LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 1
LỜI MỞ ĐẦU
Đứng trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21, theo xu hướng toàn
cầu hoá nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đã đặt ra nhiều yêu
cầu cấp bách phải đổi mới hệ thống quản lý kinh tế. Cùng với
quá trình đổi mới đó, vấn đề mới dặt ra cho các doanh nghiệp là
phải hoàn thiện bộ máy quản lý tổ chức ngay từ những yếu tố
đầu vào đầu tiên. Do đó, vấn đề cung ưng dự trữ vật tư được rất
nhiều doanh nghiệp quan tâm.
Thực tế, ở nước ta trong hoàn cảnh chuyển đổi nền kinh tế
theo cơ chế thị trường. Các quan hệ kinh tế chủ yếu là quan hệ
hàng hoá- tiền tệ vận hành theo các quy luật của nền kinh tế.
Với bối cảnh mới đó, hoà nhịp với sự nghiệp Công nghiệp hoá-
Hiện đại hoá đất nước. các doanh nghiệp không ngừng hoàn
thiện mình, đổi mới , nâng cao hiệu quả kinh doanh như: nâng
cao cơ sỏ hạ tầng, đổi mới công nghệvà chất lượng... Nhưng
vượt lên tất cả, Doanh nghiệp không thể làm được bất cứ điều
gì néu không ổn định được các yếu tố đầu vào vật tư kỹ thuật.
Cũng nhờ hoàn thiện công tác này, Doanh nghiệp mới ổn định
được sản xuất kinh doanh, tiết kiệm, giảm được chi phí sản xuất
kinh doanh. Tất cả những điều kiện đó tạo tiền đề cho một
doanh nghiệp phát triển bền và vững chắc.
Hơn nữa, cạnh tranh là một yếu tố tạo động lực mạnh mẽ
cho quá trình phát triển kinh tế. Cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp phải giảm thiểu chi phí nếu muốn tối đa hoá lợi nhuận
của mình. Trước sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp
và các thanh phần kinh tế tự, thì công viêc kinh doanh của các
doanh nghiệp phải mang lại hiệu quả kinh tế xã hội nhất định.
Có nghĩa là doanh số bán ra phải lớn hơn và bù đắp được những
chi phí mua vào, nhưng vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà
nước. Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề cạnh tranh về chất
tính khác nhau và chính như thực hiệnế nó sẵn sàng có thể dùng
cho nhiều việc, cho nên cùng một sản phẩm có thể dùng làm sản
phẩm tiêu dùng hay dùng làm vật tư kỹ thuật. Bởi vậy, trong
mọi trường hợp cần phải căn cứ vào công dụng cuối cùng của
sản phẩm để xem xét nó là vật tư kỹ thuật hay là sản phẩm tiêu
dùng đích thực.4
1.2- Phân loại vật tư kỹ thuật
P Theo công dụng:
Là những loại vật tư được phân loại theo công dụng và
tính chất của nó trong quy trình sử dụng:
-Nhóm1 gồm: nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm
-Nhóm2 gồm: thiết bị máy móc công cụ , dụng cụ…
- Theo sự di chuyển giá trị vào thành phẩm
-Nhóm 1: nhóm vật tư chuyển một lần vào giá trị sản
phẩm
-Nhóm 2 : nhóm vật tư chuyển từng phần váo sản phẩm .
- Phân theo tầm quan trọng của vật tư
Chia theo vật tư chính và vật tư phụ (Được xác định theo
giá trị của vật tưvà cơ cấu cấu thành sản phẩm của nó )
-Vật tư quan trọng (các loại vật tư có độ khan hiếm cao,
hoặc it có trên thị trường )
-Vật tư cần thiết (nhóm vật tư ít quan trọng hơn nhưng
không thể thiếu )
-Vật tư ít quan trọng hơn (vật tư sẵn có trên thị trường, kế
hoạchông cần phảI dự trữ nhiều)
h Phân chia theo A-B-C
A=Loại vật tư chủ yếu tiêu dùng hàng ngày ở công ty
chiếm khoảng 60-70%giá trị và kế hoạchối lượng, nhưng chỉ
chiếm 10-15%danh mục mặt hàng.
