nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/2003
27
ThS. Lê Vơng Long *
1. Vị trí quan hệ pháp luật trong cơ
chế điều chỉnh pháp luật và trong đời sống
thực tiễn
Vai trò của quan hệ pháp luật trong cơ
chế điều chỉnh pháp luật có ý nghĩa rất quan
trọng. Do cơ chế điều chỉnh pháp luật có
nhiều yếu tố đợc hình thành ở nhiều giai
đoạn nên sự tơng tác của quan hệ pháp luật
với các yếu tố khác cũng nh vai trò của
quan hệ pháp luật ở các giai đoạn có những
đặc điểm riêng biệt.
Trớc hết, muốn điều chỉnh pháp luật,
Nhà nớc cần đa ra các quy phạm pháp luật
để mô hình hoá hành vi của chủ thể. Các quy
phạm pháp luật đó cần đợc hiện thực hoá
bằng hành vi của chủ thể thông qua quan hệ
pháp luật cụ thể. Nh vậy, trong mối quan hệ
giữa quy phạm pháp luật với hành vi thực tế
của chủ thể, quan hệ pháp luật là khâu trung
gian, là cầu nối giữa hai yếu tố đó với nhau.
Nhờ thông qua quan hệ pháp luật mà các mô
(1)
Mặt khác, văn bản đó cũng có thể làm
nhiệm vụ cá biệt hoá quyền, nghĩa vụ đối với
chủ thể ngay cả khi nó không là văn bản áp
dụng pháp luật. Chẳng hạn, pháp luật quy
định về quyền thừa kế theo di chúc nhng
các bên thừa kế muốn thực hiện thừa kế thì
cần xuất trình di chúc của ngời để lại tài
sản. Vì vậy, nếu không xuất trình đợc di
chúc và không thoả thuận đợc về việc phân
* Giảng viên chính Khoa hành chính - nhà nớc
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
28 Tạp chí luật học số 2/2003
chia tài sản thì quan hệ thừa kế đó phát sinh
theo pháp luật. Việc văn bản cá biệt xuất
hiện giữa quy phạm pháp luật với quan hệ
pháp luật với tính chất trung gian cũng đúng
với cả trờng hợp chấm dứt một số loại quan
hệ pháp luật trên thực tế. Ví dụ, pháp luật
quy định về li hôn nhng quan hệ pháp luật
hôn nhân chỉ có thể chấm dứt nếu có đơn xin
li hôn của vợ hoặc chồng và bản án của toà
án có hiệu lực.
Ngoài ra, trong trờng hợp chủ thể có
vi phạm pháp luật, quan hệ pháp luật lại
tiếp tục xuất hiện thông qua hoạt động cá
thân tính chất của các quan hệ x hội cụ thể.
2. Vai trò của quan hệ pháp luật trong
cơ chế điều chỉnh pháp luật và trong đời
sống thực tiễn
Vai trò của quan hệ pháp luật thể hiện
qua vị trí và sự tơng tác với nhiều yếu tố
khác trong cơ chế điều chỉnh pháp luật. Đợc
nhận diện là hình thức đặc thù của quá trình
thực hiện pháp luật, quan hệ pháp luật có
những vai trò cơ bản sau:
a. Quan hệ pháp luật là yếu tố hiện thực
hoá nội dung, yêu cầu của quá trình điều
chỉnh pháp luật
Điều chỉnh pháp luật là quá trình Nhà
nớc sử dụng pháp luật để tác động vào hành
vi của chủ thể theo những mục đích nhất
định. Cơ chế điều chỉnh pháp luật không thể
thiếu quan hệ pháp luật với tính cách là yếu
tố hiện thực hoá nội dung, yêu cầu của quá
trình điều chỉnh pháp luật. Việc ban hành
quy phạm pháp luật để điều chỉnh quan hệ x
hội đ làm cho quan hệ x hội mang tính
pháp lí, nghĩa là tạo ra cho các bên tham gia
quan hệ đó các quyền và nghĩa vụ pháp lí.
