1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy
sản ở các tỉnh ven biển Nam Bộ”
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình dần hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, kinh tế
Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản ở
các tỉnh ven biển Nam Bộ”. Em xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng
góp bổ sung, những hướng dẫn cũng như những định hướng của thày giáo
GS,TS Hoàng Đức Thân đã giúp em hoàn thành đề tài này. Trong quá trình
thực hiện em đã cố gắng hoàn thành đề tài một cách tốt nhất,song do hạn
chế về thời gian cũng như chưa đầy đủ về kiến thức nên đề tài còn nhiều
thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý của thày giáo để hoàn thiện đề tài
này. 4
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XUẤT KHẨU
THỦY SẢN Ở CÁC TỈNH VEN BIỂN NAM BỘ
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm thương mại
* Khái niệm thương mại theo nghĩa rộng
Thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường.
Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh được hiểu như là các hoạt động
kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Theo pháp lệnh trọng tài ngày 25 tháng 5 năm 2003, có 15 hành vi
thương mại đó là: Mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại
diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư
vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai
thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường
biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định
của pháp luật
* Khái niệm thương mại theo nghĩa hẹp
Thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường,
là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa.
Theo Luật Thương mại 1998 – 2005 thì các hành vi thương mại bao
xuất ngày càng phát triển, khả năng sản xuất đã vượt ra khỏi nhu cầu tiêu
dùng của một quốc gia, do đó hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc
gia rất phát triển với nhiều hình thức, diễn ra trên pham vi toàn cầu trong
tất cả các ngành và các lĩnh vực kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu có phạm vi vượt ra khỏi biên giới của một quốc
gia, là hoạt động mang tính quốc tế. Chính vì lẽ đó, hoạt động xuất khẩu
phải tuân thủ các nguyên tắc, luật pháp, quy định của quốc gia nhập khẩu,
của quốc tế và của những sân chơi chung mà chúng ta tham gia.
6
* Khái niệm xuất khẩu thủy sản
Xuất khẩu thủy sản nghĩa là trong quá trình mua bán, trao đổi giữa
hai quốc gia, hai vùng lãnh thổ khác nhau, hai chủ thể kinh tế ở hai quốc
gia khác nhau, thủy sản là đối tượng của hoạt động này, quá trình này. Điều
đó có nghĩa là hàng hóa trong quá trình xuất khẩu là thủy sản.
1.1.4. Khái niệm thị trường và thị trường xuất khẩu
* Khái niệm chung về thị trường
Các trường phái khác nhau đưa ra các quan điểm khác nhau về thị
trường. Chính vì vậy có rất nhiều quan điểm về thị trường được đưa ra
Thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hóa và lưu
thông tiền tệ.
Thị trường là quá trình người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau để xác định giá cả và khối lượng hàng hóa mua bán.
Thị trường là một tập hợp các khách hàng có nhu cầu, có khả năng
thanh toán nhưng chưa được thỏa mãn và đang hướng tới sự thỏa mãn của
doanh nghiệp.
Thị trường là một môi trường mà ở đó xảy ra cạnh tranh giữa các
sản phẩm “có thể thay thế cho nhau vì cùng mục đích sử dụng của người
tiêu dùng”.
* Khái niệm thị trường xuất khẩu
* Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ
Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát triển, góp
phần tăng tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, tăng thu nhập cho nền kinh tế,
tạo việc làm, cải thiện mức sống của các tầng lớp dân cư. Ngoại tệ thu được
từ xuất khẩu sẽ là nguồn vốn quan trọng để mua máy móc, thiết bị, công
nghệ… phục vụ cho sản xuất, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đồng thời cũng là nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, là điều kiện cần
thiết để giúp cho quá trình ổn định nội tệ và chống lạm phát.
* Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển
8
Xuất kẩu góp phần tạo nguồn vốn để nhập khẩu máy móc kỹ thật và
công nghệ làm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Xuất khẩu phát triển
sẽ duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ cho hàng xuất khẩu, tạo điều kiện
cho sản xuất trong nước phát triển ổn định.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh
tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất các lợi thế của đất nước,
tăng sản xuất về số lượng và chất lượng, tăng năng suất và tiết kiệm chi phí
lao động xã hội. Đây là yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hóa –
hiện đại hóa đất nước.
* Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công việc làm và cải
thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu tác động đến nhiều mặt của đời sống nhân dân. Khi sản
xuất phát triển, nhiều sản phẩm được xuất khẩu, quy mô sản xất tăng lên,
thu hút nhiều yếu tố đầu vào hơn, trong đó có yếu tố lao động. Đẩy mạnh
xuất khẩu sẽ tác động tích cực giải quyết lao động, việc làm, nâng cao thu
nhập, cải thiện mức sống cho người lao động, góp phần ổn định và phát
triển kinh tế xã hội.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng thiếu
Nguồn vốn này có thể là từ: vay nước ngoài, đầu tư nước ngoài, viện trợ,
xuất khẩu hàng hóa. Dựa vào tính chất kinh tế của các nguồn vốn ta thấy,
nguồn vốn từ hoạt động xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, và mang
lại ít bất lợi nhất cho nền kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản luôn
chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,
vào khoảng 10%, và ngành thủy sản cũng đóng góp trên 10% vào GDP
nước ta.
10
Bảng 1.1 Kim ngạch và cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng chủ lực từ năm
1995 đến năm 2007 của Việt Nam.
Đơn vị: Triệu USD và %
Năm
Tổng kim
ngạch
Dầu thô Dệt may Thủy sản
Giá
trị
X.K
%
tăng
trưởng
Giá trị
X.K
%
tăng
trưởng
52.2 10.3
2001
15027
3.8 3125.6
10.7 20.8 1975.4
4.4 13.1 1816.4
19.1 11.8
2002
16706
11.2 3270 4.6 19.6 2732.7
39.3 16.4 2021.7
14.9 13.1
2003
20176
18.8 3821 15.5 18.7 3609.1
34 17.8 2199.6
48145
22.6 8250 8.6 17.1 6810.5
28.5 14.14
3800 13.5 7.9
Nguồn: Số liệu từ Bộ Công Thương, Bộ Thủy sản và Tổng cục Thống kê (2007)
Trong những năm gần đây, thủy sản đã trở thành một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong tổng giá trị xuất
khẩu của nước ta. Năm 1995, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản là 621.4
triệu USD thì tới năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đã vượt qua con số 1 tỷ
USD, gấp 6 lần so với năm 1990. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản
đạt 3.8 tỷ USD, chiếm tới 13.5% tổng kim ngạch xuất khẩu và đứng thứ 4
sau dầu thô, dệt may và giày dép.
* Xuất khẩu thủy sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới thiết bị
công nghệ sản xuất và thúc đẩy sản xuất phát triển
- Xuất khẩu góp phần tạo nguồn vốn để nhập khẩu các thiết bị kỹ
thuật và công nghệ nước ngoài vào Việt Nam, góp phần hiện đại hóa nền
kinh tế, nâng cao năng suất thủy sản Việt Nam.
- Xuất khẩu thủy sản phát triển sẽ duy trì và mở rộng thị trường tiêu
thụ thủy sản, nhờ đó sản xuất trong nước cũng ổn định và phát triển.
- Để có thể phát triển xuất khẩu thủy sản, Việt Nam phải đối mặt với
sự cạnh tranh rất gay gắt trên thị trường thế giới, và vì thế cần phải tổ chức
sản xuất sao cho hiệu quả nhất. Điều này góp phần rất lớn vào công cuộc
11
đổi mới và hoàn thiện sản xuất cũng như trình độ nghiệp vụ của nhân viên
ngành thủy sản.
- Hơn thế nữa, xuất khẩu thủy sản phát triển còn tạo điều kiện cho
130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Năm 2000, Việt Nam đứng thứ 11 về giá trị xuất khẩu thì năm 2004,
vị trí của Việt Nam là thứ 6. Hàng thủy sản Việt Nam đang không ngừng
được củng cố và mở rộng vị thế trên thị trường quốc tế. Các hiệp định song
phương và đa phương trong lĩnh vực thủy sản ngày càng tăng, tạo điều kiện
cho Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
1.2.3. Vai trò của xuất khẩu thủy sản trong việc phát triển kinh tế địa
phương
Như đã trình bày, điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi đã giúp cho các
tỉnh ven biển Nam Bộ phát triển ngành thủy sản. Đặc biệt là phát triển
mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản sang các nước, các khu vực như EU,
châu Mỹ trong đó quan trọng nhất là Hoa Kỳ…
- Tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản, tăng sự đóng góp vào nguồn
thu của tỉnh, tạo ngân sách cho xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế
và ổn định đời sống xã hội của tỉnh, thành phố.
