`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời mở đầu
Đầu t là một hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo cho việc tồn tại và phát
triển không ngừng của xã hội. Muốn có sự phát triển thì tất cả mọi quốc gia,
doanh nghiệp hay công ty đều phải tiến hành đầu t. Có thể nói nhờ có hoạt động
đầu t mà mọi lĩnh vực đợc phát triển cả về chất và lợng, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế. Các dự án chính là nhịp cầu nối hoạt động đầu t đến với hiện thực.
Thông qua dự án mà các ý tởng đầu t đợc thể hiện và thực hiện. Tuy nhiên ý t-
ởng đầu t sẽ trở nên bị méo mó, không đợc phản ánh trung thực nếu nh các dự
án lập ra không chính xác, không đợc kiểm tra cẩn thận. Xuất phát từ lý do đó
mà môn thẩm định dự án ra đời trong đó có thẩm định tài chính dự án. Thẩm
định tài chính dự án là công việc mà không có một dự án nào bỏ qua vì tài chính
là một vấn đề sống còn đối với dự án. Thấy đợc tầm quan trọng của công tác
thẩm định tài chính dự án nên trong thời gian thực tập tại công ty kinh doanh
bất động sản Kinh Đô ( là một công ty mà hoạt động chủ yếu là đầu t vào các
dự án), em đã chọn đề tài :
Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại
công ty Kinh đô
cho chuyên đề thực tập của mình. Nội dung chuyên đề gồm có 3
phần chính sau:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về dự án và thẩm định tài chính dự án.
Phần 2: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án tại công
ty Kinh Đô
Phần 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án tại công
ty Kinh Đô.
Em xin chân thành cảm ơn trớc hết là giảng viên Trần thị thanh tú vừa
là cô giáo giảng dạy bộ môn Tài chính doanh nghiệp vừa là giáo viên hớng dẫn
em làm bản chuyên đề thực tập này. Tiếp theo em xin chân thành cảm ơn các
thầy cô giáo khoa Ngân hàng-Tài chính của trờng đã cung cấp cho em những
Vũ Thị Hơng Giang
1
và mục tiêu xác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu chuyên biệt.
+Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tợng hay ứng dụng,
mà phải cấu trúc nên một thực tế mới, một thực tế mà trớc đó còn cha
tồn tại nguyên bản tơng đơng. Ngoài ra mỗi dự án phải có tính sáng tạo
riêng.
+ Vì liên quan đến một thực tế trong tơng lai, bất kì dự án nào
cũng có một độ bất định và những rủi ro có thể xảy ra.
Vũ Thị Hơng Giang
3
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+Cuối cùng, nh một hoạt động đặc thù, dự án phải có bắt đầu, có
kết thúc và chịu những hạn chế nói chung là đã cho về nguồn lực( phơng
tiện).
Ta cũng thấy rõ các đặc trng sau đây cho phép nhận dạng một dự
án:
+Mục tiêu dự án.
+Thời gian (Với các giai đoạn khác nhau).
+Đặc thù (Tính độc nhất vô nhị) của dự án.
+Môi trờng xung quanh dự án (nhất là phần tiếp giao giữa dự án
với môi trờng xung quanh).
Khi nói đến dự án bao gìơ cũng liên quan đến hoạt động đầu t
bởi lẽ nếu dự án không đợc đầu t thì không thể nào tiến hành đợc. Khi
một doanh nghiệp có dự án thì một điều tất nhiên là doanh nghiệp đó có
hoạt động đầu t. Đầu t là hoạt động chủ yếu quyết định sự phát triển và
tăng trởng của doanh nghiệp. Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động
đầu t, đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ thuật, hậu quả và hiệu quả tài
chính, kinh tế xã hội của nó đòi hỏi khi tiến hành một hoạt động đầu t
cần phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Có nghĩa là mọi hoạt
động đầu t phải thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mong muốn.
