1
ĐÁNH GIÁ SỰ THAY NGUỒN SINH KẾ CỦA CÁC HỘ DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ THUỘC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN
HỦA NA: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI XÃ TIỀN PHONG, HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
The Assessment of the Livelihood Source Changes of the Immigration Resettlement People of Hua Na
Hydroelectric Project: a Case Stady in Tien Phong Commune, Que Phong District, Nghe An Province
Nguyễn Văn Song
1
, Đậu Thị Bích Hoài
1
TÓM TẮT
Việc di dời, tái định cư (TĐC) sẽ dẫn đến những thay đổi lớn về tập quán canh tác, thay đổi
nguồn sinh kế (SK), môi trường sống ở vùng có tính đặc thù về dân tộc thiểu số và nông thôn miền núi.
Nhưng thực tế phần lớn những hộ dân phải di dời và TĐC trên những địa bàn mới, thiếu đất canh tác,
thiếu nguồn nước để sản xuất và sinh hoạt. Kết quả nghiên cứu tại địa bàn xã Tiền Phong, thuộc dự án
thủy điện Hủa Na, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An cho thấy có hơn 80% số hộ dân cho rằng cuộc sống
của họ ở nơi mới kém hơn trước. Khoangr 70% số hộ dân không hài lòng về công tác đền bù, bồi thường
TĐC. Bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh, bài viết tập trung vào việc đánh giá sự thay đổi
nguồn SK, tìm ra các hạn chế còn tồn tại, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu, hiệu quả nhằm ổn định
SK bền vững cho người dân TĐC của công trình thủy điện Hủa Na nói riêng và các chương trình TĐC
thủy điện nói chung.
Từ khóa: Nguồn sinh kế, tái định cư, thủy điện, thay đổi sinh kế
SUMMARY
The relocation and resettlement will lead to major change in farming practices, change in sources
of livelihood and the living environment in areas with characteristics of ethnic minority and mountainous
countryside. The results of researche at the Tien Phong commune, Hua Na hydropower project, Que Phong
district, Nghe An province show that more than eighty (80%) of households said that their life in the new
place is less than the old one. About seventy percent (70 %) of households are not satisfied with the
compensation, resettlement compensation. By descriptive statistics and comparative methods, the article
focuses on evaluating the changes in livelihoods, finding out the existing advantages and disadvantages.
Base on these results of the study, the authors propose a number of the useful, and helpful solutions to
Huôi Lạn thuộc khu vực di dân ngoài xã Tiền Phong với tổng số 290 hộ cơ bản đại diện cho
thực trạng tình hình di dân, TĐC của dự án thủy điện Hủa Na. Phương pháp nghiên cứu thông
qua thu thập nguồn số liệu từ cơ quan quản lý, người dân kết hợp với phiếu điều tra và khung
phân tích sự thay đổi về nguồn nhân lực, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài
chính, nguồn lực xã hội đã phản ánh được những thay đổi chủ yếu về nguồn SK của người dân
TĐC, từ đó rút ra các mặt được, chưa được và đề xuất các giải pháp phục hồi SK sau TĐC.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguồn số liệu
2.1.1 Nguồn số liệu thứ cấp (đã công bố)
Nghiên cứu sử dụng các tài liệu thứ cấp được thu thập từ Ban dự án TĐC thủy điện Hủa
Na, Ủy ban nhân dân xã Tiền Phong. Tài liệu bao gồm những báo cáo quy hoạch tổng thể di dân
TĐC, công tác bồi thường hỗ trợ di dân của dự án thủy điện Hủa Na. Ngoài ra có sự tham khảo
thêm thông tin TĐC từ các bài báo, công trình đã công bố, văn bản chính sách có liên quan…
2.1.2 Nguồn số liệu sơ cấp (mới)
Bài viết còn sử dụng các thông tin sơ cấp được thu thập điều tra từ 60 hộ di dân tại 2
điểm TĐC của xã Tiền Phong chứa nhiều hộ di dân nhất là Piêng Cu và Huôi Siu – Huôi Lạn.
