MỞ ĐẦU
Sau khi kết thúc các môn học tại trường đại học và qua hai đợt thực tập tại công
ty cơ khí Z179 thuộc Bộ Quốc Phòng, dựa vào những kiến thức đã học ở trường và
những kiến thức thực tế tại công ty, em nhận thấy rằng vấn đề quản trị vật tư là
một trong số những vấn đề nổi cộm nhất của công ty. Vì là một công ty cơ khí,
chuyên sản xuất các loại bánh răng, phụ tùng ôtô, máy nông nghiệp…nên việc sử
dụng vật tư sao cho có hiệu quả nhất luôn được ban giám đốc và các phòng ban
chức năng của công ty chú trọng đến. Thêm vào đó, hiện nay giá của các loại sắt
thép trên thị trường đang có xu hướng tăng cao nên việc thu mua, dự trữ và sử
dụng vật tư của công ty càng được chú trọng hơn. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài
“Một số vấn đề về công tác quản trị vật tư tại công ty cơ khí Z179” để làm
chuyên đề thực tập tốt nghiệp cho mình.
Chuyên đề được chia thành 3 chương với kết cấu như sau:
Chương I. Khái quát về công ty cơ khí Z179
I. Quá trình hình thành và phát triển
II. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Chương II. Thực trạng của công tác quản trị vật tư tại công ty cơ khí Z179
I. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản trị vật tư của công ty
II. Thực trạng công tác quản trị vật tư của công ty cơ khí Z179
III. Đánh giá chung về công tác quản trị vật tư của công ty
Chương III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị vật tư tại
công ty cơ khí Z179
I. Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới
II. Những giải pháp chủ yếu
III. Kiến nghị
Mặc dù chuyên đề thực tập tốt nghiệp này chỉ nghiên cứu một vấn đề rất nhỏ
trong hệ thống các lĩnh vực quản trị nói chung nhưng do thời gian và trình độ có
1
hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của các thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo – TS Trần Việt Lâm đã tận tình hướng
định ban giám đốc, chỉ định hàng ngũ cán bộ chủ chốt. Từ các tổ nay trở thành các
ngành sản xuất như ngành cơ khí, ngành dụng cụ, ngành nóng. ở mỗi ngành đã
3
được trang bị đầy đủ về người và các trang thiết bị hiếm quý. Ban vật tư, ban quân
y cũng lần lượt ra đời. Quân số cán bộ, chiến sĩ, công nhân ngày một tăng nhanh.
Do yêu cầu phát triển của ngành xe nên trong năm 1971 cục quản lí xe giao cho
Z179 nghiên cứu chế thử và đi vào sản xuất động cơ xe Trường Sơn, chế tạo trục
khuỷu, máy nén khí, bơm trợ lực tay lái bầu giảm xóc ngang, cần gạt mưa và nhiều
bộ gá lớn nhỏ cho các nhà máy bạn trong cục. Muốn hoàn thành được nhiệm vụ,
công ty đã nhanh chóng ổn định về mọi mặt. Các cấp lãnh đạo trong nhà máy đã
tập trung vào việc tập hợp được cơ sở vật chất kĩ thuật nhằm tổ chức lại sản xuất
và xây dựng được một đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên yêu ngành, yêu
nghề phục vụ lâu dài trong quốc phòng và cho sự lớn mạnh của ngành xe mai sau.
Công ty cơ khí Z179 đã phấn đấu liên tục trở thành công ty được tổng cục phân
cấp loại 2, có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, có các trang thiết bị tương đối hiện đại
nhằm phục vụ lâu dài cho ngành xe.
2.2. Thời kì phát triển sau khi sát nhập và những đóng góp của nhà máy
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1978)
Ngay từ đầu năm 1975 Tổng cục Kĩ Thuật đã chủ trương hợp nhất một số xí
nghiệp nhỏ tạm thời, bao cấp nhập thành những quy mô sản xuất lớn vào Z179.