Vì ta có thể nhận thấy:
hay quốc gia (quốc tế).
+Xét theo phân ngành kinh tế xã hội, ta có các dự án sản xuất, dự
án thơng mại, xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội...
+Xét theo địa chỉ khách hàng, ta có dự án xuất khẩu; tiêu thụ địa
phơng ( thậm chí nội bộ) hoặc trong nớc.
+Xét theo thời gian, ta có dự án ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Một cách tổng hợp, ta có thể phân biệt các dự án lớn và các dự án nhỏ.
*Các dự án lớn ( xây dựng một nhà máy hay một tổ hợp công
nghiệp, quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ...) đợc đặc trng bởi tổng
kinh phí huy động lớn, số lợng các bên tham gia đông và sử dụng
Vũ Thị Hơng Giang
5
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhiều công nghệ khác nhau, thời gian thực hiện ra dài, có ảnh hởng
mạnh đến môi trờng kinh tế và sinh thái. Chúng đòi hỏi phải thiết lập
các cấu trúc tổ chức chuyên biệt, với các mức phân cấp trách nhiệm
khác nhau, đề ra quy chế hoạt động và các phơng pháp kiểm tra chặt
chẽ. Tầm bao của các dự án này rộng tới mức ngời quản lý không thể
nào đi sâu vào từng chi tiết trong quá trình thực hiện. Trái lại, nhiệm vụ
chủ yếu của ngời quản lý là, một mặt thiết lập hệ thống quản lý và tổ
chức (Phân chia dự án thành các dự án bộ phận và phối kết hợp các dự án bộ
phận đó) cho phép mỗi cấp thực hiện đợc trách nhiệm của mình, và mặt khác
đảm nhận các mối quan hệ giữa dự án với bên ngoài.
Các dự án lớn hiện nay thờng mang tính quốc gia hoặc quốc tế.
*Các dự án nhỏ, ngoài những đặc tính ngợc lại với các dự án lớn,
nh không đòi hỏi kinh phí nhiều, thờng nằm trong một bối cảnh sẵn có
hoặc không đợc u tiên. Các nguồn lực huy động chẳng những eo hẹp, mà
thờng không có ngay. Mục tiêu và trách nhiệm đôi khi không đợc xác
định rõ ràng, và những ngời tham gia không có kinh nghiệm trong hoạt
động dự án. Chủ nhiệm dự án thờng kiêm luôn cả việc quản lý dự án
-ý đồ dự án có thể nảy sinh từ yêu cầu khắc phục những khó
khăn và trở ngại đối với sự phát triển kinh tế-xã hội do thiếu các điều
kiện vật chất cần thiết.
Trên cơ sở các lĩnh vực và ý đồ đầu t khác nhau đợc đề xuất, cần
tiến hành nghiên cứu chi tiết hóa, lựa chọn ra những ý đồ dự án có triển vọng
nhất để tiến hành chuẩn bị và phân tích trong giai đoạn tiếp theo.
Việc xác định và sàng lọc các ý đồ dự án có ảnh hởng quyết định
tới quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án. Dự án có thể thất bại hay
không đạt đợc kết quả mong muốn, tuy rằng việc thực hiện và chuẩn bị
dự án tốt đến đâu, nếu nh ý đồ ban đầu đã hàm chứa những sai lầm cơ
bản.