Trong đó mỗi điểm là 30 hộ thông qua phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn với nội dung tập trung
về sự thay đổi nguồn SK của các hộ dân trước và sau khi TĐC. Ngoài ra các phương pháp
phỏng vấn KIP (Key Imformant Panel), họp nhóm cũng được sử dụng để thu thập thêm thông
tin chủ chốt của những cán bộ chuyên trách thuộc ban quản lý dự án, các già làng, trưởng bản
thuộc điểm TĐC, mục đích thu thập nguồn thông tin sát thực và nổi cộm trong công tác di dân,
từ đó có những nhìn nhận đúng về sự thay đổi nguồn SK các hộ dân.
2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Để đánh giá được sự thay đổi nguồn SK cấu thành nên tài sản SK của các hộ TĐC, quá
trình phân tích của bài viết sẽ dựa theo khung phân tích SK bền vững (DFID, 2003), cụ thể là sự
thay đổi về: nguồn lực nhân lực, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính,
nguồn lực xã hội. Với việc sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp thống kê so
sánh và hệ thống chỉ tiêu phân tích sau khi tổng hợp các số liệu thu được nhằm thấy rõ sự thay đổi
nguồn SK của các hộ di dân TĐC giữa các thời điểm và giữa các điểm TĐC.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
trong vòng 2 năm) còn thấp và trong thời gian ngắn chưa đủ để người dân ổn định và tự cung
cấp được sản phẩm từ sản xuất.
Mặt khác, cách thức hộ dân sử dụng số tiền bồi thường, hỗ trợ thực sự chưa hợp lý và
hiệu quả. Bởi đối tượng di dân của dự án hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo. Với số tiền
bồi thường và hỗ trợ (113,72 triệu đồng/hộ) là khá lớn nên các hộ có điều kiện xây dựng thêm
cơ sở vật chất mà tại nơi ở cũ các hộ không có cơ hội mua sắm (Bảng 1). Có đến 60% số tiền
nhận được dùng vào việc mua sắm đồ dùng sinh hoạt (ti vi, xe máy, tủ, bàn ghế,…); 15% số tiền
nhận được sử dụng vào các mục đích khác (ăn uống, vui chơi,…); 25% số tiền nhận được để đầu
tư cho sản xuất (mua cây, con giống, vật tư nông nghiệp,…). Nhưng đó lại là xu hướng chung
của đa số người dân nông thôn khi nhận được tiền bồi thường, hỗ trợ. Bởi xuất phát điểm của
đồng bào là nghèo, trình độ dân trí thấp, nên khi nhận được một số tiền lớn, tâm lý của họ là
thích mua sắm đồ dùng mà trước đây muốn sở hữu mà không có cơ hội. Ngoài ra, chính quyền
địa phương cũng chưa có sự tư vấn, định hướng việc sử dụng như thế nào là tốt nhất.
Bảng 1. Kết quả về bồi thường, hỗ trợ cho hộ tái định cư
T
T
Loại đất/tài sản
Bồi thường bằng đất (m
2
) Bồi thường, hỗ trợ bằng tiền (trđ)
Piêng
Cu
Huôi Siu-
Huôi Lạn
BQ
Piêng
Cu
Huôi Siu –
Huôi Lạn
BQ
42,79
1
H
ỗ trợ di chuyển
6
,
10
11
,
00
8
,
55
2
H
ỗ trợ sản xuất
20
đất sản xuất được cấp nhỏ hơn diện tích đất canh tác cũ của hộ, bởi diện tích đất canh tác nông
nghiệp được cấp có hạn, hầu hết là nhỏ hơn 2 ha. Theo đánh giá của 21,67% các hộ di dân cho
rằng chất lượng đất mới được khai hoang hầu như không bằng với đất canh tác cũ. Bởi hầu hết
các hộ di dân là đồng bào dân tộc Thái với truyền thống canh tác lúa nước, nhưng trên thực tế
đất canh tác được bồi thường chủ yếu là đất đồi, độ dốc cao.