Nhiệm vụ đặt ra ngay lúc đó là phải vận chuyển toàn bộ các trang thiết bị nhân lực
về địa điểm tập kết sao cho an toàn tuyệt đối về người và của. Song song với việc
di chuyển, công ty vừa thiết kế, vừa thi công, vừa xây dựng và lắp đặt thiết bị để đi
vào sản xuất đảm bảo kế hoạch năm.
Công ty đã hết sức cố gắng ổn định công việc và thực hiện các nhiệm vụ được
giao. Ngay sau khi sát nhập nhà máy đã được giao nhiệm vụ chính là sản xuất bánh
răng, phụ tùng gầm ôtô, ngoài ra còn tiến hành sản xuất các phụ tùng thay thế để
đáp ứng yêu cầu cấp bách cho việc sửa chữa xe phục vụ cho chiến đấu. Ngay từ
giữa năm 1975, sau khi sát nhập nhà máy đã đưa ngay vào lắp đặt dây chuyền sản
xuất bánh răng cho nên cuối năm 1975 dây chuyền sản xuất này đã đi vào ổn định.
5
II. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
1. Đặc điểm về hình thức pháp lý và loại hình sản xuất kinh doanh
*Hình thức pháp lí
Công ty cơ khí Z179 là một doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc Bộ Quốc
Phòng- Tổng Cục Kĩ Thuật Quân Đội. Do là một doanh nghiệp nhà nước nên nhìn
chung công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế giống như các doanh nghiệp nhà
nước khác. Mặc dù vẫn được hưởng những “đặc quyền” nhất định song hiệu quả
kinh doanh của công ty đạt được còn ở mức thấp do trình độ máy móc thiết bị lạc
hậu, năng suất lao động thấp, trình độ quản lý còn hạn chế. Công ty có nhiều lợi
thế trong việc vay vốn của các ngân hàng nhà nước và quân đội, nhưng cơ cấu vốn
của công ty thường xuyên không ổn định, tình hình sản xuất kinh doanh của công
ty còn đạt hiệu quả thấp, nhà nước thường xuyên phải bù lỗ. Một số mặt hàng của
công ty, doanh thu không bù đắp được chi phí nên không thu được lợi nhuận. Tuy
vậy, công ty vẫn tiến hành sản xuất, nhằm tạo công ăn việc làm và ổn định đời
sống cho cán bộ công nhân viên trong toàn bộ doanh nghiệp. Chủ yếu các hoạt
động sản xuất của công ty đều tập trung vào sản xuất sản phẩm truyền thống của
công ty là sản phẩm bánh răng côn xoắn. Sản phẩm này luôn mang lại cho công ty
những cơ hội làm ăn lớn và những thành tích sản xuất đáng tự hào. Hàng năm,
ngoài sản xuất các mặt hàng kinh tế cho các thị trường công, nông, lâm, ngư
nghiệp, công ty còn phải sản xuất một số mặt hàng Quốc Phòng, do Bộ giao. Khi
đó, tất cả mọi hoạt động của công ty đều phải tập trung vào việc sản xuất đủ số
lượng và chất lượng sản phẩm được giao. Đó vừa là một lợi thế, vừa là một bất lợi
của một doanh nghiệp nhà nước. Những hoạt động sản xuất như vậy, điều mà công
ty quan tâm không phải là lợi nhuận hay doanh thu mà là thành tích đạt được: sản
phẩm có đủ về số lượng hay không, có kịp tiến độ bàn giao hay không, có được
đảm bảo về chất lượng hay không.
Cũng như các doanh nghiệp nhà nước khác, công ty cơ khí Z179 luôn tìm cho
mình một hướng đi mới nhằm thoát khỏi những áp đặt sẵn có từ trước đến nay,
6
- Phụ tùng ôtô, xe máy, các cơ cấu truyền động như: Bánh răng côn xoắn, côn
thẳng, bánh răng trụ răng thẳng, răng nghiêng. Trục vít bánh vít và các dạng trục
then hoa.
- Hộp số các loại dùng cho: ôtô, xe xích, máy thuỷ, máy nông nghiệp và phụ
tùng khác cho các ngành dệt, nhiệt điện.
