Mở đầu.
Ngay từ những ngày đầu tiên khi nền công nghiệp ngân hàng ra đời và phát
triển, tín dụng đã là một phần không thể thiếu, một chức năng đặc trng, tiêu biểu
trong hoạt động của nó. Một tổ chức kinh tế không thể đợc gọi là một ngân hàng
nếu trong đó không phát sinh hoạt động tín dụng, nói cách khác là hoạt động đi
vay và cho vay. Có lẽ, quan hệ tín dụng trong nền kinh tế đã tồn tại trớc khi ngân
hàng đầu tiên xuất hiện, nó có mục đích lớn nhất là phân phối các nguồn vốn trong
nền kinh tế theo cách hiệu quả nhất, chuyển những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
đến những nơi thiếu hay cần vốn nhằm thu lợi cao hơn. Thế nhng, hoạt động tín
dụng sẽ mãi là nhỏ lẻ, không mang lại hiệu quả tối đa nếu nó cứ diễn ra giữa từng
cá nhân hay thậm chí từng tổ chức. Sự xuất hiện của ngân hàng đã giải quyết đợc
vấn đề này, ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính có khả năng huy động,
tập trung các nguồn vốn trong nền kinh tế với qui mô lớn, đa dạng về chủng loại.
Vì thế, giờ đây bên cạnh vay vốn dựa trên quan hệ cá nhân, trực tiếp giữa hai bên,
ngời ta có thể vay tín dụng thông qua ngân hàng với qui mô và loại hình không
hạn chế. Hơn thế nữa sự hình thành quan hệ tín dụng trong ngân hàng thơng mại
giúp giảm chi phí cho sự lu thông vốn, khiến cung và cầu vốn tiếp xúc với nhau
thuận tiện và dễ dàng hơn. Sự xuất hiện của ngân hàng chính là sự phát triển hoàn
thiện của quan hệ tín dụng, nó đã khiến hoạt động tín dụng phát huy tối đa hiệu
quả trong việc thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế. Và cũng vì lẽ đó, tín
dụng luôn gắn chặt với lịch sử phát triển của ngân hàng, nó là yếu tố quyết định sự
thành bại của một ngân hàng. Cùng với sự phát triển chung của ngành ngân hàng,
hoạt động tín dụng trong ngân hàng cũng có những tiến bộ đáng kể, ngày càng có
nhiều hình thức cho vay với qui mô và hình thức không hạn chế. Tuy không còn
chiếm vai trò độc tôn trong ngân hàng nh cách đây vài thập kỉ nhng ngày nay, cho
vay vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 trên tổng tài sản của một ngân hàng, và vẫn là một
nguồn thu nhập chủ yếu hết sức quan trọng đối với mọi ngân hàng. Không những
thế, đứng trớc những đòi hỏi mang tính thời đại, sự bùng nổ của khoa học kĩ thuật,
công nghệ thông tin và sự phát triển chung của nền kinh tế toàn cầu theo hớng mở
cửa hội nhập, việc quản lí hoạt động tín dụng, phát hiện và phòng chống rủi ro tín
dụng là một nhiệm vụ cấp thiết, sống còn đối với công tác quản lí cũng nh sự phát
dụng trong NHTM mang những đặc điểm riêng, một trong những đặc điểm đó
chính là mức độ và ảnh hởng của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của ngân
hàng. Có lẽ không một thể chế tài chính nào lại có rủi ro tín dụng đa dạng, phức
tạp và khó quản lí nh NHTM( chúng ta sẽ nghiên cứu kĩ hơn ở phần sau). Nhng
khó không có nghĩa là chúng ta không hay không thể làm đợc, và chúng ta nên bắt
đầu việc này bằng cách nhìn lại một cách tổng quát và có hệ thống về tín dụng
trong ngân hàng thơng mại. Nói đến quan hệ tín dụng nghĩa là nói đến đi vay và
cho vay, NHTM có thể là bên đi vay khi nó nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu(ở
một số nớc luật pháp không cho phép)v.v. Đó là một mảng hoạt động lớn của ngân
hàng vì nó tạo ra nguyên liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh của ngân hàng.
Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài này, chúng ta sẽ dành sự chú ý đặc biệt vào
ngân hàng khi họ đóng vai trò là ngời cho vay, vì đó chính là mặt chủ yếu thể hiện
rõ nhất, bản chất nhất quan hệ tín dụng trong ngân hàng thơng mại.