1.1.4.2 Phân tích và lập dự án.
Sau khi xác định ý đồ, mục tiêu và phơng tiện của dự án, ta có
thể tiến hành quá trình phân tích và lập dự án. Phân tích và lập dự án là
giai đoạn nghiên cứu chi tiết ý đồ đầu t đã đợc đề xuất trên tất cả mọi
phơng diện nh: thể chế - xã hội, thơng mại, tài chính, kinh tế kỹ thuật,
Vũ Thị Hơng Giang
7
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tổ chức - quản lý. Để thực hiện nhiệm vụ này phải thu thập đầy đủ
những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về thị trờng, môi trờng tự
nhiên, các nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, các quy định và chính sách có
liên quan của Chính phủ, về đặc điểm kinh tế- văn hóa - xã hội của dân
c trong vùng có liên quan đến dự án.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên
cứu một cách toàn diện tính khả thi của dự án. Tuy vậy, đối với những
dự án có quy mô lớn, thì trớc khi thực hiện nghiên cứu khả thi thì nên
có bớc nghiên cứu tiền khả thi. Trong bớc nghiên cứu này, tất cả mọi
phơng diện chuẩn bị và phân tích dự án đều đợc đề cập tới, song chỉ ở
mức độ chi tiết vừa đủ để chứng minh một cách khái quát rằng, ý đồ dự
Giai đoạn này thờng đợc thực hiện với sự tham gia của các cơ
quan Nhà nớc, các tổ chức tài chính và các thành phần khác tham gia dự
án, nhằm xác minh lại toàn bộ những kết luận đã đợc đa ra trong quá
trình chuẩn bị và phân tích dự án, trên cơ sở đó chấp nhận hay bác bỏ dự
án. Dự án sẽ đợc thông qua và đợc đa vào thực hiện nếu nó đợc xác nhận
là có hiệu quả và khả thi. Ngợc lại, trong trờng hợp còn có những bất
hợp lý trong thiết kế dự án, thì tùy theo mức độ, dự án có thể đợc sửa
đổi bổ xung hay buộc phải xây dựng lại hoàn toàn.
1.1.4.4 Triển khai thực hiện.
Giai đoạn triển khai thực hiện dự án bắt đầu khi kinh phí đợc đa
vào. Trong giai đoạn triển khai thực hiện có thể chia thành những thời
kỳ nhỏ hơn. Chẳng hạn, thời kỳ thứ nhất là thi công xây dựng các công
trình cơ sở. Sau khi hoàn thành xây dựng cơ bản, dự án chuyển sang thời
kỳ phát triển. Trong thời kỳ này dự án bắt đầu sinh lợi và trả dần những
khoản nợ trong thời kỳ đầu. Thời kỳ thứ ba bắt đầu khi dự án đã đạt tới
sự phát triển toàn bộ, nói cách khác các công trình đầu t ban đầu đã đợc
sử dụng hết công suất và kéo dài cho tới khi dự án chấm dứt hoạt động.
Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân
tích kỹ lỡng, song trong thực tế rất ít khi dự án đợc tiến hành hoàn toàn
đúng nh hoạch định. Nhiều dự án đã không đảm bảo đợc tiến độ thời
gian và chi phí dự kiến, thậm chí một số dự án đã phải thay đổi thiết kế
Vũ Thị Hơng Giang
9
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
ban đầu do giải pháp kỹ thuật không thích hợp hay do thiếu vốn hoặc do
nhiều yếu tố khách quan đem lại. Nói chung những khó khăn mà dự án
phải đối phó trong khi thực hiện, đặc biệt trong thời kỳ thi công là:
+Các khó khăn tài chính: Thờng xuất hiện do những biến động về
giá cả hay do việc thiếu các nguồn vốn cần thiết trong quá trình thực
hiện. Hậu quả là dự án bị trì hoãn, chi phí tăng và trong một số trờng
dự án. Đánh giá nghiệm thu khác với việc đánh giá và giám sát nh là
một bộ phận quan trọng trong quá trình thực hiện. Đánh giá nghiệm thu
có nhiệm vụ làm rõ những thành công và thất bại trong toàn bộ quá trình
xác định, phân tích và lập dự án, cũng nh trong khi thực hiện để rút ra
những kinh nghiệm và bài học cho quản lý các dự án khác trong tơng
lai.