- Phụ kiện đường dây tải điện, bi nghiền xi măng, nghiền than.
- Đĩa xích xe máy dùng cho các loại xe Honda, Suzuki, Dayang, Yamaha.
- Các loại dụng cụ cắt gọt: dao phay lăn răng, dao sọc, bao hình, dao chuốt, quả
lô cán ren, cán thép.
- Các loại bánh xe làm việc trong môi trường ăn mòn.
Trong đó mặt hàng truyền thống của công ty là bánh răng côn xoắn có nhiều
ưu thế trên thị trường sản phẩm cơ khí. Công ty gần như không có đối thủ cạnh
tranh trong lĩnh vực này. Hiện nay tuy đã có một số nơi sản xuất bánh răng côn
xoắn nhưng chất lượng không cao, không đảm bảo các quy trình kĩ thuật nên sản
phẩm của công ty vẫn tiêu thụ được với khối lượng lớn. (Xem bảng số liệu về sự
biến động sản phẩm của công ty trong 5 năm gần đây).
Số lượng sản phẩm sản xuất ra của công ty hàng năm phụ thuộc chủ yếu vào chỉ
tiêu của Bộ giao và số hợp đồng đặt hàng của khách hàng. Do công ty chỉ sản xuất
sản phẩm theo đơn đặt hàng nên số lượng sản xuất sản phẩm hàng năm không ổn
định và có sự biến động lớn qua các năm. Một số mặt hàng có năm không sản xuất
nhưng có năm lại sản xuất với số lượng sản phẩm rất lớn. Điều đó phụ thuộc rất
nhiều vào tình hình kinh tế xã hội trong từng năm. Như nhóm sản phẩm phụ tùng
xe máy, hai năm 1998 và 1999 công ty không có hợp đồng nên không sản xuất một
sản phẩm nào, nhưng đến những năm 2000 đến 2002, công ty đã sản xuất với số
lượng rất lớn. Đó là do trong ba năm gần đây, ở Việt Nam, “cơn sốt” xe máy với
phụ tùng nội địa hoá đã làm cho ngày càng nhiều doanh nghiệp trong nước sản
xuất những sản phẩm này. Nhưng có thể thấy, mặt hàng bánh răng côn xoắn của
công ty hàng năm được sản xuất với khối lượng tương đối ổn định, năm nào công
ty cũng có hợp đồng để tiến hành sản xuất. Ngoài sản phẩm bánh răng côn xoắn
8
VIII Các loại khác Cái 63250 60985 71120 77853 79890
9
bảo chất lượng và kĩ thuật của sản phẩm, chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể gây ra
một tổn thất lớn.Trên thị trường hàng kinh tế, công ty có lợi thế lớn về sản phẩm
bánh răng côn xoắn. Có thể nói, cả miền Bắc chỉ có công ty là có thể sản xuất được
các sản phẩm bánh răng côn xoắn đảm bảo cả về yêu cầu chất lượng và kĩ thuật
nên gần như công ty “độc quyền” trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm này.
Bánh răng côn xoắn được coi là mặt hàng truyền thống của công ty và không có
đối thủ cạnh tranh. Do đặc thù của việc sản xuất bánh răng côn xoắn là đòi hỏi chất
lượng nguyên vật liệu, cụ thể là thép, cao, không pha chế nhiều mà nguồn cung
ứng nguyên vật liệu trên thị trường tự do là rất hạn chế (nếu có thì chất lượng thép
không cao, không phù hợp với yêu cầu của việc chế tạo bánh răng côn xoắn) nên
doanh nghiệp chiếm nhiều ưu thế trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm này
trên thị trường toàn miền Bắc. Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm truyền
thống của công ty chủ yếu là do Bộ Quốc Phòng cung cấp với số lượng lớn và do
công ty luôn luôn chú trọng đến việc đảm bảo khối lượng vật tư dự trữ, bảo hiểm
cho sản xuất nên công ty luôn đáp ứng được các đơn đặt hàng cũng như yêu cầu
cấp bách của khách hàng. Tuy sản phẩm bánh răng côn xoắn vẫn là một mặt hàng
“đặc chủng” của công ty nhưng hiện nay trên thị trường đã xuất hiện sản phẩm
bánh răng côn xoắn nhập ngoại có chất lượng tương đương mà giá thành lại thấp
hơn rất nhiều nên công ty đã gặp phải một số khó khăn. Nhưng do sự hỗ trợ của Bộ
Quốc Phòng và các chính sách “nội địa hoá” của nhà nước, công ty vẫn tiếp tục
đứng vững và phát triển được mặt hàng truyền thống của mình.