Tuy người dân vẫn tiếp tục sản xuất các cây trồng truyền thống như lúa nước, ngô,
sắn… nhưng sản lượng không cao. Do đó, việc bị thu hẹp đất sản xuất và thay đổi đất canh tác
khiến người dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống. Nên
các hộ chủ yếu dựa vào tiền hỗ trợ mua lương thực phần nào khắc phục vấn đề thiếu lương thực
trong thời gian canh tác những vụ đầu.
Bảng 2. So sánh diện tích, chất lượng đất nông nghiệp trước và sau khi tái định cư
Chỉ tiêu Số hộ CC (%)
1. Diện tích đất nông nghiệp
- Diện tích được cấp lớn hơn 4 6,67
- Diện tích được cấp bằng 22 36,67
- Diện tích được cấp ít hơn 34 56,67
2. Chất lượng đất nông nghiệp
- Chất lượng đất tốt hơn nơi ở cũ 12 20,00
- Chất lượng đất bằng nơi ở cũ 35 58,33
- Chất lượng đất kém hơn nơi ở cũ 13 21,67
Nguồn: Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra năm 2012
Mặt khác, hệ thống thuỷ lợi tại nơi TĐC chưa thực sự hoàn thiện và đáp ứng được nhu
cầu canh tác của người dân. Mặc dù các công trình thuỷ lợi tại nơi ở cũ vẫn còn rất sơ sài, nhưng
cũng có thể tạm đáp ứng được nhu cầu của người dân (Bảng 3).
Bảng 3. Đánh giá hiện trạng sử dụng công trình thủy lợi tại nơi ở cũ và nơi ở mới
Lúa 2 vụ Lúa 1 vụ Cây màu, lâu năm Tiêu thoát nước
H
ộ
Tốt 11 18,33 26 43,33 16 26,67 13 21,67
Bình thường 45 75,00 34 56,67 42 70,00 45 75,00
Không sử dụng được 4 6,67 0 0,00 2 3,33 2 3,33
Nguồn: Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra năm 2012
b) Sản xuất lâm nghiệp
Trước khi TĐC, có 85% số hộ điều tra được giao đất trồng rừng và bảo vệ rừng, hầu hết
các hộ này đều có diện tích đất lâm nghiệp trên khoảng 4 ha. Sau khi TĐC, quy hoạch đất rừng
cho các hộ TĐC tính trung bình cho một hộ đã giảm nhiều so với trước: tỉ lệ hộ có diện tích
rừng ít hơn 1 ha từ 10% lên đến 28,33%; đặc biệt chỉ còn 11,67% hộ có diện tích rừng trên 3 ha,
trong khi trước đây số hộ có diện tích trên 3 ha chiếm tỉ lệ cao nhất với 46,67%. Diện tích đất
rừng của các hộ điều tra giảm dẫn đến thu nhập từ rừng giảm đi. Bởi các hộ dân ở vùng cao như
nơi này đều có nguồn thu nhập từ rừng rất đáng kể, như thu nhập từ măng, nứa…
Bảng 4. Diện tích lâm nghiệp của các hộ điều tra trước và sau khi tái định cư
5
Diện tích
đất lâm nghiệp
Trước TĐC Sau TĐC
S
ố hộ
CC (%)
S
ố hộ
CC (%)
≤ 1 ha 6 10,00 17 28,33
Diện tích từ 1 – 3 ha 26 43,33 36 60,00
≥ 3 ha 28 46,67 7 11,67
- Đại học Lđ/hộ 0,00 0,00 -
- Cao đẳng Lđ/hộ 0,00 0,00 -
- Trung cấp Lđ/hộ 0,05 0,08 160,00
- Trung học phổ thông Lđ/hộ 0,31 0,38 122,58
- Trung học cơ sở Lđ/hộ 1,18 1,18 100,00
- Tiểu học cơ sở Lđ/hộ 1,08 1,00 92,59
Nguồn: Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra năm 2012
Số lượng, trình độ, lĩnh vực lao động của các hộ sau khi TĐC không có nhiều khác biệt
so với trước TĐC. Như vậy, chương trình TĐC chưa trang bị thêm kỹ năng, kiến thức nên chưa
tạo thêm việc làm mới cho người dân bị ảnh hưởng. Các nguồn SK của người dân bị co hẹp lại
(do mất đất) nhưng lại không được bổ sung bằng các nguồn SK khác ngoài nông nghiệp.