Có thể nói, hiện nay, một ngân hàng thơng mại có thể cung cấp rất nhiều hình
thức cho vay đối với khách hàng, nói cách khác là có rất nhiều tiêu trí để phân biệt
các loại hình cho vay khác nhau từ ngân hàng : theo đối tợng đợc vay vốn, theo
qui mô vay vốn, theo mục đích vay, thời hạn vay v.v Tuy nhiên, để thuận tiện cho
việc nghiên cứu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thơng mại, có thể nêu ra các loại
hình cho vay sau:
3
1.Cho vay thấu chi( Overdraft lending):
Nh chúng ta đã biết, thấu chi là chỉ hành động phát hành hay thanh toán quá
số d của tài khoản, đặc biệt là tài khoản vãng lai( curent account) mà khách hàng
đã mở tại một ngân hàng. Tất nhiên chúng ta có thể cho rằng, ngân hàng sẽ chỉ
cho phép khách hàng phát hành trong phạm vi số d trên tài khoản. Tuy nhiên để
làm đợc điều này không phải dễ dàng, việc khớp đúng số d trên tài khoản và quá
trình thanh toán đặc biệt là thanh toán séc có sự đảm bảo chi trả của ngân hàng
không phải là hai quá trình luôn luôn song song và đồng thời, việc rút số d của tài
khoản chỉ thờng đợc tiến hành định kì trong khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
xấu đi, và việc không thu hồi đợc vốn càng tăng. Để hạn chế bớt rủi ro này, ngân
hàng thờng có những chính sách cụ thể. Ngân hàng có thể sử dụng tài sản thế
chấp, tuy nhiên đây có thể cha phải giải pháp hiệu quả nhất khi mà thông thờng
giá trị giữa tài sản thế chấp và khoản cho vay có sự chênh lệch, đặc biệt là tính
thanh khoản của nó. Ví dụ, sau khi vay ngân hàng, doanh nghiệp đã sớm nhận ra
nguy cơ thua lỗ của dự án, họ có thể bán phân xởng của mình để thanh toán toàn
bộ nợ cho ngân hàng nhng lại không thể đợc vì đây là tài sản thế chấp. Và để duy
trì sự tồn tại của doanh nghiệp, họ phải xoay sở để gánh chịu lãi suất của ngân
hàng, khi sự việc vỡ lở, cái phân xởng của họ không thể có giá trị nh trong điều
kiện bình thờng, mặt khác gánh nặng nợ nần lại chồng chất thêm rất nhiều. Vì thế,
để tránh cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng này, ngân hàng thờng áp dụng cho
vay từng phần, theo từng giai đoạn đầu t,cho vay theo hạng mục. Tài sản thế chấp
có thể chính là những tài sản mà doanh nghiệp muốn đầu t khoản vay của mình.
Ngân hàng cũng đa dạng các hình thức thanh toán các khoản vay theo hớng tạo
điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, có thể trả nhiều lần bao gồm cả gốc và lãi,
hoặc trả lãi nhiều lần và trả gốc một lầnv.v Với những cải tiến trong phơng thức và
hình thức cho vay, ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro tín dụng cho những khoản
vay này. Tuy nhiên để đạt đợc hiệu quả hơn nữa, ngân hàng cần thực hiện thật tốt
khâu đánh giá, giám sát và thẩm định công trình.
b, Cho vay hoạt động(factoring):
Đây là hình thức cho vay thờng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tiền mặt
hoặc vốn lu động cho doanh nghiệp. Loại vay này thờng dựa trên những hoá đơn
đã bán đợc hàng nhng cha thu đợc tiền của doanh nghiệp, từ đó ngân hàng có thể
chiết khấu một phần hay tính lãi cho khoản vay khi doanh nghiệp thu đợc tiền từ
hoạt động bán hàng của mình. Đôi khi ngân hàng có thể thu lãi trực tiếp từ các
khách hàng của doanh nghiệp. Đây là loại vay mà ngân hàng và doanh nghiệp gắn
bó chặt chẽ với nhau trong việc gánh chịu rủi ro, nếu không thu đợc tiền từ khách
hàng, mặt khác nó cũng có cơ sở là các khoản phải thu của doanh nghiệp nên mức
độ rủi ro tín dụng đợc hạn chế phần nào.
Ngoài hai hình thức cho vay chủ yếu trên, NHTM còn có thể cung cấp rất
dạng viện trợ, nh IMF hay Wold Bank tiến hành và cũng có thể cho vay nhằm mục
đích đầu t kiểm lời. Do một số điều kiện nhất định, các công ti hay ngân hàng nớc
ngoài thờng thờng cho vay trong nớc thông qua một ngân hàng thơng mại trong n-
ớc. Ngân hàng trong nớc đó chịu trách nhiệm quản lí thu hồi vốn cho phía nớc
ngoài, chịu trách nhiệm vời phía nớc ngoài về món vay và hởng chi phí hoa hồng
nhất định. Đây là loại cho vay thờng có khối lợng rất lớn, ảnh hởng đến nhiều biến
6
số kinh tế vĩ mô nh lãi suất, tỉ giá, vì thế nó ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp đến rủi
ro lãi suất và rủi ro tỉ giá.