Ngoài ra, các sản phẩm khác của công ty cũng có mặt trên thị trường công
nghiệp trong cả nước như các mặt hàng nông nghiệp, các loại phụ tùng xe máy,
nhông xích. Tuy nhiên, sản phẩm nhóm này của công ty lại bị cạnh tranh gay gắt
trên thị trường trong nước, bởi một số công ty chuyên ngành khác. Các sản phẩm
này thường là sản xuất nhỏ lẻ và không ổn định, khi thì sản xuất với số lượng lớn,
khi thì không có hợp đồng để tiến hành sản xuất. Tuy vậy, các mặt hàng này cũng
góp phần làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra liên tục và ổn
Máy khoan 1 2 19
Máy doa 1 1 3
Máy bào sọc 1 3 6
Máy búa 5 5
Máy dập ép 4 5
Lò nhiệt luyện 6 8
Máy khác 4 3 5 5 67
11
Tổng số máy móc hiện có trong toàn công ty 210
Qua bảng theo dõi trên, ta thấy hiệu suất sử dụng của các máy móc thiết bị của
công ty còn rất thấp.
Máy móc thiết bị không sử dụng quá nhiều, loại máy nào số lượng lớn thì bỏ
không lại càng nhiều. Công ty nên có kế hoạch sử dụng máy móc thiết bị hợp lý
hơn để từ đó có thể tiết kiệm được nguồn nguyên nhiên vật liệu vận hành máy
móc. Những loại máy nào còn nhiều mà không sử dụng hết, công ty có thể thanh lý
hoặc bán để có vốn đầu tư mua những máy móc thiết bị hiện đại hơn.
Tuy trình độ máy móc, công nghệ lạc hậu nhưng do trình độ lành nghề của
công nhân và cán bộ trong công ty nên quá trình sản xuất sản phẩm vẫn diễn ra liên
tục. Các dây chuyền sản xuất vẫn đạt kết quả cao. Tuy nhiên, nếu được đầu tư
đúng chỗ, năng suất lao động bình quân nhà máy sẽ đạt kết quả tốt hơn. Trong thời
gian tới, công ty có kế hoạch đầu tư 7 tỉ đồng vào việc mua sắm một số loại máy
móc thiết bị mới, hiện đại. Điều đó sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu
quả sản xuất của công ty.
5. Doanh thu, lợi nhuận
Trong thời gian khoảng 5 năm gần đây, công ty cơ khí Z179 đã tránh được tình
trạng sản xuất trì trệ, không hoàn thành kế hoạch sản xuất đã đề ra. Ban giám đốc
phối hợp chặt chẽ với các phòng ban, phân xưởng điều hành sản xuất trực tiếp nên
trong 5 năm gần đây nhất, nhà máy đã đạt được những thành quả nhất định. Riêng
nhiệm kì 2001 - 2003, Đảng bộ công ty lãnh đạo đã chấm dứt những năm không
hoàn thành nhiệm vụ, phấn đấu đạt được một số kết quả nhất định trong sản xuất
VIII Giá trị các hàng khác 1226787 554072 500612 550726 768920
B KD ngoài SXCN 909000 1405068 1504120 1650523 1987218
Tổng cộng 7454785 6744000 8532105 10659873 18307817
Còn về tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong những năm gần đây
cũng có sự tăng trưởng đáng mừng. So với năm 1999 lợi nhuận của công ty năm
2000 có giảm. Năm 2000, lợi nhuận của doanh nghiệp bằng 0. Nhưng đến năm
2001, lợi nhuận của doanh nghiệp lại tăng đáng kể so với năm 1999 (khoảng
29,37%) và cho đến năm 2002, lợi nhuận của doanh nghiệp đã đạt 91443000 đồng,
tăng hơn năm 1999 là 43,41%, tăng hơn so với năm 2001 là 10%. Trong năm
13
2003, lợi nhuận của công ty đã đạt hơn 110 triệu đồng, tăng vượt bậc so với những
năm trước. Đó là nhờ doanh nghiệp đã cân đối được giữa các khoản thu và chi, có
nhiều tiến bộ trong lĩnh vực quản trị sản xuất, làm giảm giá thành sản phẩm mà
vẫn giữ được chất lượng tốt.