3.2.3 Nguồn lực vật chất
Nhà ở tại các khu TĐC được nhà nước xây dựng bằng các vật liệu kiên cố theo mẫu thiết
kế có sẵn. Đa phần người dân hài lòng về kiểu dáng thiết kế nhưng sự bố trí của các hộ gia đình
là quá sát nhau. Do diện tích đất cấp có hạn, nên khu vực chăn nuôi bị giảm đi nhiều, đặc biệt
diện tích làm vườn của các hộ (Bảng 6).
6
Bảng 6. Đánh giá về điều kiện nhà ở trước và sau khi tái định cư
Chỉ tiêu
Diện tích nhà ở Chất lượng nhà
Số hộ CC (%) Số hộ CC (%)
Tốt hơn nơi ở cũ 15 25,00 29 48,33
Bằng nơi ở cũ 35 58,33 22 36,67
Kém hơn nơi ở cũ 10 16,67 9 15,00
Tổng 60 100,00 60 100,00
Nguồn: Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra năm 2012
Ngoài ra, khả năng tiếp cận dịch vụ ở nơi ở mới tốt hơn so với nơi ở cũ do khoảng cách bình
quân từ nơi TĐC đến các dịch vụ xã hội đều được cải thiện so với trước, thậm chí tại khu TĐC
Piêng Cu đã được xây dựng trường tiểu học, trạm y tế ngay trong nội điểm (Bảng 7).
11,35 9,31
Điểm TĐC Huôi Siu – Huôi Lạn
- Đến đường quốc lộ
17,18 0,54
- Đến trường tiểu học
8,11 1,65
- Đến trường trung học
5,38 5,16
- Đến trạm y tế
17,20 1,65
-
Đ
ến chợ trung tâm
7,53 7,20
Nguồn: Tổng hợp kết quả từ phiếu điều tra năm 2012
Nghiên cứu cũng cho thấy hệ thống cung cấp điện và nước được cải thiện đáng kể so với
nơi ở cũ. Cả hai điểm TĐC đều có điện lưới và nước sạch sử dụng (Bảng 8).
Bảng 8. Điều kiện được sử dụng nước sạch, điện sáng của các hộ dân trước và sau khi tái định cư
Chỉ tiêu
Trước TĐC Sau TĐC
S
ố hộ
T
ỷ lệ (%)
S
không có sự bổ sung từ nguồn SK khác, tính bình quân thu nhập một nhân khẩu khoảng 406.000
đồng/tháng, áp dụng theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011 – 2015 thì hầu hết các hộ ở đây
thuộc diện hộ cận nghèo và nghèo. Mức thu nhập này thấp hơn 1,23 lần so với trước đây.
Nguồn lực tài chính vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp (đất đai, tự nhiên) là chính với phương
thức sản xuất tự cung tự cấp lạc hậu. Từ đó cho thấy trong thời gian tới cần có sự đầu tư nhiều
hơn cho sản xuất để nâng cao thu nhập của hộ để bằng và tiến tới cao hơn so với nơi ở cũ.