B=Loại vật tư chiếm 20% giá trị và số lượng cũng như
-Nhóm vật tư được quản lý tập chung: Thị trường loại vật
tư này do nhà nước cấp phát, quản lý theo kế hoạch và chỉ tiêu.
-Nhóm vật tư quản lý không tập chung: loại vật tư được mua bán tự
do và có sẵn trên thị trường .
1.3-Tổ chức bộ máy quản trị vật tư ở Doanh nghiệp :
1.3.1- Sự cần thiết phải tổ chức bộ máy quản trị vật tư ở doanh
nghiệp :
Tổ chức bộ máy quản trị vật tư ở doanh nghiệp được hình
thành một cách khách quan dựa trên chức năng quản trị của tổ
chức về vật tư. nó quyết định một phần hiệu quả của công tác
quản trị .
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 5
Nếu như bộ máy quản trị vật tư được hình thành một cách
hợp lý sẽ có tác dụng to lớn đến hiệu quả công tác quản trị vật
tư ở doanh nghiệp.Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu, tổ chức bộ
máy quản trị vật tư:Đáp ứng được yêu cầu hoạt động của Doanh
nghiệp
Xác định được hiẹu quả hoạt động của tổ chức là một việc
làm cần thiết, thường xuyên của quá trình tổ chức bộ máy. Vì
qua việc nghiên cứu này ta có thực hiện để đánh gía được tính
hiệu quả và hợp lý của bộ máy qua từng thời kỳ. Từ đó có
những kiến nghị kiện toàn bộ máy tổ chức.
Ngoài ra phải không ngừng tinh giản bộ máy quản lý ,
nâng cao sức mạnh của tổ chức, nghiên cứu ,xây dựng những
mô hình tiên tiến về tổ chức bộ máy quản trị ở Doanh nghiệp .
1.3.2-Các hình thức tổ chức
1.3.2.1. Tổ chức bộ máy quản trị vật tư theo nguyên tắc
chức năng:
số
3
2
v.v đội
vận
chuyển
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 6
+Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận này như sau:
-Tổ kế hoạch thống kê: làm nhiệm vụ xác định nhu cầu và
nguồn vật tư cho Doanh nghiệp .
Lên phương án mua sắm vật tư
Lập đơn hàng vật tư kỹ thuật
Lập phiếu lĩnh vật tư theo hạn mức
-Tổ kế hoạch chuyên theo dõi kiểm tra và sử dụng vật tư
thiết bị.
Thống kê tình hình xuất – nhập cung ứng vật tư
Lập kế hoạch vật tư mới.
-Bộ phận nghiên cứu thị trường
Nghiệp vụ chủ yếu; nghiên cứu thị trường các yếu tố sản
xuất để có thể trả lời được những câu hỏi: Giá cả, chất lượng,
số lượng, nguồn cung ứng
-Bộ phận tiếp liệu: làm nghiệp vụ mua sắm vật tư, áp tải
vật tư hàng hoá, theo dõi giao nhận vật tư đầy đủ, kịp thời,
đồng bộ, chính xác theo đúng hợp đồng mua hàng.
Đội vận chuyển: Đối với các công ty lớn chuyên chở, có
đội xe riêng của công ty. Tuỳ theo quy mô, yêu cầu mà cần đến
những số lượng và đội xe khác nhau. Công tác này, nó góp phần
chủ động trong việc vận chuyển vật tư trang thiết bị , thuận tiện
linh hoạt mọi lúc, mọi nơi
1.3.2.2. Tổ chức bộ máy quản trị vật tư theo nguyên
kỹ thuật
Tổ
kế
hoạch
thống
kê
tiếp
liệu
hoá
chất
vật
liệu
kho
tàng
hoá
chất
vật
liệu
nghiên
cứu
kế
hoạch
tiếp
nhận
vận
chuyển
vật tư
quản
lý
kho
nghiệp.Đảm bảo vật tư kỹ thuật đầy đủ, kịp thời, chính xác nó
là điều kiện có tính chất tiền đề tạo sự liên tục của qúa trình sản
xuất kinh doanh và tạo mối quan hệ khăng khít với khách hàng.