Kết thúc và giải thể dự án nh thế nào cũng là vấn đề cần nghĩ, tốt
hơn cả là ngay từ khi lập dự án. ít nhất ở đây có hai việc quan trọng cần
bàn là bàn giao (hay phân chia) sử dụng các kết quả của dự án, cũng nh
những phơng tiện mà dự án còn để lại, và bố trí lại công việc cho các
thành viên tham gia dự án, nhất là những ngời đã đợc biệt phái hoàn
toàn khỏi xí nghiệp, cơ quan họ sau một thời gian dài làm việc cho dự
án.
1.2 Thẩm định dự án.
1.2.1 Khái niệm
Thẩm định dự án là rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học,
khách quan toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án
nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng nh tính khả thi của dự án trớc khi
quyết định đầu t.
1.2.2 Nội dung thẩm định dự án.
Công tác thẩm định dự án là khâu quan trọng trong thời kỳ chuẩn
bị dự án, đợc thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án đã đợc thiết lập để
ra quyết định đầu t.
Vũ Thị Hơng Giang
11
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Công tác thẩm định dự án gồm các bớc: Thẩm định thị trờng,
thẩm định kỹ thuật, thẩm định tổ chức- quản lý dự án, thẩm định tài
chính và thẩm định kinh tế - xã hội.
1.2.2.1 Thẩm định thị trờng.
Là việc phân tích mặt kỹ thuật của dự án. Thẩm định kỹ thuật là
công việc phức tạp, đòi hỏi phải có các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu
về từng khía cạnh kỹ thuật của dự án. Sự đúng đắn trong thẩm định kỹ
thuật sẽ quyết định tính khả thi của dự ánvề mặt kỹ thuật, làm cơ sở để
tiếp tục các bớc thẩm định tiếp theo, nhằm đa ra quyết định đầu t chính
xác cho chủ doanh nghiêp.
Nội dung của thẩm định kỹ thuật gồm:
- Mô tả sản phẩm sẽ sản xuất của dự án: Đặc điểm của sản phẩm
chính, sản phẩm phụ, chất thải; các tiêu chuẩn chất lợng cần phải đạt đợc
là cơ sở cho việc nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật khác; các hình thức bao
bì đóng gói, các công dụng và cách sử dụng của sản phẩm.
Các phơng pháp và phơng tiện để kiểm tra chất lợng sản phẩm,
các yêu cầu về chất lợng sản phẩm phải đạt đợc, dự kiến bộ phận kiểm
tra chất lợng, các thiết bị và dụng cụ cần thiết cho việc kiểm tra, phơng
pháp kiểm tra, chi phí cho công tác kiểm tra.
- Xác định công suất của dự án: Xác định công suất bình thờng có
thể của dự án: Là số sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian để đáp
ứng nhu cầu của thị trờng mà dự án dự kiến sẽ chiếm lĩnh.
Xác định công suất tối đa danh nghĩa của dự án: là số sản phẩm
sản xuất trong một đơn vị thời gian vừa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
của thị trờng mà dự án sẽ chiếm lĩnh, vừa để bù vào những hao hụt tổn
thất trong quá trình sản xuất, lu kho, vận chuyển và bốc dỡ.
Xác định công suất thực tế khả thi của dự án và mức sản xuất dự
kiến qua các năm cần căn cứ vào nhu cầu thị trờng, trình độ kỹ thuật
của máy móc thiết bị, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, chi phí sản
xuất và chi phí vốn đầu t.
Vũ Thị Hơng Giang
13
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thẩm định công nghệ và phơng pháp sản xuất: Lựa chọn trong
- Thẩm định vấn đề xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trờng: Xác
định các chất thải có khả năng gây ô nhiễm môi trờng của dự án. Lựa
chọn phơng pháp và phơng tiện xử lý chất thải căn cứ vào điều kiện cụ
thể về luật bảo vệ môi trờng tại địa phơng, địa điểm và quy mô hoạt
động của dự án, loại chất thải, chi phí để xử lý chất thải
1.2.2.3 Thẩm định tổ chức, quản lý dự án.
Là việc phân tích mặt tổ chức, quản lý nhằm đảm bảo hiệu quả
hoạt động của dự án.
