mang tính cơ cấuĐiều quan trọng là phải phân biệt giữa những biểu hiện của chu kỳ kinh tế, hiện vẫn
còn hiện diện dù thường dễ chịu hơn nhiều so với thời kỳ ban đầu, và những vấn nạn
mang tính cơ cấu đã ăn sâu. Kinh tế thị trường đôi khi cũng có sai sót. Có thể họ xây
dựng quá dư thừa nhà cửa cơ ngơi hoặc đầu tư quá nhiều vào một số năng lực sản
xuất. Nếu lượng xây dựng dư thừa chiếm tỉ lệ cao so với tổng sản lượng, thì kết quả
thường là suy thoái. Đây là sự giảm sút tạm thời
1
về sản lượng giúp cho những lượng
dư thừa được tái định giá, khấu hao hoặc tìm hướng sử dụng khác. Khi những sai lầm
này được chỉnh sửa, kinh tế sẽ tăng trưởng bình thường trở lại. Phần lớn các đợt suy
thoái chấm dứt trong vòng một năm. Các khoản trợ cấp thất nghiệp giảm bớt khó
khăn trong khi người lao động tìm việc làm mới. Một đợt suy thoái là một cách để
vốn và lao động được tái phân bổ đến những nơi thực sự cần chúng. Suy thoái không
phải là điều dễ chịu, nhưng cũng chẳng phải là sai lầm chết người. Qua kinh nghiệm 1
Một định nghĩa phổ biến của suy thoái, dù không phải là định nghĩa chính thức, là sản lượng tính theo
hoạt động. Đây chính là điều được gọi là một vấn nạn mang tính cơ cấu. Nó thường
là do thất bại thể chế - một tình huống trong đó chính phủ, các ngân hàng, các công
ty, và những nhóm khác không làm đúng vai trò của họ. Tất cả các hệ thống thỉnh
thoảng cũng gặp thất bại thể chế. Câu hỏi lý thú là một hệ thống nên giải quyết nó
như thế nào. Đôi khi vấn nạn được xác định khá nhanh, các biện pháp khắc phục
được áp dụng, và tổn thất được hạn chế. Trong những trường hợp khác, việc giải
quyết vấn nạn gây ra tổn thương quá lớn – ít ra là đối với một số nhóm quyền lợi nào
đó – đến nỗi người ta liên tục trì hoãn hành động. Khi đó, vấn nạn trở nên trầm trọng
hơn, và việc điều chỉnh cuối cùng có thể rất đau đớn.
Các thất bại thể chế làm phức tạp hơn việc bình ổn hóa các chu kỳ kinh tếCũng nên hiểu rằng một thất bại thể chế có thể gây cản trở cho khả năng của chính
phủ trong việc bình ổn hóa nền kinh tế vĩ mô. Ta có thể thấy điều này rõ nhất ở Nhật,
dù nó chí ít cũng là một nỗi lo ở Mỹ và khu vực dùng đồng euro. Hãy xét đến một
nước đang bị suy thoái. Phản ứng “bình thường” là hạ lãi suất và giảm thuế, và/hoặc
tăng chi tiêu chính phủ để tổng chi tiêu tăng lên. (Lãi suất thấp khuyến khích đầu tư;
còn giảm thuế giúp cho các hộ gia đình có thu nhập sau thuế cao hơn nên cũng có thể
chi tiêu nhiều hơn). Nhưng nếu các ngân hàng yếu kém, và có nhiều nợ khó đòi, thì
dù lãi suất có giảm các ngân hàng cũng không tăng lượng cho vay. Thay vì thế, họ
dùng nguồn vốn để nuôi sống những doanh nghiệp “đã chết”, và không chịu cấp vốn
vay cho những công ty có thể làm ăn tốt hơn. Để tránh công nhận những khoản nợ
khó đòi, họ làm cho kênh tiền tệ trở nên chậm chạp hoặc vô dụng. Tương tự, nếu một
chính phủ tích lũy gánh nặng nợ vay khổng lồ, người dân bắt đầu thắc mắc liệu họ sẽ
có khả năng trả nợ hay không, hoặc trang trải những khoản trợ cấp hưu trí công cộng
mà họ đã được hứa hay không. Như vậy, giảm thuế hay tăng chi tiêu chỉ khiến cho họ
càng thêm lo lắng. Họ tiết kiệm nhiều hơn phòng khi thuế sẽ tăng lên hoặc các khoản
trợ cấp sẽ bị cắt giảm trong tương lai. Kết quả là nợ vay của nhà nước chèn ép bất lợi
đối với cầu tư nhân, nhưng lại không làm tăng tổng cầu. Những cơ chế này giải thích
phương án nào dễ dàng cả. Nếu cứ tiếp tục tốc độ cải cách chậm như hiện nay, có thể
sản lượng của Nhật sẽ bị giảm mạnh trong mấy năm tới. (Điều này sẽ có tác động lớn
đối với Việt Nam vì Nhật là một thị trường xuất khẩu lớn và cũng là nước cung cấp
vốn.)