Bảng lợi nhuận của công ty cơ khí Z179 trong 5 năm gần đây (1999 –
2003)
Đơn vị: 1000 đồng
TT Tên sản phẩm 1999 2000 2001 2002 2003
A KD trong SXCN
I Nhóm BR côn xoắn 125172 93458 54790 60269 72103
1 Côn xoắn benla 46029 54620 30348 33383 51388
2 Côn xoắn xe TY7E 35175 12314 2908 3199 17200
3 BR côn xoắn khác 43986 26524 4643 5107 9193
II N.phụ kiện đườngdây -263078 -29036 16891 18580 7830
III Phụ tùng máy cày -5580 10546 1747 1922 4842
IV Phụ tùng băng tải 30814 21076 36711 40382 41283
V PT ôtô, máy xúc 42033 23122 12148 13363 15830
VI Phụ tùng xe máy 30588 22606 5608 6169 4210
VII Hàng cột vi ba 50098 -60414 - 31 -
VIII Giá trị các hàng khác 41590 8645 25404 27944 33412
Bên cạnh những kết quả đáng tự hào mà công ty đã đạt được vẫn còn tồn tại
một số những khó khăn, hạn chế cần khắc phục.
Máy móc thiết bị của công ty còn quá lạc hậu, năng suất lao động chưa cao,
chưa tiết kiệm được nguồn nhiên liệu vận hành. Điều đó dẫn tới chi phí sản xuất
sản phẩm còn quá cao, giá thành chưa đạt sự ổn định cần thiết. Một số sản phẩm
của công ty còn chưa có sức cạnh tranh trên thị trường. Các hợp đồng kinh tế
không đều đặn, khi thì có quá nhiều việc để làm, khi thì không có việc để tiến hành sản
xuất.
Mặc dù công ty gặp rất nhiều thuận lợi trong việc vay vốn của ngân hàng quân
đội nhưng tình hình tài chính của công ty vẫn không ổn định. Các nguồn vốn dành
cho sản xuất và phát triển còn ít, chưa đáp ứng đủ yêu cầu của việc sản xuất kinh
doanh. Nguồn vốn tự có của công ty lại quá eo hẹp, không đủ khả năng để cải thiện
điều kiện sản xuất tốt hơn.
CHƯƠNG II
15
THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VẬT
TƯ TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ Z179
I. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản trị vật tư của công ty
1. Hình thức pháp lý và loại hình sản xuất kinh doanh
Là một doanh nghiệp sản xuất nên các vấn đề liên quan đến việc mua sắm, dự
trữ và sử dụng vật tư sao cho có hiệu quả nhất luôn được công ty cơ khí Z179 chú
trọng đến. Ban giám đốc cùng phối hợp với phòng kĩ thuật, phòng kế hoạch vật tư
thông qua kế hoạch sản xuất trong kì để xác định nhu cầu vật tư cần thiết. Hàng
năm, ngoài kế hoạch sản xuất các mặt hàng kinh tế cho các thị trường công, nông,
lâm, ngư nghiệp theo hợp đồng của khách hàng, công ty phải sản xuất một số mặt
hàng Quốc Phòng theo chỉ tiêu do Bộ đề ra. Trong lĩnh vực hàng Quốc Phòng,
công ty có nhiệm vụ sản xuất đủ số lượng và đảm bảo về chất lượng sản phẩm
được giao. Công ty nghiên cứu và đề ra kế hoạch sản xuất sao cho kịp tiến độ được
giao. Nguồn nguyên vật liệu để sản xuất các mặt hàng này được cấp trên cấp
xuống nên rất thuận lợi cho việc sản xuất đúng tiến độ đề ra. Đây cũng chính là
luôn được đảm bảo đúng tiến độ.
*Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị
17
Giám đốc
PGĐ Kỹ thuật SX PGĐ Kinh doanh PGĐ Hành chính
P. Kỹ
thuật
P. Cơ
điện
P.
KCS
P. KH
vật tư
P. TC-
Kế
toán
P. Lao
động
P.
Hành
chính
P.
Chính
trị
*Chức năng của các phòng ban trong bộ máy quản trị
-Phòng kế hoạch-vật tư: có nhiệm vụ nghiên cứu tình hình sản xuất thực tế
năm trước do phòng kế toán gửi xuống rồi thông qua đó lập kế hoạch sản xuất từng
kì (tháng, quý, năm). Ngoài ra, phòng kế hoạch còn phải thực hiện các việc liên
quan đến vấn đề kí kết hợp đồng kinh tế với các đơn vị khác như: marketing,
quảng cáo sản phẩm, đưa các kế hoạch tham dự các hội chợ. Phòng kế hoạch phải
xuất: nước, điện. Ngăn ngừa, hạn chế các hư hỏng bất thường,khai thác tối đa công
suất thiết kế của thiết bị và hệ thống năng lượng. Tìm mọi biện pháp để cải tiến,
hiện đại hoá và đổi mới thiết bị nhằm tạo nên chất lượng sản phẩm và năng suất
cao hơn.
-Phòng KCS: Có nhiệm vụ quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý máy móc
thiết bị dụng cụ đo lường, đề xuất với giám đốc các biện pháp sử dụng sao cho hợp
lý và có hiệu quả. Đảm bảo kĩ thuật và phương pháp đo cho mọi người sử dụng
phương tiện dụng cụ đo trong xí nghiệp. Cùng với cán bộ của phòng kĩ thuật tìm ra
các nguyên nhân sai hỏng hàng loạt.
-Phòng hành chính: bao gồm một số phòng ban như văn thư, ytế, tổ bảo vệ,
nhà trẻ, nhà ăn nhằm đảm bảo đời sống tinh thần và thể lực cho công nhân viên
toàn nhà máy. Ngoài ra, tổ bảo vệ còn có nhiệm vụ giữ cho tình hình an ninh sản
xuất của nhà máy được ổn định, tránh thất thoát tài sản.
-Phòng chính trị: có nhiệm vụ nghiên cứu các nghị quyết của Đảng và cấp trên
đề ra. Thông qua các biên bản, nghị quyết đó, tiến hành các hoạt động nhằm hướng
dẫn và giáo dục toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty thực hiện đúng đắn
những đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Tổ chức các buổi nói chuyện,
sinh hoạt tập thể nhằm tìm ra các định hướng đúng đắn cho công ty trong thời gian
tới sao cho phù hợp với đường lối chính sách đã đưa ra.
Nhìn chung, mỗi phòng ban trong công ty đều có những chức năng và nhiệm vụ
cụ thể. Mỗi phòng ban đều tập trung thực hiện những nhiệm vụ chính của mình và
19
kết hợp với các phòng ban chức năng khác thực hiện các kế hoạch chung của toàn
công ty.
Chính vì bộ máy quản trị của công ty tương đối gọn nhẹ và ổn định nên việc
đưa ra các quyết định về công tác quản trị nói chung và công tác quản trị vật tư nói
riêng của công ty khá nhanh gọn và chính xác, không phải thông qua quá nhiều
khâu trung gian. Công tác quản trị vật tư do phòng Kế hoạch – vật tư đảm nhận.