Nội dung của quy phạm thể hiện rõ nội
dung, yêu cầu và mục đích của quá trình
điều chỉnh. Với tính cách là hình thức đặc
thù của việc thực hiện quy phạm pháp luật,
quan hệ pháp luật có vai trò làm cho nội
dung quy phạm có tính thực tế. Thông qua
lập trong quan hệ pháp luật phải đảm bảo
những yêu cầu nhất định. Đối với khả năng
thứ nhất, chủ thể không đợc từ chối mà phải
chủ động thực hiện bảo đảm tính hợp pháp
cả về nội dung, hình thức vì đó là nghĩa vụ
pháp lí. Việc thi hành pháp luật của chủ thể
sẽ làm nảy sinh quan hệ pháp luật trên thực
tế. Đối với khả năng thứ hai thì vai trò của
quan hệ pháp luật đ đợc nhận diện, nghĩa
là nội dung điều chỉnh pháp luật đ đợc
hiện thực hoá thông qua quan hệ pháp luật.
Nh vậy đối với hai khả năng trên, quan hệ
pháp luật có vai trò khác nhau một cách căn
bản trong việc hiện thực hoá nội dung, yêu
cầu điều chỉnh pháp luật.
- Trờng hợp nội dung điều chỉnh pháp
luật cho phép: ở dạng này pháp luật không
đặt ra yêu cầu bắt buộc, do đó chủ thể có thể
thực hiện nội dung pháp luật cho phép hoặc
không thực hiện. Nếu chủ thể từ chối quyền
của mình thì quan hệ pháp luật cụ thể không
xuất hiện. Nhng nếu chủ thể thực hiện
quyền đợc pháp luật cho phép thì thờng
phải thông qua quan hệ pháp luật. Nhìn
chung việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
chủ thể ở đây có thể xảy ra hai khả năng là
bảo đảm tính hợp pháp hành vi hoặc là vi
phạm pháp luật. Trờng hợp vi phạm pháp
luật thì quan hệ pháp luật lại phát sinh với
vai trò cụ thể hoá chế tài pháp luật nhằm áp
30 Tạp chí luật học số 2/2003
không hành động hợp pháp.
(2)
Trờng hợp có
vi phạm pháp luật thì quan hệ pháp luật mới
đợc xuất hiện trong quá trình các cơ quan
nhà nớc có thẩm quyền giải quyết vi phạm
đó. Thông qua quá trình xử lí vi phạm, quan
hệ pháp luật đ gián tiếp hình thành chức
năng, vai trò là đăng tải loại mô thức hành vi
mà pháp luật cấm đoán đến với các chủ thể.
Điều này đ đem lại sự hiểu biết pháp luật
nhất định từ thực tế cho mọi chủ thể. Chính
vì vậy, hoạt động xét xử lu động của toà án
ngoài mục đích giải quyết vụ việc cụ thể còn
là hoạt động giáo dục pháp luật có tính thực
tế và hiệu quả.
Bên cạnh việc hiện thực hoá nội dung
quy phạm pháp luật bằng cách chuyển hoá
mô thức hành vi chung thành mô thức cụ thể,
quan hệ pháp luật còn chuyển hoá các yêu
cầu đặt ra đối với chủ thể nhằm bảo đảm tính
hợp pháp của hành vi và sự phù hợp giữa
hành vi pháp luật với hành vi x hội khác.
b. Quan hệ pháp luật có vai trò định
hớng, hỗ trợ việc xác lập trật tự và bảo đảm
cho sự vận động và phát triển của các quan
hệ x hội
Cơ chế điều chỉnh pháp luật không tồn
hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức,
thuần phong mĩ tục Việt Nam và sức khoẻ
nhân dân (Điều 6 Luật doanh nghiệp).
Trong đời sống thực tiễn, các mô thức
hành vi hợp pháp, tích cực có khả năng phổ
biến hơn nếu đợc x hội ghi nhận một cách
tích cực về hiệu quả thực hiện quyền, nghĩa
vụ từ quan hệ pháp luật cụ thể. Ngợc lại,
các mô thức hành vi bất hợp pháp có khả
năng bị thu hẹp khi có nhiều ngời xa lánh,
phản đối. Điều này đòi hỏi nội dung của điều
chỉnh pháp luật không thể thiếu nội dung
giáo dục nhận thức về các mô thức hành vi
pháp luật (bao gồm cả hành vi hợp pháp và
bất hợp pháp) trong thực tiễn. Chẳng hạn,
việc xét xử lu động của toà án không chỉ
nói lên tính nghiêm minh của pháp luật, tính
quyền lực của Nhà nớc mà còn hàm chứa ý
nghĩa này. Mặt khác, trong các yếu tố kích
thích sự hình thành và đảm bảo thực hiện các
quan hệ pháp luật thì việc xây dựng những
quy phạm chuẩn mực, có kĩ thuật cao, phù nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/2003
31
hợp với nhu cầu khách quan là rất quan
định. Để phát triển quan hệ pháp luật, về mặt
lí luận và thực tế không chỉ xem xét vai trò
tích cực, giá trị hữu ích mà cần thiết phải
xem xét cả mặt phản tác dụng của nó đối với
các nhân tố khác để có đợc các biện pháp
xử lí phù hợp.