Tất cả các nước giàu đều gặp phải những vấn nạn thể chế, và chúng lan tràn qua biên
giới các quốc gia
Trường hợp, hay ví dụ, này minh họa làm thế nào ngay cả một nền kinh tế giàu và
thành công cũng có thể gặp thất bại thể chế trầm trọng. Những tác động (của thất bại
thể chế) có thể nghiêm trọng, thậm chí vượt ra ngoài biên giới của quốc gia gặp thất
bại. Ví dụ, nền kinh tế toàn cầu xưa nay quá phụ thuộc vào cầu (tiêu dùng) từ Mỹ vốn
được xem là “đầu tàu (tăng trưởng)”. Nếu Nhật tăng trưởng như trước đây, hay thậm
chí nhanh bằng châu Âu, Nhật sẽ ca tụng Mỹ là nguồn cầu tiêu dùng, và nền kinh tế
toàn cầu sẽ an toàn hơn. Nhật không tạo ra được một môi trường đầu tư nội địa có khả
năng sinh lợi, nên đã dẫn tới những dòng xuất vốn lớn đã góp phần tạo ra vụ bùng nổ
đầu tư gây ra cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997. Như vậy, trong một thế giới hội
nhập kinh tế, thất bại ở nơi này thường có tác động đến những nơi khác.
2
Tiếp tục nuôi sống những công ty “ốm yếu” có nghĩa là những công ty vững mạnh hơn phải cạnh
tranh với những đối thủ được trợ cấp một cách không công bằng. Vì thế, ngay cả những doanh nghiệp
mạnh cũng suy yếu do các khoản trợ cấp cho những doanh nghiệp suy sụp. Điều này dẫn tới tình trạng
giảm bớt những công ty vững mạnh chịu cải tiến sáng tạo và nâng cao năng suất. Nguồn lực bị sử dụng
kém hiệu quả.
3
Nghị sĩ được bầu cử theo một khu vực bầu cử, chứ không phải bởi số cử tri bằng nhau. Các khu vực
nông thôn có thể có số cử tri chỉ bằng 1/5 so với khu vực thành thị, thế nhưng mỗi khu vực bầu một
thêm được nhiều công việc hơn, và tỉ lệ thất nghiệp thấp hơn. Tuy nhiên, những biện
pháp này không được công chúng ủng hộ và gặp sự phản đối kịch liệt của những ai hiện
đã hưởng trợ cấp hưu trí và các trợ cấp khác. (Ở Ý, một giáo sư kinh tế ủng hộ cải cách
thị trường lao động đã bị ám sát vì những quan điểm của ông.)
Điều này thì nhiều người đã hiểu, và ta sẽ cho rằng người ta sẽ có biện pháp hữu hiệu.
Điều chỉnh càng sớm thì càng ít đau đớn. Một vài quốc gia, chẳng hạn như Hà Lan,
đã chuyển sang tình trạng có mức tiết kiệm hưu trí cao hơn, và tỉ lệ thất nghiệp thấp
hơn. Những nước lớn trong khu vực dùng đồng euro như Pháp, Đức, và Ý thì chưa.
Vẫn còn phải đợi xem liệu những liên minh ủng hộ các chính phủ khác nhau có thể
tìm ra được một cách để chuẩn y những cải cách cần thiết hay không, hay liệu họ tiếp
tục phản đối những thay đổi tất yếu. Nhưng phát biểu của các chính phủ châu Âu
hiện tại cho thấy rằng họ sắp sửa công nhận một cách muộn màng rằng cần phải ra tay
giải quyết, và có thể họ sắp bắt đầu hành động. Tuy nhiên, nếu để lỡ mất cơ hội, có
thể họ khó mà nắm bắt lại được vì những biện pháp cần thiết sẽ trở nên khắc nghiệt
hơn do tình hình ngân sách và dân số trở nên tồi tệ hơn.
