KHẢO SÁT MẬT ĐỘ VI KHUẨN Aeromonas, Pseudomonas, Edwardsiella ictaluri VÀ Vibrio TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) THÂM CANH CÓ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC (probiotic) Ở ĐỒNG THÁP - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
Bộ môn Sinh học và bệnh thủy sản
ĐẶNG CHÍ CÔNG

KHẢO SÁT MẬT ĐỘ VI KHUẨN Aeromonas, Pseudomonas,
Edwardsiella ictaluri VÀ Vibrio TRONG MÔI TRƯỜNG
NƯỚC NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
THÂM CANH CÓ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC
(probiotic) Ở ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN

THÂM CANH CÓ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC
(probiotic) Ở ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
ThS. NGUYỄN THỊ THU HẰNG
2009
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
1
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Giới thiệu
Trong những năm gần đây nghề Nuôi trồng Thủy sản ở Việt Nam phát triển rất
mạnh, sản lượng xuất khẩu không ngừng tăng lên, trong số các mặt hàng thủy

Pseudomonas, Edwardsiella ictaluri và Vibrio trong môi trường nước nuôi cá
tra (Pangasianodon hypophthalmus) thâm canh có sử dụng chế phẩm sinh
học (probiotic) ở Đồng Tháp” được thực hiện.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
2
1.2. Mục tiêu
Tìm hiểu mật số của một số giống loài vi khuẩn trong môi trường nước ao nuôi
cá tra thâm canh có sử dụng chế phẩm sinh học và ao nuôi không sử dụng chế
phẩm sinh học.
1.3. Nội dung
− Phân tích mẫu nước ao nuôi cá tra thâm canh có sử dụng chế phẩm sinh học.
− Phân tích mẫu nước ao nuôi cá tra thâm canh không sử dụng chế phẩm sinh
học.

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
3
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. Sơ lược đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
Cá tra phân bố chủ yếu lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt
Nam, Campuchia và Thái lan. Ở Việt Nam, cá tra được nuôi thương phẩm nhiều
ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, (Ferguson et
al., 2001).
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước lợ nhạt
(nồng độ muối dưới 10‰), chịu đựng được nước phèn với pH > 4. Cá có cơ quan
hô hấp phụ, có thể hô hấp bằng bóng khí nên chịu đựng được môi trường nước
có nồng độ oxy hòa tan thấp. Do đó cá tra có thể nuôi trong các mô hình nuôi
khác nhau ở mật độ cao hơn các loài thủy sản khác (Ali et al., 2005).
Cá tra lớn nhanh trong ao nuôi. Sau 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng 1-1,2kg/con.

nuôi (Ahmed et al., 2007).
2.3. Một số bệnh thường gặp trên cá tra
Song song với sự tăng sản lượng không ngừng thì tình hình dịch bệnh thường
xuyên xảy ra và ngày càng phức tạp hơn như bệnh do ký sinh trùng; bệnh đốm
đỏ, bệnh trắng da, phù đầu phù mắt, bệnh gan thận mủ do vi khuẩn Aeromonas,
Edwardsiella ictaluri, Pseudomonas và Vibrio gây ra. Gây thiệt hại nghiêm trọng
cho nghề nuôi cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Từ Thanh Dung, 2008
).
2.4. Đặc điểm gây bệnh của vi khuẩn Aeromonas, Edwardsiella ictaluri,
Pseudomonas và Vibrio trên động vật thủy sản
2.4.1. Vi khuẩn Aeromonas
2.4.1.1. Đặc điểm chung
Aeromonas là vi khuẩn thuộc họ Vibrionaceae, là nhóm vi khuẩn gram âm, hình
que có kích thước 0,3-1,0 x 1,0-4,0 µm, di động được nhờ roi ở cực thể. Phản
ứng lên men và oxy hóa đường, oxidase, catalase dương tính và kháng với O/129
(Inglis et al., 1993). Aeromonas được tìm thấy trong nước các ao hồ nuôi và
những ao ngoài tự nhiên (Swann et al., 1989).
Vi khuẩn Aeromonas phát triển tốt trên môi trường thạch TSA (pH = 7,1-7,2)
trong 24 giờ ở 28°C (Huys et al., 2003) và môi trường Aeromonas agar ở nhiệt
độ 28-30°C, khuẩn lạc của một số loài có sắc tố màu vàng, kích thước cũng thay
đổi theo loài (Moro et al., 1999). Riêng Aeromonas hydrophila trên môi trường
Rimler-Shotts khuẩn lạc có màu vàng da cam, kích thước từ 2-3 mm (Inglis et
al., 1993).
2.4.1.2. Phổ loài cảm nhiễm và dấu hiệu bệnh lý
Theo nghiên cứu của Swann et al (1989) cho rằng vi khuẩn Aeromonas sống
được ở môi trường ngọt, lợ, mặn vì thế chúng có thể gây ra bệnh trên một số loài
cá nước ngọt, cũng như cá da trơn, cá biển và cả cá cảnh như bệnh nhiễm trùng
máu (Motile Aeromonas Septicemia-MAS), bệnh lở loét (Ulcer Disease) gây ra
thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi thủy sản.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version