Đảm bảo vật tư kỹ thuật tốt là điều kiện nâng cao chất
lượng kinh doanh, chất lượng sản phẩm, tạo uy tín và nâng con
sức cạnh tranh của Doanh nghiệp trong công tác tiên thụ của
mình.
Có được kế hoạch vật tư kỹ thụât , giúp cho việc nâng cao
trình độ khoa học kỹ thuạt của sản xuất, han chế thừa thiếu gây
ứ đọng vật tư kỹ thuật.
Từ việc xác định được kế hoạch định kỳ, nó đòn bẩy để
tiết kiệm và tăng năng xuất lao động, góp phần cải thiện việc sử
dụng máy mócthiết bị kỹ thuật. Vì thế, công tác vật tư là công
tác then chốt khởi sự cho mọi sự thành công hay thất bạị của
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 9
Doanh nghiệp, do đó bất cứ Doanh nghiệp nào cũng phải quản
lý sát sao chúng.\
III- Nhu cầu và các biện pháp xác định nhu cầu vật tư
kỹ thuật:
3.1 - Khái niệm.
Nhu cầu là một khái niệm cơ bản và tiềm ẩn trong
marketing, nhu cầu nói chung được hiểu là cảm giác thiếu hụt
một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu nói chung
rất đạng và phức tạp từ nhu cầu ăn, ở, mặc, đến nhu cầu tri
thức, văn hoá, giải trí… nó thuộc trong các cấp bậc nhu cầu từ
thấp đến cao của con người
Nhưng nếu xét về lĩnh vực vật tư sản xuất kinh doanh thì
nhu cầu được cụ thể hơn. Nó là một phạm trù kinh tế quan
đặc trưng sau đây:
-Nhu cầu vật tư liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất
kinh doanh của Doanh nghiệp
-Nhu cầu vật tư được hình thành trong quá trình sản xuất
vật chất hoặc nhu cầu kinh doanh .
-Nhu cầu vật tư mang tính xã hội bởi vì nguyên vật liệu
của Doanh nghiệp này lại là kết quả sản xuất của doanh nghiệp
khác, chỉ khi nó được tiêu dùng cuối cùng
.Tính thay thế lẫn nhau của nhu cầu vật tư
.Tính bổ xung cho nhau của nhu cầu vật tư
.Tính khách quan của nhu cầu vật tư - là sự cần thiết tất
yếu cho nhu cầu sản xuất. Muốn sản xuất phải có vật tư, đó là
nhu cầu cụ thể được vật hoá bằng sức lao động của con người
.Tính đa dạng nhiều vẻ của vật tư: khi nhu cầu sản xuất
hàng hoá ngày càng phát triển thì chủng loại vật tư hàng hoá
cũng ngày càng đa dạng
3.3- Kết cấu nhu cầu và các phương pháp xác định nhu cầu
Đối với các doanh nghiệp, nhu cầu vật tư được biểu hiện
toàn bộ trong kỳ kế hoạch, theo từng tháng, quý, kể cả dự trữ.
Kết cấu nhu cầu vật tư được thể hiện bằng mối quan hệ giữa
mỗiloại nhu cầu đối với toàn bộ loại nhu cầu vật tư ở doanh
nghiệp. Nhu cầu vật tư ở doanh nghiệp được phản ánh ở sơ đồ
sau :
Sơ đồ kết cấu nhu cầu vật tư doanh nghiệp :
10
Tổng nhu cầu
Cho sản xuất kinh
doanh
Nhu câù cho xây dựng
thụ
Sửa
chữa
thường
xuyên
(đội xe)
Khấu
hao
máy
móc
thiết
bị
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 11
3- Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vật tư kỹ thuật ở
Doanh nghiệp
Nhu cầu vật tư nhu cầu được hình thành dưới tác động
của nhiều nhân tố khác nhau. Những nhân tố này có thể phân
theo các nhóm sau :
Một là tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Nhân
tố tổng hợp này phản ánh tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong
lĩnh vực sản xuất và vật tư như chế tạo những máy móc thiết bị
có tính kỹ thuật cao, sử dụng những vật liệu mới và sử dụng có
hiệu quả nguồn vật tư .
Hai là quy mô sản xuất ở các ngành, các Doanh nghiệp.
Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới khối lượng vật tư tiêu dùng
và do đó ảnh hưởng tới khối lượng nhu cầu vật tư. Quy mô sản
xuất càng lớn thì khối lượng tiêu dùng vật tư ngày càng nhiều
và do đó nhu cầu vật tư ngày càng tăng. Theo đà phát triển
kinh tế, quy mô sản xuất ngày càng gia tăng và đIều đó đòi hỏi
nhu cầu vật tư ngày càng lớn trong nền kinh tế .
Giá cả vật tư hàng hoá và chi phí sản xuất kinh doanh .
Nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đến nhu cầu vật tư
được thực hiện theo từng nhóm và cho từng loại vật tư, cũng
như cho từng loại nhu cầu có tính đến các giai đoạn khác nhau
của công tác kế hoạch hoá. Qúa trình này có ý nghĩa quan trọng
cho công tác lập kế hoạch dự báo nhu cầu thị trường .
IV- Nội dung công tác hậu cần vật tư
4.1- Trình tự kế hoạch hậu cần vật tư
Trong nền kinh tế thị trường, nội dung chủ yéu của công
tác hạu cần vật tư kỹ thuật bao gồm từ khâu nghiên cứu thị
trường, xác định nhu cầu vật tư của doanh nghiệ, xác định
nguồn vật tư, lập kế hoạch mua sắm vật tư, dư trữ bảo quản và
cấp phát vật tư, đến việc quản lý sử dụng và quyết toán vật tư .
Nội dung của công tác hậu cần vật tư kỹ thuật có thể biểu
diễn qua sơ đồ sau :
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 13
Trình tự công tác hậu cần vật tư kỹ thuật doanh nghiệp
Trong đó kế hoạch mua sắm vật tư là khâu then chốt nhất
và bao gồm các bước như sau :
4.2 - Nghiên cứu nội dung và trình tự kế hoạch mua sắm
vật tư
+ Nội dung
Kế hoạch mua sắm vật tư của doanh nghiệp thực chất là sự
tổng hợp những tài liệu tính toán kế hoạch, nó là một hệ thống
các bảng biểu tổng hợp nhu cầu vật tư và một hệ thống các biéu
cân đối vật tư. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là đảm bảo vật tư một
cách tốt nhất và ổn định nhất cho sản xuất kinh doanh. Muốn
vậy công tác vật tư phải xác định cho được lượng vật tư cần
chất lượng và nội dung của kế hoạch vật tư. ở giai đoạn này, cán bộ thương
mại doanh nghiệp phải thực hiẹn các công việc sau: nghiên cứu và thu thập
các thông tin về thị trường các yếu tố sản xuất; chuẩn bị cho tài liệu về
phương án sản xuất – kinh doanh và kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, mức tiêu
dùng nguyên vật liệu, yêu cầu của các phân xưởng, tổ đội sản xuất ở
doanh nghiệp .
-Giai đoạn tính toán các loại nhu cầu của doanh nghiệp.
Đối với các Doanh nghiệp sản xuất, để có được kế hoạch mua
sắm vật tư chính xác và khoa học đòi hỏi phải xác định đầy đủ
các loại nhu cầu vật tư cho sản xuất. Đây là căn cứ quan trọng
để xác định lượng nhu cầu vật tư cần mua về cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, với cơ chế tự trang trải, và có lợi
nhuận để tồn tại và phát triển, việc xác định đúng đắn các loại
nhu cầu có ý nghĩa rất to lớn.
-Giai đoạn xác định số lượng vật tư nhu cầuự trữ đầu kỳ
và cuối kỳ của Doanh nghiệp: Đối với các doanh nghiệp hiện
nay, việc xác định này thường nhu cầu dựa vào định mức từ
trước hay ước tính lượng vật tư nhập xuất trong kỳ
-Giai đoạn kết thúc cả việc lập kế hoạch mua sắm vật tư là
xác định số lượng vật tư hàng hoá càn phải mua về doanh
nghiệp: Nhu cầu này của Doanh nghiệp thường được xác định
thông qua các chỉ tiêu cân đối lượng vật tư trong kỳ kế hoạch:
Nghĩa là:
Trong đó :
14
∑ ∑
=
JI JI
PN
nghiệp. Nó giúp cho việc sử dụng vật tư có hiệu quả thể hiẹn ở
một só ý nghĩa sau:
Công tác hậu cần vật tư vai trò chức năng đảm bảo vật tư,
không tính đến các yếu tố thương mại, kinh tế mà hiệu quả của
của nó còn gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh
+Nhiệm vụ của cấp phát vật tư
Đảm bảo cấp phát đồng bộ đúng về mặt hàng, số lượng,
quy cách phẩm chất. Đây là nhiệm vụ quan trọng bậc nhất
trong công tác quản trị vật tư
Để thực hiện đươc nhiệm vụ này, bộ phận quản trị vật tư
phải tiến hành tạo nguồn, bố trí cấp phát trên cơ sở yêu cầu của
các phân xưởng.