Ngoài ra, với mục đích chia sẻ và hạn chế rủi ro, các ngân hàng thơng mại
cũng tiến hành các nghiệp vụ cho vay khác nh hợp tác cho vay, cho vay tập
đoàn(syndication) hay cho vay tham dự (participation). Cho vay tập đoàn là khi
nhiều ngân hàng kết hợp với nhau để cung cấp cho khách hàng một khoản vay th-
ờng là có qui mô rất lớn mà một ngân hàng đơn lẻ không thể đáp ứng đợc. Cho
vay tham gia là việc các ngân hàng mua lại toàn bộ hay một phần khoản vay từ
một ngân hàng khác, thu lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá mua và lãi suất thu đợc.
Các nghiệp vụ trên không những giúp các ngân hàng cho vay đợc vốn, tránh tình
trạng ứ đọng vốn cho vay mà còn giúp các ngân hàng chia sẻ rủi ro, tạo lập các
mối quan hệ chặt chẽ trong nội bộ ngân hàng, từ đó mà hoạt động hiêu quả hơn.
II. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thơng mại:
Rủi ro là một thực tế khách quan trong hoạt động của một ngân hàng, nó biểu
hiện ở mọi hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thơng mại. Hơn thế nữa rủi
ro trong hoạt động ngân hàng không chỉ đem lại thiệt hại cho bản thân ngân hàng
đó, mà nó còn có thể gây ra những cơn khủng hoảng tài chính tiền tệ gây hậu quả
rất xấu cho toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng nh nền kinh tế nói chung. Rủi ro tín
dụng chỉ là một bộ phận trong những rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt, tuy nhiên
do tầm quan trọng đặc biệt của tín dụng đối với một ngân hàng thơng mại, với
mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận, việc nhận biết và phòng ngừa rủi ro tín dụng là một
trong những nhiệm vụ hàng đầu và mang tính chiến lợc của ngân hàng. Xét về
tổng thể, rủi ro tín dụng phát sinh do những khoản lỗ trong tr ờng hợp ngân hàng
Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô, nó ảnh hởng đến giá trị đồng tiền, lạm
phát,phản ánh mức độ sinh lời của nền kinh tế... do đó nó cũng tác động không
nhỏ đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Trực tiếp nhất là sự ảnh hởng của lãi
suất đến giá trị thu nhập và thu nhập dự tính của khoản tín dụng. Ví dụ, lãi suất
huy động vốn là 7%/năm, lãi suất đầu t là 8%/năm nh vậy lãi suất dự tính của hoạt
động cho vay sẽ là 1%/năm, ngân hàng tiến hành cho vay 2 năm, năm đầu mọi
việc diễn ra suôn sẻ, tuy nhiên sang năm thứ hai, lãi suất huy động vốn là 8%năm,
do lãi suất đầu t đã là 9,5%, tuy nhiên do hợp đồng đã kí nên ngân hàng vẫn phải
cho khách hàng vay với lãi suất 8% mặc dù lúc này để cung cấp khoản cho vay đó
ngân hàng cũng phải trả lãi ở mức 8%. Nh vậy thu nhập mà ngân hàng thu đợc ở
năm thứ 2 bằng 0, đấy là thu nhập ròng còn so sánh một cách tơng đối ngân hàng
đã chịu một khoản lỗ tơng đối là 1,5%(so với các ngân hàng khác) vì ngân hàng
chỉ đợc hởng lãi 8% trong khi nó có thể cho vay với lãi suất 9,5% ở năm thứ 2.
Trên một khía cạnh khác, nh chúng ta đã biết, giá trị thị trờng của tài sản có hay
tài sản nợ là dựa trên giá trị hiện tại của chúng, nếu lãi suất tăng giá trị hiện tại của
8
tài sản có và nợ giảm, ngợc lại, nếu lãi suất giảm, giá trị hiện tại của tài sản tăng.
Khi đó, nếu kì hạn của tài sản có và nợ không tơng xứng thì sự biến đổi giá trị của
tài sản có và nợ là không nh nhau, do đó ẩn chứa những rủi ro mà ngân hàng phải
gánh chịu(phần này liên quan đến rủi ro cấu trúc, mà ta sẽ xem xét ở phần sau).
Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua ví dụ trên, ngân hàng sẽ yên tâm nếu ngay từ
đầu họ cũng kí hợp đồng huy động vốn từ năm thứ nhất với thời hạn là 2 năm, khi
đó sang năm thứ 2 họ cũng chỉ trả lãi là 7% năm. Nhng vấn đề ở chỗ, điều gì sẽ
xảy ra nếu năm thứ hai lãi suất huy động sẽ chỉ là 6,5%? Nh vậy, do những giá trị
tơng lai chỉ mang tính dự đoán nên nó ẩn chứa những sai lầm, đó là một phần rất
thú vị và hấp dẫn khi ngời ta tham gia thị trờng tiền tệ. Một ngân hàng, cũng nh
bất kì một chủ thể khác tham gia vào thị trờng tiền tệ cũng đều phải chấp nhận
những rủi ro này, vấn đề là ở chỗ ai là ngời có chiến lợc và cách nhìn đúng đắn
hơn. Nói tóm lại, rủi ro lãi suất đối với hoạt động tín dụng xuất phát từ sự biến đổi
của lãi suất chung trên thị trờng tiền tệ, tác động đến bảng cân đối tài sản nợ(đi
nhận ra những xu hớng mới của thời đại thì sẽ rất dễ khiến các ngân hàng lâm vào
rủi ro mất vốn. Ví dụ, ở cuối một thời kì hng thịnh, khi tốc độ đầu t bắt đầu giảm,
nhng cha giảm thực sự, lúc này tỉ lệ tăng trởng bình quân của một số ngành bắt
đầu chững lại và có chiều hớng đi xuống, do cha nắm bắt kịp thời tình hình, ngân
hàng vẫn tiếp tục cho vay dài hạn với khối lợng lớn đối với các ngành đó. Điều
này sẽ làm tăng mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng, đó là do tài sản có của
ngân hàng tăng lên ở qui mô lớn nhng chủ yếu là dài hạn, trong khi tỉ suất đầu t
bình quân đang giảm, khả năng trả nợ của các con nợ cũng giảm theo, đây là
những tín hiệu đáng lo mà chỉ trong những giai đoạn tiếp theo ngân hàng mới có
thể thấy hết tác hại của nó.Hay nh trong cuộc khủng hoảng nợ ở một số nớc Nam
Mĩ vừa qua, việc vay nợ nớc ngoài với qui mô khổng lồ bằng ngoại tệ sau đó lại
tiến hành cho vay trong nớc bằng đồng nội tệ đã khiến cho cán cân vay giữa ngoại
tệ và nội tệ mất cân bằng nghiêm trọng, kết quả là khi ngoại tệ lên giá, các ngân
hàng này mất khả năng thanh toán, phá sản và đa nền kinh tế các nớc này lâm vào
tình trạng khủng hoảng. Tất nhiên, có rất nhiều nguyên nhân để dẫn đến một cuộc
khủng hoảng toàn diện nh ở Nam mĩ và đông nam á nh vừa qua, nhng qua những
nét khái quát trên em chỉ muốn minh chứng cho tầm quan trọng của việc cơ cấu tài
sản ngân hàng sao cho hợp lí. Nh vậy, nhìn chung rủi ro cấu trúc là loại rủi ro
không trực tiếp hiện hữu trên từng hợp đồng tín dụng, nó chỉ bộc lộ khi nghiên cứu
tổng thể cơ cấu vay và cho vay của ngân hàng, để phòng ngừa loại rủi ro này yêu
cầu ngân hàng phải có những chiến lợc ở tầm vĩ mô, và nâng cao khả năng phân
tích kinh tế cũng nh quản lí tài sản của mình.
5.Rủi ro ngiệp vụ hay rủi ro hoạt động:
Loại rủi ro này là do ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ thu lãi nh
dự tính hoặc thực hiện các nghiệp vụ có sai sótv.v, ví dụ nh rủi ro do ứ đọng vốn.
Cụ thể hơn, ở thời kì trớc, ngân hàng đã huy động đợc một lợng vốn với lãi suất là
7% nhng không cho vay ngay đợc, đến thời kì sau, khi lãi suất cho vay chỉ là 6,7%
nh vậy ngân hàng chỉ có thể không cho vay hoặc cho vay thì chịu lỗ. Trong cả hai
10
trờng hợp ngân hàng đều phải gánh chịu những nguy cơ thua lỗ nhất định. Loại rủi
cao.Phòng ngừa trớc cho vay có thể bao gồm các nội dung sau:
1. Phân tích tín dụng:
Đây là một công tác nghiệp vụ mang tính bắt buộc mà mọi ngân hàng phải
thực hiện trớc khi kí kết bất kì một hợp đồng tín dụng nào, nó giúp ngân hàng
trong quá trình cho điểm tín dụng và đo lờng rủi ro tín dụng trớc cho vay. Việc
phân tích tín dụng nhằm giải đáp những vấn đề sau:
- Ngời xin vay có đáng tin cậy hay không? Vì sao?