6
tác nhân cơ hội, nhưng đóng vai trò rất quan trọng gây ra hội chứng lở loét
(Epizootic Ulcerative Symdrome- EUS) trên cá lóc (Channa striata).
Năm 2002, khi Řehulka nghiên cứu về tác nhân gây bệnh lở loét trên da cá hồi
(Oncorhynchus mykiss) đã phân lập được vi khuẩn Aeromonas sobria và
Aeromonas caviae trên các mẫu cá bệnh với các triệu chứng lở loét ở da, lồi mắt,
bụng đầy dịch, bong bóng hơi và gan bị xuất huyết nghiêm trọng. Còn theo Bùi
Quang Tề (2002) khi phân lập mẫu bệnh đốm đỏ trên cá trắm cỏ cũng thấy sự
hiện diện của Aeromonas caviae với tỷ lệ 25% trong số các loài vi khuẩn gây
bệnh thuộc giống Aeromonas.
Ngoài các tác nhân Aeromonas spp kết hợp với Aeromonas punctala gây bệnh
xuất huyết ở cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) gây tỷ lệ chết cao, đặc biệt là ở
giai đoạn cá nhỏ (Nguyễn Chung, 2008).
Trong ao nuôi khi môi trường nước gặp bất lợi như chất lượng nước xấu, hàm
lượng oxy thấp, hàm lượng CO
2
và NO
2
cao sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho sự
phát triển và tăng độc lực của nhóm vi khuẩn Aeromonas gây bệnh cho cá nuôi
(Swann et al., 1989).
2.4.2. Vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
2.4.2.1. Đặc điểm chung
Edwardsiella ictaluri là vi khuẩn gram âm, que ngắn, kích thước khoảng
0,75x1,5µm, thuộc nhóm Enterobacteriaceae di động yếu ở 25°C, không di
động ở 35°C. Catalase dương tính, âm tính với oxidase và indole. Không sinh
H
2
S nhưng có khả năng lên men đường glucose, sinh gas ở 20-30°C nhưng ở
37°C thì không có hiện tượng sinh gas (Keskin et al., 2002; Hawke et al., 1981