Thông qua kế hoạch sản xuất trong kì, phòng Kế hoạch – vật tư phối hợp với
phòng Kĩ thuật đưa ra các quyết định về việc mua sắm, dự trữ và sử dụng vật tư rồi
Bậc thợ 3/7 4/7 5/7 6/7 7/7 Bậc thợ bình quân
Số lượng 39 4 22 40 47 5,28
Với số lượng công nhân có trình độ tay nghề cao chiếm tỉ lệ lớn như vậy, công
ty có rất nhiều ưu thế trong việc sử dụng tiết kiệm nguồn vật tư phục vụ cho sản
xuất. Trình độ tay nghề cao, kết hợp với nhiều năm kinh nghiệm trong sản xuất,
đội ngũ công nhân của công ty luôn luôn hoàn thành kế hoạch định mức vật tư cho
từng loại sản phẩm mà phòng kĩ thuật đề ra. Không chỉ có vậy, đội ngũ công nhân
của công ty còn tuân thủ kỉ luật rất nghiêm ngặt, sử dụng vật tư đúng mục đích,
luôn phấn đấu giảm mức tiêu dùng nguyên vật liệu, tận dụng cao độ phế liệu và
giảm phế phẩm giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đạt hiệu quả
cao.
Còn về bộ máy quản trị, hầu hết các cán bộ quản lý của nhà máy đều tốt nghiệp
đại học, nhân viên văn phòng thì trình độ từ trung cấp trở nên. Thêm vào đó, trình
độ của các nhà quản trị trong công ty cũng ngày càng được nâng cao. Hầu hết các
vị lãnh đạo trong ban giám đốc của công ty đều có trình độ từ đại học trở lên và có
từ 25 – 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất cũng như điều hành sản xuất.
Chính vì vậy, công ty luôn có những kế hoạch thu mua, bảo quản, cấp phát vật tư
phù hợp nhất với tình hình và điều kiện sản xuất trong kì. Cán bộ cấp cao trong
công ty luôn chú trọng tiếp thu công nghệ và kĩ thuật sản xuất mới, luôn phát động
các phong trào thi đua sáng tạo CNKHKT nhằm tạo ra các máy móc thiết bị có
công suất cao, chất lượng ổn định mà giá thành lại thấp, từ đó có thể sử dụng một
cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất lượng vật tư dùng cho sản xuất sản phẩm.
21
Chính vì trình độ của người lãnh đạo cũng như trình độ của người lao động có
ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản trị vật tư nên công ty luôn tìm cách tạo điều
kiện cho người lao động nâng cao trình độ tay nghề cũng như trình độ quản lý.
Công ty hỗ trợ cho một số cán bộ, công nhân viên tham gia các khoá học trung và
dài hạn nhằm nâng cao trình độ cho người lao động để có thể tiếp thu đợc với
những trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong năm 2003, nhà máy đã cử 36
công nhân đi học lớp đào tạo, huấn luyện kĩ thuật dài hạn ở trường đào tạo của Bộ
thì sự lãng phí vật tư trong quá trình sản xuất là điều không thể tránh khỏi. Đánh
giá một cách khách quan thì hiện nay, trình độ máy móc công nghệ kĩ thuật của
công ty cơ khí Z179 còn lạc hậu, chủ yếu nhập vào những năm 70 của Liên Xô.
Tuy thế, những máy móc thiết bị này vẫn hoạt động tốt, độ chính xác cao, mặc dù
năng suất chưa cao. Hiện nay công ty có tổng cộng 210 máy móc thiết bị các loại,
tuy nhiên công suất hoạt động của chúng còn thấp. Công ty chưa có các kế hoạch
sản xuất phù hợp để tận dụng hết công suất máy móc thiết bị. Điều đó ảnh hưởng
rất lớn đến việc sản xuất sản phẩm cũng như sử dụng vật tư có hiệu quả. Nhìn
chung, những phân xưởng còn phải dùng một số máy móc thiết bị quá lạc hậu đều
sử dụng vật tư vượt quá định mức đặt ra. Đó chính là một hạn chế mà công ty cần
phải khắc phục. Ngoài ra còn có một số máy móc do chính đội ngũ kĩ sư, công
nhân trong nhà máy chế tạo sản xuất (thông qua các phong trào thi đua, sáng tạo kĩ
thuật mà nhà máy đã phát động) như: máy trộn cát, máy gia công cơ khí giản đơn.