Cần phân tích nội dung sau:
- Xây dựng bộ máy tổ chức, quản lý dự án đảm bảo các nguyên
tắc sau:
Các mục tiêu của dự án phải đợc quy định và hiểu rõ.
Thống nhất về chức năng.
Tổ chức phải tinh gọn, mối quan hệ giữa các bộ phận phải rõ
ràng.
Mọi cá nhân phải thực hiện tốt các công việc thuộc trách nhiệm
củamình.
Mọi cá nhân đều có quyền hạn tơng xứng với trách nhiệm đợc
trao để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Sự giám sát và lãnh đạo phải đợc xác lập đối với mọi hoạt động
của dự án để đạt đợc mục tiêu đã định.
Quy định rõ phạm vi kiểm soát của các đơn vị.
- Lao động và chính sách tiền lơng:
Xác định nhu cầu về lao động: Căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật của
sản xuất và hoạt động điều hành dự án.
Xác định nguồn lao động và chi phí tuyển dụng, đào tạo, chi phí
tiền lơng; Xác định hình thức trả lơng thích hợp, tính ra quỹ l-
ơng hàng năm cho mỗi loại lao động và cho tất cả lao động của
dự án.
Vũ Thị Hơng Giang
Vũ Thị Hơng Giang
16
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
sinh hoặc đo l ờng bằng cách tính toán định lợng nh mức tăng thu cho
ngân sách, mức gia tăng số ngời có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ
Những chi phí mà xã hội phải bỏ ra cho việc thực hiện dự án cũng đ-
ợc xem xét trên khía cạnh mang tính chất định tính và định lợng.
Khi thẩm định kinh tế - xã hội dự án cần căn cứ vào các mục tiêu
chủ yếu sau:
Nâng cao mức sống của dân c đợc thể hiện gián tiếp qua các số
liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, mức gia tăng
tích luỹ vốn, mức gia tăng đầu t, tốc độ phát triển, tốc độ tăng
trởng
Phân phối lại thu nhập thể hiện qua sự đóng góp của dự án vào
việc phát triển các vùng kinh tế, nâng cao đời sống của tầng lớp
dân c nghèo.
Gia tăng số lao động có việc làm.
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ.
Nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay
nghề cao, tiếp nhận chuyển giao công nghệ hoàn thiện cơ cấu
sản xuất của nền kinh tế.
Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng thúc đẩy
sự phát triển của các ngành khác.
1.2.2.5 Thẩm định tài chính dự án
Là thẩm định dự án dới giác độ của doanh nghiệp. Đó là việc
xem xét đánh giá và đa ra những con số cụ thể về khả năng sinh lợi của
vốn đầu t. Thẩm định tài chính dự án cho phép nhà đầu t đánh giá tính
khả thi về mặt tài chính của dự án.Do đó, có thể đa ra đợc kết luận cuối
cùng về tính khả thi của dự án đầu t phải xem xét khả năng sinh lợi của
vốn đầu t, tính toán các giá trị biểu hiện khả năng này đợc dựa trên
thể hiện:
+Giúp cho chủ đầu t lựa chọn đợc phơng án đầu t tốt nhất.
+Giúp cho cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nớc đánh giá đợc tính
phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh
Vũ Thị Hơng Giang
18
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thổ và của cả nớc trên các mặt mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu
quả.
+Giúp cho việc xác định đợc mặt lợi, mặt hại của dự án trên các
mặt khi đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh có
lợi và hạn chế các mặt có hại.
+Giúp đỡ các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay
hoặc tài trợ cho dự án đầu t.
+Qua thẩm định giúp cho việc xác định rõ t cách pháp nhân của
các bên tham gia đầu t.