Bảng 9. Tình hình thu chi trong sản xuất của một hộ thuần nông trước và sau khi tái định cư
(ĐVT: Triệu đồng/hộ)
7
Chỉ tiêu Trước TĐC Sau TĐC So sánh (%) (sau/trước)
I. Tổng thu BQ hộ
34,543 30,380 87,95
- Trồng trọt, lâm nghiệp
22,557 22,748 100,85
- Chăn nuôi
11,986 7,631 50,24
II. Chi phí
10,350 6,241 60,31
- Trồng trọt, lâm nghiệp
6,360 3,986 62,68
- Chăn nuôi
3,990 2,255 56,52
III. Thu nhập của hộ
24,193 24,138 99,77
- Trồng trọt, lâm nghiệp
16,196 18,761 115,83
- Chăn nuôi
7,997 5,377 67,23
IV. Thu nhập BQ/LĐ
7,444 6,260 84,10
"Thay đổi chiến lược SK" của các hộ di dân TĐC thủy điện Hủa Na chính là những thay
đổi về sự lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn
vốn tài sản SK nhằm tăng thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống trước sự thay đổi của các
nguồn SK đã phân tích ở trên.
100% các hộ di dân trước khi TĐC đều có hoạt động SK truyền thống mang tính tự
cung, tự cấp, phụ thuộc vào thiên nhiên, không có đầu tư về cả kỹ thuật cũng như sự chăm sóc
do vậy năng suất rất thấp và ít chú ý đến bảo vệ tài nguyên. Các hoạt động chủ yếu như: trồng
trọt (các cây trồng chính là lúa rẫy, ngô, sắn, chuối), chăn nuôi, khai thác rừng… Họ hầu như
không có khái niệm về thị trường, một số hộ vẫn đang sử dụng hình thức trao đổi hiện vật.
Những phong tục này là một trong những yếu tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất.
Hiện nay, do tác động của dự án di dân TĐC, các hộ gia đình đã có những thay đổi
chiến lược SK truyền thống. Mô hình SK mới của dự án được áp dụng đó là đưa một số cây
(ngô lai, đậu đỗ, cà phê, tiêu), con và các kỹ thuật mới đã được đưa vào sản xuất và đã có những
tác động tích cực như tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập, giúp bà con thêm kiến thức
về luân canh, xen canh, chăn nuôi cải tiến hơn. Tuy nhiên những thay đổi đó chưa thực sự toàn
diện, mới chỉ có 16,6% các hộ áp dụng mô hình SK mới. Bởi diện tích đất sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản bị thu hẹp đi rất nhiều, trong khi cơ cấu thu nhập của người dân
chủ yếu từ lĩnh vực này, mà tâm lý người dân còn ỷ lại vào tiền trợ cấp nên chưa tạo ra sự khác
biệt nhiều so với trước thời điểm TĐC. Có đến 83,33% số hộ dân cho rằng cuộc sống của họ ở
nơi mới kém hơn trước. Điều đó dẫn đến các hoạt động khôi phục SK cho người dân TĐC hiện
nay là chưa bền vững, kết quả SK kém hưng thịnh hơn so với trước đây.
8
3.3 Những thành tích và hạn chế
3.3.1 Những thành tích và kết quả đạt được
Chương trình TĐC thuộc công trình thủy điện Hủa Na góp phần mang lại những chuyển
biến tích cực trong quá trình thay đổi nguồn SK của các hộ dân khi di chuyển đến vùng đất mới
thông qua các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, dự án trồng trọt và chăn nuôi được quy hoạch theo
tiêu chí nông thôn mới.
Với sự tham gia của chính quyền và nhân dân địa phương, kế hoạch TĐC đã được xây
dựng theo hướng tôn trọng và duy trì những giá trị văn hóa của đồng bào thiểu số trong khu
cho
đất sinh hoạt (gồm cả đất vườn) cho từng hộ tại các điểm TĐC nông thôn bất kể quy mô gia
đình là không công bằng cho những gia đình lớn hoặc những người có nhiều tài sản trước TĐC.
e) Về nguồn lực tài chính
Đa số người dân TĐC hiện đang sống nhờ tiền bồi thường thiệt hại, tiền chi phí hỗ trợ
TĐC. Rất nhiều hộ khi nhận khoản tiền mặt đền bù lớn đã gặp khó khăn trong việc quản lý và
sử dụng khoản tiền này. Chỉ có 25% số hộ đầu tư vào sản xuất, trong khi đa số hộ đã mua xe
máy, còn số khác lại lãng phí về uống rượu hoặc thuốc phiện. Những hộ này chắc chắn sẽ gặp
cảnh thiếu lương thực trong tương lai và có thể lại rơi vào cảnh nghèo túng nếu như không tìm
được những nguồn thu nhập bền vững.