- Ngành thủy sản nói chung và thủy sản xuất khẩu nói riêng đã thúc
đẩy sản xuất thủy sản ở khu vực các tỉnh ven biển Nam Bộ phát triển lên
một trình độ mới. Nâng cao năng suất lao động và từng bước chuyên môn
hóa ngành thủy sản.
- Bên cạnh đó nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và yêu cầu thực tế
của việc phát triển, các tỉnh ven biển Nam Bộ đã nhập khẩu một số lượng
lớn các trang thiết bị kỹ thuật công nghệ. Nhờ đó trình độ công nghệ trong
lĩnh vực thủy sản nói riêng và các lĩnh vực khác cũng được nâng lên.
- Xuất khẩu thủy sản phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
địa phương.
13
- Xuất khẩu thủy sản phát triển, đặt ra yêu cầu về nâng cao năng lực
chế biến thủy sản, tạo ra lượng lớn việc làm cho người lao động, góp phần
tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân địa phương.
2
)
Đường
bờ biển
(km)
Nhiệt độ
trung
bình(
0
C)
Độ ẩm
tương
đối (%)
Bà Rịa – V
ũng
Tàu
1975.15
884900
448
153
27
83
192
27
79
Cà Mau 5211
1200800
231
248
27
78
Kiên Giang 6299
1634043
259
200
27.3
82.5
32
27
81
Tp.HCM 2095
8500000
3067
13
27.55
80
Trà Vinh 222515
997235
454
65
26.6
83.5
15
các loài sinh vật lạ trong vùng khai thác hải sản không chỉ ảnh hưởng về
sản lượng khai thác mà còn ảnh hưởng về chất lượng hải sản. Điều này đã
gây khó khăn đáng kể cho một số doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy
sản trong thời gian vừa qua.
Khí hậu không thuận lợi cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
NTTS. Những thất thường của thời tiết, sự thay đổi khí hậu, nhiệt độ, mực
nước, sự kéo dài của một mùa… làm giảm sản lượng, tăng giá nguyên liệu,
thiếu nguyên liệu sản xuất… đã làm giảm hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp chế biến hàng thủy sản xuất khẩu.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản
Khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở
trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của
nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của nước ngoài tăng cũng có
nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc thì giá trị xuất
khẩu có cơ hội tăng lên. Đồng thời nếu tỷ giá hối đoái tăng lên thì giá trị
xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi. Nói
một cách khái quát, có thể phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động
xuất khẩu nói riêng và hoạt động nhập khẩu nói chung có thể chia thành
nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
1.3.1. Nhân tố khách quan
* Các nhân tố chính sách kinh tế vĩ mô
Các công cụ chính sách chủ yếu thường được sử dụng để điều tiết
các hoạt động xuất khẩu là:
- Thuế quan: Trong xuất khẩu, nó là loại thuế đánh vào từng đơn vị
hàng xuất khẩu. Điều này đã làm tăng tương đối giá cả hàng hóa xuất khẩu
so với mức giá quốc tế. Do đó đem lại bất lợi cho hàng hóa xuất khẩu. Vì
vậy nó chỉ áp dụng cho một số loại hàng hóa xuất khẩu để bổ sung ngân
sách nhà nước.
17
Quốc gia tham gia vào liên minh và hiệp định thương mại thường
phải tuân thủ rất nhiều nguyên tắc, tuy nhiên đây lại là nhân tố thúc đẩy
phát triển xuất khẩu của quốc gia đó bởi việc có thể có được những mối
quan hệ thân thiết hơn so với các nước khác không tham gia ký kết hiệp
định hay hiệp ước.
* Nhân tố tự nhiên
- Điều kiện về địa lý.
Việt Nam có diện tích đất liền vào khoảng trên 330.369 km
2
, có
đường bờ biển kéo dài trên 3260 km trong đó có 112 cử sông, tính trung
bình cứ 100 km
2
diện tích đất liền thì có 1km bờ biển. Mặt khác nước ta có
nhiều diện tích đất ngập nước, sông suối, hồ, ao, kênh rạch… tạo điều kiện
rất lớn cho việc nuôi trồng và khai thác thủy hải sản.
Các tỉnh ven biển Nam Bộ gồm có 11 tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc
Liêu, Bến Tre, Bình Thuận, Cà Mau, Kiên Giang, Ninh Thuận, Sóc Trăng,
Tiền Giang, Tp.HCM và tỉnh Trà Vinh. Đây là các tỉnh có vị trí địa lý
thuận lợi cho việc NTTS và khai thác, đánh bắt thủy sản ngoài biển khơi.