Ta có thể thấy sự cần thiết của thẩm định tài chính dự án còn bắt
đầu từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với các hoạt động đầu t.
Nhà nớc với chức năng công quyền của mình sẽ can thiệp vào quá trình
lựa chọn dự án đầu t. Tất cả các dự án đầu t thuộc mọi nguồn vốn, mọi
thành phần kinh tế đều phải đóng góp vào lợi ích chung của đất nớc. Bởi
vậy trớc khi ra quyết định đầu t hay cho phép đầu t, các cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nớc cần biết xem dự án đó góp phần đạt đợc mục
tiêu của quốc gia hay không? Nếu có thì bằng cách nào và đến mức độ
nào.
Một dự án đầu t dù đợc tiến hành soạn thảo kỹ lỡng đến đâu cũng
mang tính chủ quan của ngời soạn thảo. Vì vậy để đảm bảo tính khách
quan của dự án, cần thiết phải thẩm định. Ngời soạn thảo thờng đứng
trên góc độ hẹp để nhìn nhận các vấn đề của dự án. Các nhà thẩm định
thờng có cách nhìn rộng hơn trong việc đánh giá dự án. Họ xuất phát từ
lãi vay có chú ý đến giá trị thời gian của tiền, chi phí dự phòng cũng
là yếu tố rất quan trọng trong quyết định bỏ vốn đầu t.
Các khoản tài chính dài hạn phải trang trải đủ các chi phí đầu t
của dự án bao gồm vốn cố định và vốn lu động cần thiết cho việc vận
hành bình thờng. Các khoản tài chính có thể huy động dới dạng vốn cổ
phần và vốn vay dài hạn. Việc giải quyết nhu cầu của dự án không
những quyết định khả năng sinh lợi trong tơng lai mà cả những cân đối
thu chi của nó. Bởi vậy, trong quá trình đánh giá dự án, cơ cấu vốn do
Vũ Thị Hơng Giang
20
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chủ đầu t dự tính sẽ đợc xét một cách chặt chẽ trên cơ sở xét đoán khả
năng sinh lợi trong tơng lai của doanh nghiệp.
Việc xác định đúng lợng vốn cần thiết cho một vòng đời của dự
án là cha đủ nếu không xem xét đến tiến độ bỏ vốn. Tiến độ bỏ vốn đợc
căn cứ theo tiến độ triển khai đầu t dự án, các điều kiện về tạm ứng vốn
hoặc thanh toán khối lợng trong các hợp đồng giao nhận thầu cũng nh
khả năng tham gia của các nguồn vốn đầu t vào dự án.
1.3.2.2 Xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, khả năng đảm bảo
vốn từ mỗi nguồn về mặt số lợng và tiến độ.
Các nguồn tài trợ cho dự án có thể là vốn chủ sở hữu, vốn vay và
đi thuê.
Vì vốn đầu t phải đợc thực hiện theo tiến độ ghi trong dự án vừa
để đảm bảo tiến độ thực hiện các công việc chung của dự án, vừa tránh
ứ đọng vốn nên các nguồn tài trợ đợc xem xét không chỉ về mặt số lợng
mà cả thời điểm nhận đợc tài trợ. Tiếp đó phải so sánh nhu cầu với khả
năng đảm bảo vốn cho dự án từ các nguồn về số lợng và tiến độ. Nếu
khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm quy mô của dự án, xem xét lại
khía cạnh kỹ thuật, lao động để đảm bảo tính đồng bộ trong việc giảm
quy mô của dự án.
r
Ci
CoNPV
)1( +
+=
Trong đó:
Co:Vốn đầu t ban đầu
Ci: Luồng tiền ròng dự tính năm thứ i
r : Tỷ lệ chiết khấu
Việc tính toán giá trị hiện tại ròng liên quan đến việc tính toán:
Dự tính lợng tiền đầu t ban đầu, tức là luồng tiền tại thời điểm
0. Co là luồng tiền ra nên nó mang dấu âm. Co bao gồm các
khoản đầu t vào tài sản, tạo ra tài sản của dự án. Nó có thể dới
dạng tiền sẵn sàng cho dự án hoạt động, tạo ra tồn kho, mua
sắm tài sản cố định. Đó là các khoản chi tiêu cho dự án hoạt
động. Trong thực tế, nó bao gồm các khoản chi tại các thời
điểm khác nhau trong giai đoạn đầu t của dự án.