Tóm lại, với những hạn chế trên đây, sự thiếu hụt về đất đai (nguồn lực tự nhiên) là cản
trở lớn nhất trong việc đảm bảo SK của các hộ nông dân và sự phát triển kinh tế xã hội xã Tiền
Phong (khi thuỷ điện Hủa Na đi vào hoạt động - dự kiến cuối quý 4 năm 2012).
3.4 Đề xuất giải pháp ổn định sinh kế bền vững cho các hộ dân tái định cư dự án thủy
điện Hủa Na tại xã Tiền Phong
9
Về nguồn nhân lực: Khi đến vùng đất mới, sự yếu kém về kiến thức và kỹ năng làm
việc của người lao động là trở ngại rất lớn. Làm thế nào để người dân năng động hơn trong việc
tìm và huy động các giải pháp nhằm phát triển SK cho chính bản thân họ, thì Ban dự án và
chính quyền địa phương cần mở lớp đào tạo nghề, hỗ trợ học tập cho dân để chuyển đổi nghề từ
nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đặc biệt là chính sách hỗ trợ 100% học phí đi học trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học trong thời gian đào tạo, thực hiện theo quy định hiện hành của
Nhà nước. Ngoài ra cần nâng cao năng lực quản lý của cộng đồng và chính quyền địa phương.
Về nguồn lực xã hội: Xuất phát từ thực tế, đồng bào chủ yếu là dân tộc Thái, có những
thói quen, lối sống, tập tục canh tác riêng khác với những dân tộc khác. Chính quyền cần tăng
cường công tác dân vận nhằm tạo ra sự đồng thuận của đồng bào các dân tộc đối với chủ
trương, chính sách TĐC. Phân cấp và trao quyền cho các cấp cơ sở gắn với việc nâng cao năng
lực của đội ngũ cán bộ quy hoạch và cán bộ trực tiếp làm công tác di dân, TĐC. Đồng thời tạo
thị trường cho sản phẩm nông nghiệp, có mạng lưới cung cấp thông tin về thị trường (ngô, lúa,
tiêu ), có hướng chuyển dịch các hoạt động kinh tế để đáp ứng nhu cầu tthị trường.
tiêu cực, cũng như ảnh hưởng đến quyết định thay đổi chiến lược SK của các hộ di dân. Nhưng
nhìn chung các thay đổi này đều có xu hướng kém bền vững hơn so với thời điểm trước TĐC.
Thực tế cho 83,33% số hộ dân cho rằng cuộc sống của họ ở nơi mới kém hơn trước, 70% số hộ
dân không hài lòng về công tác đền bù, bồi thường TĐC là những con số rất đáng báo động về
công tác di dân, đền bù, TĐC thuộc dự án thuỷ điện Hủa Na hiện nay. Để giải quyết vấn đề ‘hậu
TĐC’, nghiên cứu đã đưa ra một số giải pháp về nguồn nhân lực, nguồn lực tự nhiên, nguồn lực
tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực xã hội phù hợp với thực tế và tiềm lực của hộ. 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đặng Nguyên Anh (2007). Tái định cư cho các công trình thuỷ điện ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, (số 8/2007).
UBND huyện Quế Phong (2011). Báo cáo Quy hoạch tổng thể di dân tái định cư công trình thủy điện Hủa Na, Quế
Phong.
Khung phân tích sinh kế bền vững IFAD, trang web:
Quyết định 34/2010/QĐ-TTg ngày 08/04/2010 về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC các dự án
thủy lợi, thủy điện.