- Về nguồn lợi thủy sản và tiềm năng phát triển sản xuất hàng thủy sản.
Việt Nam hiện nay đã phát hiện được trên 11000 loài động vật và
thực vật biển, cá biển có khoảng 2000 loài trong đó có hơn 130 loài cá có
giá trị kinh tế và gần 50 loài có giá trị kinh tế cao như: cá thu, bạc má,
hồng, đối, vược, nụ song… Ngoài ra còn có hơn 1600 loài giáp xác trong
đó có hơn 70 loài thuộc các họ như: tôm hùm, tôm gai, tôm he, tôm vỏ…
Biển Việt Nam còn có khoảng hơn 2500 loài nhuyễn thể trong đó mực và
bạch tuộc là có giá trị kinh tế cao nhất. Ngoài ra còn có rong và tảo.
16.1
Biển Đông Nam Bộ 2075889
47.1
830456
44.7
Biển Tây Nam Bộ 506679
11.5
223075
12.07
Gò nổi 10000
0.2
25000
0.13
Khu vực khác quanh biển Đông 510000
11.6
nghiệp. Trong cơ cấu các nghề trên địa bàn, khai thác hải sản là nghề
truyền thống và chiếm tỷ lệ lao động nhiều nhất.
Chính vì nghề thủy sản phát triển khá sớm nên ở đây đã hình thành
những mô hình HTX, hộ nuôi thủy sản và tổ, đội khai thác hải sản có tổ
chức khá chặt chẽ. Điều này tạo thuận lợi cho việc phát triển khai thác chế
biến xuất khẩu hàng thủy sản do ngành thủy sản được chú trọng.
* Nhân tố khác
Các nhân tố khác được đề cập ở đây như là các nhân tố về chiến
tranh, sự thay đổi nhu cầu thị trường.
Chiến tranh hay những bất ổn về chính trị, sự suy thoái về kinh tế
của một số quốc gia đang là bạn hàng của nước ta trong lĩnh vực thủy sản
đã làm giảm giá trị xuất khẩu thủy sản vào thị trường này, tức là làm giảm
kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản.
Nhân tố thứ hai là sự thay đổi nhu cầu thị trường. Hiện các nước
nhập khẩu thủy sản chủ yếu của nước ta là những nước phát triển như Nhật
Bản, Hoa Kỳ và các nước thuộc khu vực Châu Âu (EU). Tuy nhiên, theo
nghiên cứu của các tổ chức kinh tế thế giới, nhu cầu thủy sản ở các nước
phát triển sẽ giảm một lượng đáng kể trong thời gian tới. Đồng thời nhu cầu
thủy sản lại tăng lên một lượng tương đối nhỏ ở các nước đang phát triển.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
* Nhân tố con người
Bên cạnh những nhân tố cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
như vật tư, tiền vốn, công nghê, nhân tố quản trị …nhân tố con người được
coi là quan trọng nhất, có tính chất quyết định tới sự thành bại của tổ chức.
Trong hoạt động xuất khẩu, từ khâu nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách
hàng, tạo nguồn hàng, giao dịch ký kết hợp đồng… đều cần đến chuyên
môn, kỹ thuật nghiệp vụ của người thực hiện. Và các công việc này nếu
20
được thực hiện bởi những người có trình độ tốt thì hiệu quả mang lại sẽ rất
21
Cơ sở hậu cần dịch vụ cho khai thác thủy sản ở các tỉnh ven biển
Nam Bộ những năm gần đây đã có những bước phát triển nhanh chóng, đáp
ứng cơ bản yêu cầu phát triển thủy sản trong giai đoạn hiện nay. Việc hình
thành và xây dựng các cơ sở dịch vụ hậu cần diễn ra trên 3 lĩnh vực cơ bản
như: Cơ khí đóng sửa chữa tàu thuyền; cảng cá, bến cá và dịch vụ cung cấp
nguyên vật liệu; thiết bị và hệ thống tiêu thụ sản phẩm, thông tin liên lạc.
* Nhóm nhân tố thuộc về bộ máy quản lý, trình độ tổ chức lãnh đạo
“Một người biết lo bằng kho người biết làm” – đây là câu châm ngôn
nói về tầm quan trọng của quản trị. C.Mac đã nói: “Không cần mua sắm
thêm thiết bị công nghệ, chỉ cần tổ chức sắp xếp lại lao động thì năng suất
lao động cũng có thể tăng lên”. Một hệ thống quản trị tốt sẽ giúp doanh
nghiệp sử dụng tốt mọi nguồn lực của tổ chức, nâng cao năng lực sản xuất
và hiệu quả hoạt động.