Chuẩn bị vật tư trước khi đưa vào sản xuất đảm bảo giao
vật tư dưới dạng thuận lợi nhất ccho sản xuất
Giải phóng cho các đơn vị tới mức tối đa các công việc
liên quan đến hậu cần vật tư. Mục tiêu giảm chi phí cho công
việc chuẩn bị, thực hiẹn chuyên môn hoá cho công việc chuẩn
bị.
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 16
Kiểm tra việc giao vật tư và tình hình sử dụng vật tư ở các
đơn vị, qua đó rút ra kinh nghiệp quản lý cấp phát tốt hơn .
-Để thực hiện việc cấp phát vật tư được tốt, phòng vật tư
phải làm các công việc sau:
.Lập hạn mức cấp phát vật tư trong nội bộ doanh nghiệp
theo tháng, quý. Dựa trên cơ sở khối lượng công việc phải hoàn
thành và định mức sử dụng vật tư. Người ta xác định lượng vật
tư cần thiết tối thiểu được cung cấp trong kỳ kế hoạch
.Lập chứng từ cấp phát vật tư là chứng từ liên quan đến
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 17
doanh nghiệp. Mức tiêu dùng vật tư thẻ hiẹn ở mọt số đặc điểm
sau:
Nó là cơ sở đẻ xác định nhu cầu vật tư cho doanh nghiệp
Là chỉ tiêu đánh giá trình dộ sử dụng kỹ thuật trong sản
xuất, trình độ lành nghềcủa công nhân và trinh độ tổ chứcquản
lý sản xuất của các nhà quản trị
5.2.2 Định mức:
Là những giải pháp về kinh tế kỹ thuật của nhà quản trị
nhằm tính toán xác định mọt mức tiêu dùng hợp lý trong diều
kiẹn lao động bình thường , năng xuất lao động bình thường.
Như vậy, nói đến công tác định mức là những hoạt động
của các nhà quản trị dựa trên cơ sở khoa học, những thí nghiệm,
những giải pháp tối ưu vè sản xuất... Nhằm xác định một lượng
vật tư tối ưu cho sản xuất.
-Biện pháp xác đinh mức tiêu dùng vật tư:
-Có thể dùng định mức tiêu dùng vật tư kỹ thuật trước: Nó
nhanh gọn dễ dàng ít tốn kém nhưng không phản ánh mức tiên
tiến và có thể gây lãng phí vật tư
-Biện pháp phân tích nghĩa là dựa trên cơ sở hao phi thực
tế (phần nào hợp lý, phần nào không hợp lý) để đưa ra các định
mưc mới. Nó mang tính thực tế: nghiên cứu tính tối ưu hoá khi
tiêu dùng vật tư để tiết kiệm vật tư
-Phương pháp so sánh: Cho phép ta sử dụng những mức
tương tự ở các doanh nghiệp khác áp dụng làm mức tiêu dùng
vật tư ở doanh nghiệp.