Có vẻ như là các nước nghèo chẳng cần quan tâm liệu các nước giàu có phải cắt giảm
trợ cấp hưu trí cho người già hay không. Tuy nhiên, một giải pháp cho vấn nạn của
họ là cho phép nhiều người nhập cư hơn. Nếu người ta làm như vậy, đó có thể là một
trong những biện pháp chính sách độc nhất, lớn nhất nhằm tạo bình đẳng thu nhập
giữa các quốc gia. Những nhân công thuộc diện khiếm dụng lao động sẽ kiếm được 5
và gởi về quê hương hàng tỉ đô-la
4
, học hỏi được nhiều kỹ năng và tạo được nhiều
mối liên hệ, và cuối cùng quay về nước có thể mở các doanh nghiệp mới. Tuy nhiên,
một phản ứng khác có thể là chống nhập cư do tình trạng thất nghiệp tạo ra bởi những
được.
Một số nước nghèo thậm chí ràng buộc đồng nội tệ của mình với đồng đô-la, để rồi
thấy đồng nội tệ có giá trị quá cao khi đô-la mạnh, và có giá trị quá thấp khi đô-la yếu.
Một phần – nhưng chỉ là một phần thôi – trong những vấn nạn của Argentina xuất
phát từ việc gắn chặt đồng nội tệ với đô-la. Một phiên bản hơi khác của việc “gắn
chặt” với đô-la – như Thái Lan và Malaysia đã làm – đã dẫn đến những kiểu vay và
cho vay không an toàn góp phần gây ra khủng hoảng châu Á. Sẽ dễ dàng hơn nhiều
cho các nhà quản lý kinh tế ở các nước nghèo nếu tỉ giá hối đoái giữa các khối kinh tế
lớn ổn định hơn.
4
Một ước tính cho thấy hiện nay lượng tiền gởi về các nước đang phát triển là gần 100 tỉ đô-la - gần
gấp đôi lượng viện trợ chính thức ròng đã cấp! Việc người lao động từ các nước nghèo có thể hưởng
lương tại nước giàu với mức cao ít nhất gấp năm lần (so với ở quê nhà) cho thấy ở các nước nghèo
cũng có thất bại thể chế.
5
Khi đồng đô-la “mạnh”, hàng nhập khẩu rẻ, và hàng xuất khẩu của Mỹ không có lãi. Điều này
thường làm tăng thâm hụt thương mại. Khi đồng đô-la yếu – và nó đã yếu đi trong những tháng gần
đây – giá hàng nhập khẩu tính bằng đô-la sẽ tăng lên, làm hạn chế lượng nhập khẩu, và khả năng sinh
lợi của hàng xuất khẩu của Mỹ tăng lên. 6
Các thất bại của Mỹ rất đáng kể nhưng nhanh chóng được chỉnh sửa
Các thất bại thể chế quan trọng ở Mỹ đã được nêu ra nhưng chưa được phân tích. Về
cơ bản, các thị trường chứng khoán ở Mỹ đã sôi động quá mức cần thiết (overheated)
thừa mà hiện nay cần phải được giải quyết để có thể tăng trưởng bình thường trở lại.
Quá nhiều dòng vốn nước ngoài đổ vào Mỹ đã tạo nên thâm hụt thương mại lớn.
Tính đến nay đã có nhiều phản ứng đáng kể trước các thất bại này. Một vài công ty
rất lớn và một hãng kế toán lớn đã buộc phải phá sản. Những nhà quản trị của một số
công ty đã bị bắt và tống giam. Một số khác đã bị sa thải. Quốc hội Mỹ đã thông qua
một luật mạnh tay chống gian lận nhắm vào những tập quán như thế, và tổng thống
Bush đã ký ban hành luật đó. Luật mới này lập ra một ban giám sát kiểm toán độc
lập, tách biệt dịch vụ tư vấn và kiểm toán, và quy định phạt đến 20 năm tù cho hành vi
gian lận trong doanh nghiệp. Luật này cũng giúp cho nhà đầu tư dễ dàng hơn trong
việc thu hồi những khoản mất mát do các nhà quản trị gian lận, và yêu cầu các nhà
quản trị phải báo cáo kịp thời những đợt bán cổ phiếu của mình.
Giá cổ phiếu của những công ty chỉ mới bị nghi ngờ kế toán không minh bạch đã
giảm mạnh, khiến cho ngay cả những công ty trung thực cũng phải làm sổ sách kế
toán minh bạch hơn. SEC đã yêu cầu tất cả các nhà quản trị trong 1000 công ty hàng 7
đầu phải đích thân chứng minh các tài khoản công ty của họ trước ngày 14 tháng 8.