Vũ Thị Hơng Giang
22
`Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Dự tính các luồng tìên trong thời gian kinh tế của dự án. Đây là
các khoản thực thu bằng tiền trong các năm hoạt động của dự
án. Nó đợc tính bằng doanh thu ròng trừ đi các chi phí bằng
tiền của từng năm. Các khoản này có thể thu đợc tại các thời
điểm khác nhau trong năm, nhng trong tính toán phân tích, ng-
ời ta thờng giả định các luồng tiền diễn ra vào thời điểm cuối
năm.
Dự tính tỷ lệ chiết khấu. Rất khó để xác định một tỷ lệ chiết
khấu hoàn toàn chính xác. Tỷ lệ chiết khấu là chi phí cơ hội
dự đoán đa ra ở trên mà thiếu sự chính xác thì hiển nhiên việc tính toán
NPV trở nên vô nghĩa và việc ra quyết định đối với dự án sẽ bị sai lệch.
*Chỉ tiêu tỷ lệ nội hoàn hay tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR:
Ngoài mối quan tâm đến kết qủa tuyệt đối của việc chấp nhận dự
án, các chủ đầu t còn có thể quan tâm đến tỷ lệ thu nhập bình quân các
năm trên vốn đầu t. Chỉ tiêu này cho phép có thể so sánh trực tiếp với chi
phí của vốn đầu t vào dự án. Đó chính là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại
ròng của dự án bằng 0.
=
+
+ 0
)1(
i
IRR
Ci
Co
Trong đó:
Co: Vốn đầu t ban đầu
Ci: Luồng tiền dự tính năm thứ i
IRR : Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.
Để xác định IRR ngời ta thờng sử dụng phơng pháp nội suy tuyến
tính:
)(
)(1
21
121
NPVNPV
rrNPVr
nhất.
Trong việc tính toán IRR cần lu ý, không cần phài căn cứ vào tỷ
lệ chiết khấu dự tính. Điều đó không có nghĩa là tỷ lệ chiết khấu là
không quan trọng. Nh trên đã đề cập, một khi IRR đợc tính toán, tiêu
chuẩn để so sánh là tỷ lệ chiết khấu của dự án.
Khi sử dụng IRR ta phải chú ý rằng cũng nh NPV, sự chính xác
của chỉ tiêu phụ thuộc vào sự chính xác của các dự tính về luồng tiền.
IRR là một chỉ tiêu mang tính tơng đối, tức là nó chỉ phản ánh tỷ lệ
hoàn vốn nội bộ của dự án là bao nhiêu chứ không cung cấp quy mô của
số lãi hay lỗ của dự án tính bằng tiền.
Khi dự án đợc lập trong nhiều năm, việc tính toán chỉ tiêu là rất
phức tạp. Đặc biệt loại dự án có các luồng tiền ròng vào ra xen kẽ năm
này qua năm khác, kết quả tính toán có thể cho nhiều IRR khác nhau
gây khó khăn cho việc ra quyết định.
Sử dụng hai chỉ tiêu NPV và IRR để đánh giá dự án có thể đa tới
cùng một kết luận, đồng thời lại có thể đa tới hai kết luận trái ngợc.
Điều đó tùy thuộc vào các luồng tiền trong tơng lai và tỷ lệ chiết khấu.
Vì IRR không đề cập tới độ lớn, quy mô của dự án và không giả định
Vũ Thị Hơng Giang
25