Để kích thích, hỗ trợ và bảo vệ sự phát
triển của các quan hệ x hội, ngoài vị trí là
mắt xích trong cơ chế điều chỉnh pháp luật,
quan hệ pháp luật còn đợc nhận diện nh là
phơng tiện của việc điều chỉnh pháp luật,
phơng tiện tác động đến các quan hệ x hội
có tính cách độc lập. Nh vậy ở đây, quan hệ
pháp luật đợc xem xét tách rời khỏi nội
dung thực tế, nó chỉ đợc coi nh tổng thể
các quyền và nghĩa vụ gắn với tình huống đ
quy định. Chúng ta có thể thấy sự khác biệt
nhất định giữa "hoạt động" của quy phạm
pháp luật với tính cách là quy định chung với
việc thực hiện nó trong các quan hệ cụ thể.
Xét từ góc độ cụ thể, vai trò của quan hệ
pháp luật phụ thuộc vị trí của nó trong từng
giai đoạn của quá trình điều chỉnh pháp luật
cũng nh loại quan hệ pháp luật thực tế đó.
Mặc dù nằm trong cơ chế điều chỉnh pháp
luật nhng cũng có thể tách biệt quan hệ
pháp luật với các yếu tố khác để nhận diện
đợc vai trò của nó đợc sâu sắc và đầy đủ
hơn. Xem xét vai trò quan hệ pháp luật từ
thực tế phải gắn liền từng quan hệ thực tế có
Có thể nói, giá trị của pháp luật thể hiện
trớc hết và cơ bản nhất khi nó trở thành
công cụ điều chỉnh, trật tự hoá các quan hệ
x hội. Vì thế giá trị lớn nhất của pháp luật
chính là giá trị điều chỉnh và bảo vệ các quan
hệ x hội. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ
x hội, điều chỉnh hành vi của các chủ thể
theo định hớng, mục tiêu nhất định trên cơ
sở tác động tới ý thức của chủ thể. Để hình
thành giá trị đó, ngoài những thuộc tính vốn
có của pháp luật thì những quy tắc khách
quan của cách xử sự hợp lí và các yêu cầu
điều chỉnh bằng pháp luật phải đợc hiện
thực hoá thông qua hành vi của chủ thể trong
các quan hệ pháp luật cụ thể. Nh vậy, quan
hệ pháp luật là cơ sở để nhận thức giá trị x
hội của pháp luật. Đời sống pháp lí là nơi mà
pháp luật phát huy giá trị đích thực của mình
thông qua hệ thống quan hệ pháp luật cụ thể.
Tính đúng đắn của pháp luật đợc thể
hiện trớc hết ở việc xác định chính xác đối
tợng điều chỉnh và sự phù hợp về mức độ
điều chỉnh, tác động. Nhng cơ bản và quyết
định vẫn phải xem xét hiệu quả pháp luật
trên thực tế. Việc xem xét hiệu quả pháp luật
trên thực tế chỉ có thể thực hiện đợc khi gắn
với hành vi pháp lí, với quan hệ pháp luật cụ
thể. Trớc mỗi loại quan hệ pháp luật cụ thể,
tuỳ thuộc mức độ nhận thức và góc độ quan
sát, thông thờng có hai khả năng đem lại:
hệ pháp luật cần phải đợc coi trọng về mặt
thực tiễn. Đồng thời trong khoa học, việc
nghiên cứu các mối quan hệ bên ngoài của
hệ thống pháp luật đòi hỏi phải xem xét mối
quan hệ, sự tơng tác hữu cơ với quan hệ
pháp luật./.
(1). ở đây quan niệm văn bản cá biệt rộng hơn văn
bản áp dụng pháp luật (văn bản áp dụng pháp luật chỉ
là của một loại văn bản cá biệt).
(2). Đây là vấn đề phức tạp trong nhận thức luận, do
khuôn khổ bài viết có hạn, tác giả xin trao đổi ở phần sau.