Các hãng môi giới lớn đã bị phạt những khoản tiền lớn vì đã tư vấn thiên vị, còn
những ngân hàng đầu tư lớn đang bị Quốc hội điều tra. Nhiều ngân hàng và hãng môi
giới bị những nhà đầu tư phẫn nộ kiện ra tòa. Các phóng viên chuyên về tài chính bây
giờ phải xác định các khía cạnh có thể có xung đột quyền lợi khi phỏng vấn một nhà
môi giới hay nguồn tin khác về một công ty.
6
Những tổ chức đầu tư trung gian lớn,
chẳng hạn như các quỹ hưu bổng hay quỹ đầu tư chung, đã bắt đầu thúc giục các công
ty tính quyền chọn cổ phiếu vào chi phí kinh doanh - thể hiện chi phí của chúng khi
được cấp cho nhân viên công ty. Điều này sẽ có xu hướng làm giảm số lượng quyền
Cho đến đây bài viết chủ yếu nhấn mạnh đến các thất bại kinh tế và tài chính, nhưng ý
nghĩa không chỉ giới hạn trong những lĩnh vực đó. Ví dụ việc quản lý điều tiết các
nhà máy điện hạt nhân, thuốc men hay các hãng hàng không cũng chịu nhiều áp lực
tương tự. Thông thường ngành bị quản lý sẽ “khống chế” cơ quan quản lý và làm suy
giảm tính nghiêm khắc của việc giám sát. Kết quả là hoạt động không an toàn.
Tương tự, các thể chế y tế và giáo dục cũng thường bị thất bại. Vì các thể chế này
thường là độc quyền hoặc gặp đối thủ cạnh tranh yếu, họ cần phải cung cấp cho người
6
Ví dụ, nếu một chuyên viên phân tích cổ phiếu làm việc cho một hãng môi giới thuộc một công ty có
ngân hàng đầu tư làm ăn với công ty mà anh ta đang phân tích, có thể anh ta sẽ bị áp lực nói những
điều tốt đẹp về cổ phiếu của công ty đó, để giữ mối kinh doanh chứng khoán cho hãng của mình.
Chuyện này bây giờ đã được nêu rõ ràng, chứ không phải ngầm hiểu trong các cuộc phỏng vấn truyền
hình hay trên báo chí. 8
tiêu dùng thông tin tốt về hoạt động của họ. Nếu có lợi thế nhờ đạt được danh tiếng
(một cách xứng đáng), một thể chế sẽ cố gắng nhiều hơn là khi thể chế đó không chịu
áp lực phải cải tiến. Điều này dẫn đến việc công bố điểm thi của các trường học hoặc
tỉ lệ bệnh nhân được cứu sống đối với các loại hoạt động khác nhau của các bệnh
viện. Chừng nào các bậc phụ huynh hay học sinh chọn trường theo điểm thi, hoặc
chọn bệnh viện theo tỉ lệ thành công, thì vẫn còn áp lực buộc thể chế đó phấn đấu đạt
kết quả tốt hơn. Một cách khác là cố gắng cải tiến bằng biện pháp quản lý nghiêm
ngặt hơn, nhưng cách này thường có hiệu quả kém.