Tóm lại ta có thể xác định mức tiêu dùng vật tư kỹ thuật
qua sơ đồ sau:
sản
xuất
mức
điều
tiết
thương
mại
đầu
vào
mức
tiêu
dùng
NVL
chính
mức
tiêu
dùng
vật
liệu
ohụ
mức
tiêu
dùng
phụ
phẩm
mức
tiêu
dùng
điện
mức
Căn cứ để lập hạn mức cấp phát vật tư vào kế hoạch sản
xuất sản phẩm theo quý hoặc theo tháng hay căn cứ vào mức
tiêu dùng vật tư kỹ thuật, lượng vật tư dự trữ ở các đơn vị tiêu
dùng vật tư kỹthuạt
Công thức quy định hạn mức:
H=N
tp
+ N
cd
+ D – O
đk
H Hạn mức
N
tp
Nhu cầu vật tư vật tư cho sản xuất thành phẩh
N
cd
Nhu cầu vật tư cho sản phẩm chế dở
D Dự trữ vật tư ở phân xưởng
O
đk
Lượng tồn đầu kỳ
Trong đó:
O
đầ u k ỳ
= O
tt
+ C - (P
tp
+ P
tình trạng thiéu hoặc thừa vật tư cho sản xuất nhằn nâng cao
hiệu qủa hoạt động sản xuất kinh doanh .
Định mức dự trữ vật tư cho sản xuất là công tác xác định
lượng vật tư tối thiểu cần thiết phải có theo kế hoạch ở doanh
nghiệp để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến
hành liên tục, đều đặn và có hiệu quả.
+ Các quy tắc xác định định mức dự trữ vật tư:
Việc xác định đại lượng dự trữ vật tư tối thiểu cần thiết có
nghĩa là đại lượng đó phải đủ để đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục với
bất kỳ điều kiện xảy ra nào.
Xác định lượng dự trữ trên cơ sở tính toán đầy đủ các
nhân tố ảnh hưởng tong kỳ kế hoạch. Điều này thực tế rát khó
tính toán trước những biến động trong kỳ tiếp theo, nhất là dài
hạn thì rất khó .
Xây dựng định mức dự trữ phải dược tiến hành từ cụ thể
đén tổng hợp, từ chi tiết đến khái quát. Mức dự trữ chung dựa
trên cơ sở xác định cơ cấu dự trữ quan trọng và chi tiết
Xác định mức dự trữ tối đa và điạ lượng dự trữ tối thiểu
cũng như mức dự trữ bảo hiểm .
5.3- Tổ chức theo dõi tình hình sử dụng vật tư và lập kế
hoạch cung ứng vật tư :
5.3.1- Quyết toán sử dụng vật tư :
Khi đã lập kế hoạch hậu cần vật tư, chuyển giao vật tư
trong nội bộ doanh nghiệp với các mức và định mức. Nhà quản
trị vần phải kiẻm tra, theo dõi tình hình sử dụng vật tư để có
thể đưa ra những hiệu chỉnh khi cần thiết vềg mức và định mức.
Lập các kế hoạch về nhu cầuự trữ và hậu cần vật tư cho kỳ kế
hoạch .
Xây dựng mức dự trữ vật tư hợp lý là một hoạt động cần
- Nếu vật tư vẫn còn có thể cần đến hoặc sẽ dùng cho sản
xuất thì có thể nhu dãn hoặc trì hoãn tiến độ nhập hàng
- Nếu do nguyên nhân từ sản xuất hay sử dụng thừa quá
mức,dân đến thừa vật tư ứ đọng sản xuất tiêu thụ thì
phải tăng cường biện pháp marketing tìm thị trường
tiêu thụ để giữ vững được tốc độ sản xuất tiêu thụ mặt
hàng. Những biện pháp tiên tiến hơn cả vẫn là giảm tiến
độ giao hàng, áp lực hàng về kho
5.3.2-Theo dõi và đảm bảo cơ cấu, chủng loại và số lượng
mặt hàng:
Mục đích việc theo dõi: nhằm thực hiện kế hoạch và đơn
hàng một cách tốt nhất để từ đó có thể điều chỉnh kế hoạch để
thích nghi với điều kiện thực tế hơn.
-Theo dõi tình thực hiện kế hoạch đơn hàng có một số nội
dung sau;
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 22
. Tình hình thực hiện đảm bảo vật tư về mặt hàng: xem
mặt hàng đó có khớp với nhu cầu của doanh nghiệp hay không,
đúng với cơ cấu chủng loại hay không
.Tình hình đảm bảo về mặt số lượng với những cơ câu
chủng loại cần nhập trong từng thời kỳ phù hợp với từngđon
hàng và sản phẩm .