1995).
Bên cạnh cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thì Edwardsiella ictaluri cũng gây
bệnh trên một số loài cá cùng giống như cá bông lao (I. furcatus), cá sọc ngựa
lam (Danio devario), và cá trê trắng (Clarias batrachus) gây thiệt hại lớn về
kinh tế trong nghề nuôi cá công nghiệp ở Mỹ (Keskin et al., 2002).
Ở Việt Nam bệnh mủ gan do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây ra xuất hiện
đầu tiên vào năm 1998 trên cá tra nuôi tại Đồng bằng sông Cửu Long có tên là
BNP (bacillary necrosis of pangasius) (Ferguson et al., 2001). Theo Từ Thanh
Dung và ctv (2003) vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh trắng gan ở cá tra
bệnh xảy ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá tra, nhưng gây thiệt hại lớn
nhất ở giai đoạn cá cỡ 300-500 g với các dấu hiệu bệnh lý như cá gầy yếu, bơi lờ
đờ, có hiện tượng xuất huyết dưới da và hậu môn. Bên trong nội quan xuất hiện
những đốm trắng đường kính 1-3 mm ở gan, thận, tùy tạng và có hiện tượng
nhũn thận (hình 2.2). Đây là một bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho các hộ
nuôi cá tra, basa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tỷ lệ xuất hiện bệnh mủ gan trên
cá tra khoảng (61%) tuy không cao hơn nhiều so với các bệnh khác như bệnh đỏ
mỏ đỏ kỳ (68,3%), bệnh phù đầu (51,2%) nhưng tỷ lệ chết cao nhất lên đến 90%
(Trần Anh Dũng, 2005). Hiện nay ở Đồng bằng sông Cửu Long bệnh gan thận
mủ xuất hiện hầu như quanh năm, các yếu tố gây sốc cho động vật thủy sản là
điều kiện cho vi khuẩn Edwardsiella ictaluri phát triển.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
8
Theo Keskin et al (2002) đã phân lập được Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên
cá hồi (Oncorhynchus mykiss) ở Thổ Nhĩ Kỳ với những đặc điểm hình thái sinh
lý và sinh hóa tương tự nghiên cứu của Từ Thanh Dung và ctv (2003) và Plumb
et al (2005).
2.4.3. Vi khuẩn Pseudomonas
2.4.3.1. Đặc điểm chung
Inglis et al (1993) cho biết giống Pseudomonas thuộc họ Pseudomonadaceae là
vi khuẩn gram âm, hình que thẳng hoặc hơi cong, có kích thước 0,5-1,0 x 1,5-

Nhật Bản, giáp xác,… Sau khi phân lập chủ yếu là do P. anguilliseptica, P.
fluorescens, P. aeroginosa và P. chlororaphis gây ra (Trích dẫn bởi Từ Thanh
Dung, 2008)
Thông tin từ cho rằng trong quá trình nuôi cá tra
và cá basa ở Đồng bằng sông Cửu Long thường xuyên xuất hiện một số bệnh
như bệnh đốm đỏ do Pseudomonas fluorescens, P. anguilliseptica, P.
chlororaphis gây ra hiện tượng xuất huyết từng đốm nhỏ trên da, xung quanh
miệng và nắp mang, phía mặt bụng, bề mặt cơ thể có thể chảy máu, tuột nhớt
nhưng không xuất huyết vây và hậu môn. Và bệnh nhiễm khuẩn huyết bởi
Pseudomonas spp thường xâm nhập vào cơ thể cá qua các thương tổn ở mang,
da, vẩy để phá hủy tổ chức mô, các chức năng trong cơ thể, có thể gây chết đến
70-80%. Các tác nhân này tăng thêm độc lực trong môi trường bất lợi cho vật
nuôi như nhiệt độ biến động mạnh, oxy hòa tan thấp, chất hữu cơ hòa tan cao.
P. fluorescens thường gây bệnh nhiễm trùng máu trên cá mè trắng
(Hypophthalmychthys molitrix) dấu hiệu ban đầu là xuất hiện những tổn thương
bên ngoài cơ thể, ở các giai đoạn sau những tổn thương này biến đổi càng phức
tạp hơn. Ngoài ra, P. fluorescens còn gây bệnh lở loét trên cá hồi, với các tác
nhân khác gây ra tỷ lệ chết cao (Từ Thanh Dung, 2008).
Theo Nguyễn Chung (2008) thì loài Pseudomonas dermoalba gây ra bệnh trắng
đuôi và bệnh mất nhớt trên cá kèo nuôi ao thương phẩm gây thiệt hại lớn ở các
giai đoạn nuôi.
2.4.4. Vi khuẩn Vibrio
2.4.4.1. Đặc điểm chung
Vibrio là vi khuẩn gram âm, dạng que hoặc cong (phẩy khuẩn), có kích thước
tương đương với kích thước của giống Aeromonas vì Vibrio cũng thuộc họ
Vibrionaceae. Di động, oxidase dương tính, lên men đường glucose, nhạy với
O/129 (10µg và 150µg) (Inglis et al., 1993). Vi khuẩn được tìm thấy nhiều ở
môi trường nước lợ và biển. Ion Na
+
sẽ kích thích nhóm vi khuẩn này tăng