Một cách khác để các thể chế cải thiện thành quả của chúng là tạo ra cạnh tranh thể
chế. Thoạt tiên điều này nghe có vẻ kỳ quặc. Các thể chế có thể cạnh tranh như thế
nào? Chuyện đó tùy thuộc một phần vào cách ta nghĩ về một thể chế. Nếu thể chế đó
là một trường đại học, thì một sinh viên có thể chọn trong số nhiều khả năng khác
hết sức bất ổn. Các dòng vốn dài hạn nhìn chung ít dao động hơn, nhưng vẫn có thể
biến thiên rất nhiều đối với một quốc gia riêng rẽ. Vì các nước nghèo chỉ thu hút
được một phần nhỏ trong lượng tiết kiệm của các nước giàu, biến số quan trọng
thường nằm ở điều kiện thay đổi ở các nước nghèo, chứ không phải những thay đổi
lớn về các nguồn vốn có thể đầu tư của các nước giàu. (Các nước giàu mỗi năm tiết 7
Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu ở các nước giàu đạt 6-7% mỗi năm trong vòng 20 nă m qua. Mức
sụt giảm lớn nhất là vào năm 2001 khi kim ngạch nhập khẩu của các nước giàu giảm 1,5%, và 2,7% ở
Mỹ. Theo IMF, tăng trưởng sẽ chậm nhưng sẽ là số dương trong năm 2002, và dự kiến lại vượt mức
6% vào năm 2003. 9
kiệm hơn 4000 tỉ đô-la, trong khi toàn bộ các dòng vốn ròng đổ vào các nước nghèo
hiếm khi đạt đến mức 5-6% của con số đó, ngay cả vào năm 1996 trước khủng hoảng
châu Á. Năm 2001, tỉ số này là 2%.) Một vấn đề ít được chú ý hơn là: thông thường
tiết kiệm chảy từ nước nghèo sang nước giàu! Điều này cho thấy là các cơ hội đầu tư
tốt không phải luôn có sẵn, dù có thể có đủ nguyên nhân từ bảo vệ tài sản kiếm được
một cách phi pháp, cho đến việc tránh thuế hay đơn giản chỉ là ẩn náu để khỏi bị tịch
thu. Lượng đô-la hay vàng được cất giữ ở một nước nghèo tương đương lượng vốn di
tản ra nước ngoài, ít nhất là xét về khía cạnh kinh tế. Tức là, lượng tiền tiết kiệm đó
không dùng để cấp vốn cho đầu tư trong nước. Số tiền ấy cũng có thể được gởi ở
nước ngoài.
Có nhiều cách để giải quyết tình trạng bất ổn tài khoản vốn. Cách thứ nhất là hoàn
toàn không dựa vào vốn nước ngoài. Tuy nhiên, vốn nước ngoài thường mang theo
công nghệ, kỹ năng quản trị, hay cơ hội tiếp cận các thị trường khiến cho vốn nước
ngoài trở nên hấp dẫn. Những đặc tính khác này ít khi có ở các khoản vay ngân hàng
Làm sao có thể thiết kế một hệ thống sao cho thất bại thể chế ít có cơ may xảy ra, hay ít
nhất là được công nhận sớm hơn và giải quyết hiệu quả hơn? Một nguyên tắc đầu tiên
là cần phải có thông tin. Nếu người ta không biết chuyện gì đang xảy ra, khó mà đánh
giá được tình thế hay biết liệu có cần thay đổi hay không. Những hệ thống nào cung
cấp được thông tin có chất lượng tốt một cách rộng rãi thì thường sẽ đạt kết quả tốt hơn 10
những hệ thống không làm được chuyện đó. Như kinh nghiệm của các doanh nghiệp
Mỹ cho thấy, tham nhũng cũng hoành hành khi thông tin bị bưng bít hay bóp méo. Như
tục ngữ đã nói, “ánh nắng mặt trời diệt vi trùng” và hệ thống càng minh bạch thì càng
dễ phát hiện và xử lý vấn đề.
Một khía cạnh thứ hai của thất bại thể chế là thông thường những nhóm tương đối nhỏ
nhưng có thế lực có khả năng cản trở các biện pháp chỉnh sửa. Hệ thống nào có thể
hình thành các liên minh tập hợp từ đại đa số và chế ngự được những đặc quyền hạn
hẹp thì thường có khả năng tự cải cách dễ dàng hơn. Tại Nhật, điều này đã bị cản trở
bởi ảnh hưởng quá lớn của các cử tri nông thôn. Tại châu Âu, tỉ lệ người già ngày càng
tăng và tình trạng lớp trẻ tương đối thụ động về chính trị cộng lại khiến cho khó thực
hiện được cải cách cần thiết. Nói chung, hệ thống nào cho phép các thiểu số có thế lực
cản trở hành động thì đạt kết quả kém hơn hệ thống nào biến sự đồng thuận chung thành
hành động. Tuy đa số đôi khi sai lầm, nhưng ít ra thì đa số cũng bảo đảm rằng quyền
lợi của chính mình thống nhất với quyền lợi chung hay dài hạn của quốc gia một cách
thường xuyên hơn các nhóm thiểu số.
Một khía cạnh thứ ba của các hệ thống vận hành tốt là chúng phải chịu, và biết phản
ứng trước, cạnh tranh. Tuy cạnh tranh có thể có tính hủy diệt nếu được thực hiện theo
cách không có luật lệ hay bạo lực
8
khách hàng. Hiểu được khi nào cạnh tranh cải thiện nền kinh tế, và khi nào nó không công bằng hay có
tính phá hoại là một phần của chính sách đúng đắn.