Máy móc công nghệ của nhà máy là các loại máy móc đặc thù cho nên cũng khó
có khả năng cải tiến, nâng cấp như máy mài nghiền bánh răng côn xoắn. Chính vì
vậy nhà máy luôn luôn phải đảm bảo sửa chữa, bảo dưỡng kịp thời tránh tình trạng
máy móc thiết bị hỏng quá lâu, không đáp ứng được tiến độ sản xuất. Việc làm đó
cũng góp phần không nhỏ vào việc sử dụng vật tư sao cho có hiệu quả hơn.
Tuy trình độ máy móc, công nghệ lạc hậu nhưng do trình độ lành nghề của
công nhân và cán bộ nhà máy nên việc sản xuất trong nhà máy vẫn diễn ra liên tục.
Các dây chuyền sản xuất vẫn đạt kết quả cao. Lượng vật tư sử dụng tuy có lúc vượt
23
quá định mức do phòng kĩ thuật đặt ra nhưng nhìn chung vẫn đạt được hiệu quả
như mong đợi. Các dây chuyền sản xuất các loại mặt hàng có thế mạnh của công ty
vẫn hoạt động tốt và luôn tiết kiệm được một lượng vật tư đáng kể, góp phần làm
giảm giá thành sản phẩm, giữ vững vị thế cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, nếu
được đầu tư đúng chỗ, năng suất lao động bình quân cũng như việc thực hiện định
mức lượng vật tư sử dụng cho sản xuất của công ty sẽ đạt kết quả tốt hơn. Trong
thời gian tới, công ty có kế hoạch đầu tư 7 tỉ đồng vào việc mua sắm một số loại
máy móc thiết bị mới, hiện đại. Điều đó sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao
Tổng cộng 37476878116 38357642890
STT Nguồn vốn Đầu kì Cuối kì
I Nợ phải trả 13406724894 14381001776
1 Nợ ngắn hạn 12652914668 13627191550
2 Nợ dài hạn 753810226 753810226
II Nguồn vốn chủ sở hữu 24070153222 23976641114
1 Nguồn vốn, quỹ 23942253713 24012741605
2 Nguồn kinh phí, quỹ khác 127899509 (36100591)
Tổng cộng 37476878116 38357642890
Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng cơ cấu nguồn vốn của công ty trong quý I
năm 2004 tương đối ổn định và cân đối, công ty có khả năng độc lập tự chủ về tài
chính, không phụ thuộc nhiều vào các biến động trên thị trường nói chung cũng
như tình hình sản xuất kinh doanh nói riêng trong toàn công ty. Điều này ảnh
hưởng rất lớn đến công tác quản trị vật tư tại công ty. Dù trong điều kiện hoàn
cảnh nào, công ty cũng có đủ năng lực tài chính để mua sắm những thiết bị vật tư
cần thiết cho sản xuất. Nguồn vốn của công ty so với một số doanh nghiệp nhà
nước khác không phải là quá lớn, nhưng cũng không quá nhỏ, nhìn chung là phù
hợp với tình hình sản xuất kinh doanh trong công ty. Do điều kiện địa lý của công
ty khá thuận lợi về mặt giao thông nên việc thu mua vật tư phục vụ cho sản xuất rất
dễ dàng, khi cần hàng là có ngay nên việc dự trữ vật tư tại công ty không gặp khó
khăn gì. Vì vậy, với một năng lực tài chính không quá yếu mà khá ổn định như
vậy, công ty cơ khí Z179 luôn đảm bảo được tất cả các mặt trong công tác quản trị
kinh doanh nói chung cũng như công tác quản trị vật tư nói riêng.
6. Thị trường cung ứng
Là một doanh nghiệp sản xuất nên những vấn đề về công tác quản trị vật tư
luôn được công ty cơ khí Z179 đặt lên hàng đầu. Phòng kế hoạch vật tư có nhiệm
25