22
PHẦN II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN Ở
CÁC TỈNH VEN BIỂN NAM BỘ
2.1. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của các tỉnh ven biển Nam Bộ
2.1.1. Tổng quan về xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong giai đoạn vừa
qua
Đánh dấu một năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO),
xuất khẩu Việt Nam đã có dấu hiệu khởi sắc. Giá trị xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam năm 2007 ước đạt 48 tỷ USD, tương đương 67,4 % GDP,
tăng 20,5% so với năm 2006. Năm 2007 có tới 12 mặt hàng có tốc độ tăng
kim ngạch xuất khẩu lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước
như: Gạo; Cà phê; hạt điều; hạt tiêu; hàng thủy sản; dệt may… Số mặt hàng
có tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu gấp hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng
kinh tế là 7 mặt hàng. Có 10 mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch xuất khẩu
2003 2217 10.85%
2004 2401 8.3%
2005 2828 17.78%
2006 3264 15.42%
2007 3800 16.42%
Nguồn: Trang thông tin điện tử Bộ Thủy sản Việt Nam (2007)
Năm 2007 được xem là năm thành công trong xuất khẩu thủy sản
của nước ta. Thị trường xuất khẩu chính gồm: Nhật Bản với kim ngạch
chiếm 25% nhưng về tốc độ tăng thì đang chậm lại và đang đứng trước
nguy cơ lệnh cấm nhập khẩu tôm của Việt Nam vào thị trường này. Các
nước EU chiếm 21,7% nhưng tốc độ tăng trưởng đã đạt gần 69%. Thị
trường Hoa Kỳ cũng chiếm trên 20% nhưng tốc độ tăng chỉ ở mức 7%. Thị
trường Hàn Quốc chiếm hơn 6%, có tốc độ tăng trưởng tới 29% và đặc biệt
là thị trường Nga đạt tốc độ tăng trưởng lên tới gấp 2,7 lần so với năm
2006, chiếm thị phần đáng kể.
24
Đạt được thành công này, góp phần đáng kể là việc tăng sản lượng
NTTS và đánh bắt hải sản.
Bảng 2.2 Kết quả khai thác hải sản hàng năm của nước ta.
Năm
Tổng sản lượng thủy sản
(tấn)
Sản lượng khai thác hải sản
(tấn)
Tỷ trọng
%
2000
Tổng sản lượng
thủy sản (tấn)
Sản lượng
nuôi (tấn)
Tỷ trọng
(%)
Diện tích mặt nước
NTTS (ha)
2000
2003000 7231100 36.10 652000
2001
2226900 879100 39.47 887500
2002
2410900 976100 40.48 955000
2003
2536361 1110138 43.76 1000000
2004
3073600 1150100 37.41 1000000
2005
3247000 1437000 44.25 1008200
2006
3695900 1694300 45.84 1012300
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam (2006)
1665.9
1894.8
2110.5
2325.1
2538.8
2762.7
Đông Bắc
365.3
411.9
513.4
572.1
673.9
708.7
732.5
Tây Bắc
32.3
3049.0
3245.7
3387.2
3516.5
3731.8
3859.0
Tây Nguyên
81.8
80.7
103.5
109.2
107.0
115.9
127.7
Đông Nam Bộ
2553.6
Các tỉnh ven biển
Nam Bộ
13156.6
15954.6
17150.2
19175.4
21852.0
24573.2
26240.4
Tỷ lệ so với cả
nước (%)
60.4
62.9
62.14
62.66
63.45
63.45
1440.3
1571.4
1559.3
Ninh Thuận
301.6
388.1
393.1
407.9
444.8
471.2
537.6
Kiên Giang
2247.2
2558.9
2767.3
3091.0
4032.1
3904.7
3919.7
Cà Mau
3230.9
4156.5
4231.2
4480.5
4826.7
5525.6
6083.8
Trà Vinh
893.3
1018.7
1155.2
1388.5
1114.1
1066.8
1078.3
Ti
ền Giang
803.6
852.9
926.6
1078.1
1183.1
1338.7
1358.0
Nguồn: Tạp chí thủy sản – Bộ Thủy sản Việt Nam (2006)