- Hợp đồng tín dụng có đợc cấu trúc hoàn chỉnh không
- Quyền đối với tài sản thế chấp và các quyền khác của phía ngân hàng.
12
1.1.Múc độ tin cậy đối với khách hàng :
Đây là vấn đề đánh giá khả năng thanh toán khoản vay đầy đủ, cả gốc và lãi,
và đúng hạn của khách hàng, nó có tính quyết định trong việc phòng ngừa các rủi
ro cơ bản khi quan hẹ tín dụng phát sinh. Để giải đáp vấn đề này ngân hàng cần
căn cứ vào các yếu tố sau:
- Tính cách( character) : Trách nhiệm, tính trung thực, mục đich vay vốn
đúng đắn nghiêm túc, kế họch trả nợ cụ thể và hợp lí là những cơ sở để tạo nên
tính cách hay uy tín của khách hàng trong mắt ngân hàng. Ngân hàng sẽ không
khi nào cho vay khi họ nhận thấy những yếu tố thiếu trung thực, thiếu trách nhiêm
trong việc quản lí sử dụng vốn cũng nh tính khả thi của khoản vay vì nó sẽ dễ
khiến ngân hàng phải gánh chịu những món nợ khó đòi. Tính cách và uy tín của
khách hàng đợc ngân hàng đánh giá qua những tiêu trí sau quan hệ lâu nay giữa
ngân hàng và khách hàng, tham khảo chủ nợ khác của khách hàng, bạn hàng, mục
đích vay, tính khả thi của dự án
- Năng lực (capacity): năng lực ở đây có thể đợc hiểu là khả năng vay vốn,
khả năng hoàn trả cũng nh t cách pháp lí của khách hàng trong việc kí kết hợp
đồng tín dụng. Để hiểu về những vấn đề này, ngân hàng cũng có một hệ thống các
chỉ tiêu cụ thể bao gồm: qui định pháp luật, năng lực ngời bảo lãnh, tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh
- Dòng tiền mặt (cash flow): đây là yếu tố đánh giá khả năng thanh khoản
không?v.v.
1.2. Cấu trúc của một hợp đồng tín dụng hoàn chỉnh:
Khi niềm tin mà ngân hàng dành cho khách hàng đã đợc xác định, vấn đề
tiếp theo là tạo nên một hợp đồng tín dụng hoàn chỉnh để có thể đáp ứng yêu của
cả ngân hàng và khách hàng. Vấn đề này đợc thể hiện trên các điều khoản của một
hợp đồng tín dụng về thời gian cấp phát, kế hoạch hoàn trả, lãi suất, tài sản thế
chấp, sự cam đoan bảo lãnh, và những điều khoản bảo đảm khác. Cấu trúc của một
hợp đồng tín dụng không những phải phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngân
hàng và khách hàng mà nó còn phải hạn chế đến mức tối đa những nguy cơ rủi ro
mà cả hai bên phải gánh chịu. Nếu khách hàng gặp khó khăn trong việc thanh toán
nợ do cấu trúc của một món vay bắt bí hoặc không phù hợp thì chính ngân hàng
cũng phải đối mặt với nguy cơ rủi ro tín dụng do không thu hồi đợc nợ. Nh vậy,
cấu trúc một khoản vay hoàn chỉnh khiến cho quan hệ gia ngời vay và ngời cho
vay là quan hệ hợp tác cùng có lợi, hoàn toàn không phải là quan hệ chèn ép triệt
tiêu lợi ích lẫn nhau, do đó giảm thiểu rủi ro tín dụng.
1.3.Xác định quyền của ngân hàng đối với thu nhập hay tài sản hay thu
nhập của khách hàng:
Nói chung, trừ một số hình thức tín dụng đặc biệt, đa phần các khoản tín
dụng khác đều đòi hỏi khách hàng có tài sản thế chấp. Hình thức thế chấp có thể
rất đa dạng, thông thờng gồm các loại nh: các khoản phải thu ( đối với cho vay
hoạt động ( factoring) ), mua nợ ( cho vay thẻ tín dụng ( credit card loans) ), hàng
14