Tình hình đảm bảo vật tư về mặt chất lượng có đáp ưng
đúng với nhu cầu doanh nghiệp, nhu cầu đơn hàng hay không.
Vấn đề kiểm tra chất lượng rất khó khăn và tốn kém nên it được
các doanh nghiệp quan tâm. Việc theo dõi chất lượng hàng hoá
để phát hiện ra sản phẩm sai quy định, nó cũng là cơ sở đểta
khiếu lại khi cần thiết
1năm1993) của Bộ trưởng bộ Nông Nghiệp và Cong Nghiệp
thực phẩm
Tên giao dịch:Công ty Vật Tư Nông Sản-
AGRICULTURAL-PRODUCE-AND-MATERIAL-COMPANY
( Viết tắt APROMACO )
Trụ sở chính : Số 14b /226 Phường Văn Miếu – Quận Đống
Đa – Hà Nội.
Đến 31 tháng 5 năm 1997 Theo quyết định số 1111NN-
TCCB/QĐ cuả Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông
Thôn quy định sáp nhập công ty Vật tư - Dịch vụ nông nghiệp
với công ty vật tư nông sản. Có tên mới công ty Vật Tư Nông
Sản với số vốn pháp định là 2516,747 triệu đồng và vốn kinh
doanh là 11085 triệu đồng. Trong đó vốn cố dịnh bằng2367 triệu
đồng.
Quyết định nêu rõ ngành nghề kinh doanh chủ yếu của
công ty là thương nghiệp buôn bán lẻ hàng hoá tư liệu sản xuất
và tư liệu tiêu dùng Từ những năm 1990, thực hiện chủ chương
đổi mới chuyển sang cơ chế thị trường, công ty đã gặp nhiều
khó khăn. Nhưng nhờ đổi mới tư duy kinh tế, sắp xếp lại lực
lượng, năng động trong chủ động điều hành, bám sát thị trường,
từng bước đầu tư chiều sâu, áp dụng công nghệ tiên tiến, đậc
biệt là tập chung nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản
xuất kinh doanh nên công ty đã đứng vững và đã tạo được
những bước phát triển mới .
Hoàn thành việc xuất khẩu 150 nghìn tấn phân bón các loại
sang Trung Quốc ,Thái Lan và một số nước Đông Âu.
23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 24
Mở thêm nhiều chi nhánh và đại lý mới ở Băc giang, Hải
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP 25
Để quản lý và điều hành mọi hoạt động của công ty, mỗi
Doanh nghiệp đều phải tổ chức bộ máy quản lý của mình. Tuỳ
thuộc vào quy mô, loại hình doanh nghiệp, cũng như điều kiện
và đặc điểm sản xuất của mình mà doanh nghiệp thành lập nên
bộ máy quản lý thích hợp.
Công ty vật tư nông sản là một Doanh nghiệp nhỏ, nên bộ
máy quản lý của công ty được tổ chức theo hình thức phân cấp
chức năng hoàn chỉnh
Thực hiện đường lối đổi mới của đảngvà nhà nước đề ra,
chuyển từ cơ chế quản lý tập chung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại
hoá của nhà nước. Trong những năm qua, bộ máy tổ chức và
quản lý của Doanh nghiệp đã được hiệu chỉnh nhiều lần cho phù
hợp với yêu cầu mới đặt ra. Công ty có đội ngũ cán bộ công
nhân viên là 250 người trong đó số lao động trực tiếp sản xuất là
186 người số lao động gián tiếp là64 người.
Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm 9 phòng ban kỹ thuật
nghiệp vụ và 6 phân xưởng và chi nhánh cùng với đội vận tải.
Cơ cấu tổ chức theo sơ đồ sau:
- Ban giám đốc : Gồm một Giám đốc và hai phó Giám đốc
phụ trách điều hành, Trong đó Giám đốc là người chịu
trách nhiệm điều hành, ra quyết định cuối cùng, và chịu
trách nhiệm toàn bộ với Công ty .
- Phó giám đóc kinh doanh : chịu trách nhiệm về công
việc kinh doanh và sử dụng nguồn lao động .
- Phó giam đốc kỹ thuật: Chịu trách nhiệm về mặt kỹ