ấu trùng và tôm giống gây chết nhanh và hàng loạt, từ 80-100%. Tôm nhiễm
bệnh thân có màu trắng đục, quan sát vào ban đêm thấy có hiện tượng phát sáng
trong bể ương là do V. harveyi gây ra. V. harveyi là vi khuẩn gây bệnh chủ yếu ở
các loài tôm biển và tôm càng xanh, V. harveyi phát triển mạnh trong môi
trường có độ mặn từ 20-30‰ , mật độ vi khuẩn giảm rõ rệt khi ở môi trường có
nồng độ muối từ 5-7‰ (Pass et al., 1987 trích dẫn bởi Oanh, 1999).
Ở Việt Nam đã phân lập được các loài Vibrio alginolyticus, V. harveyi, V.
vulnificus, V. cholerae, V. mimicus trên cá, tôm nhiễm bệnh (Oanh et al., 1999).
2.5. Sử dụng chế phẩm sinh học (probiotic) trong nuôi trồng thủy sản
2.5.1. Sơ lược về probiotic
“Probiotic là hỗn hợp bổ sung có bản chất vi sinh vật sống có tác động có lợi đối
với vật chủ nhờ cải thiện hệ vi sinh liên kết với vật chủ hoặc sống tự do trong
môi trường, nhờ cải thiện việc sử dụng thức ăn hoặc tăng cường giá trị dinh
dưỡng của thức ăn, nhờ vào sự tăng khả năng đề kháng của vật chủ đối với mầm
bệnh hoặc nhờ vào sự cải thiện chất lượng của môi trường sống” (Phạm Thị
Tuyết Ngân, 2007).
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
11
Probiotic bao gồm những vi khuẩn có lợi (vi sinh vật hữu ích) và trong thủy sản
hầu hết những sinh vật này là vi khuẩn lactic acid (Lactobacillus plantarum, L.
acidophillus, L. casei, L. rhamnosus, L. bulgaricus; Carnobacterium…), giống
Vibrio (Vibrio alginolyticus), giống Bacillus (B. subtilis, B. licheniformis, B.
megaterium, B. polymyxa,…), Actinomycetes, Nitrobacteria, Denitrifying,
Bifidobacterium… được áp dụng trong các bể ương nuôi, trong ao để hạn chế sự
nhiễm bệnh đối với các vi khuẩn gây bệnh (Xiang-Hong et al., 1998; Lê Đình
Duẩn và ctv, 2007). Cũng theo nghiên cứu của Lê Đình Duẩn và ctv (2007) thì
một số thành phần khác cũng được tìm thấy trong probiotic đó là tập hợp các
enzyme có nguồn gốc vi sinh vật như amylase, protease, lipase, cellulase,
chitinase, một số vitamin thiết yếu và chất khoáng. Ngoài ra, trong các chế
phẩm sinh học giúp xử lý nước và nền đáy ao thường bổ sung thêm các chủng

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
12
mạnh quá trình phân hủy của các chất hữu cơ, các chất gây độc trong môi
trường nước làm cải thiện chất lượng môi trường nước.
2.5.2. Tình hình sử dụng probiotic trong nuôi trồng thủy sản
Sử dụng probiotic trong nuôi trồng thủy sản sẽ hạn chế dùng một lượng lớn chất
kháng sinh và hóa chất vào ao nuôi thủy sản. Đặc biệt là hạn chế đáng kể khả
năng gây bệnh của một số loại vi khuẩn có hại trên đối tượng nuôi và đây là
biện pháp tăng hiệu quả sản xuất có ý nghĩa thực tiễn (Xiang-Hong et al., 1998).
Nghiên cứu của Lê Đình Duẩn và ctv (2007) về nuôi thử nghiệm tôm sú bằng
chế phẩm sinh học cho kết quả rất khả quan, các chế phẩm sinh học không
những làm tăng khả năng phân giải các chất hữu cơ, làm sạch, và ổn định môi
trường nước mà còn tăng năng suất gấp gần 2 lần so với đối chứng.
Một số nghiên cứu khác về việc ứng dụng các chế phẩm sịnh học vào trong nuôi
thủy sản cho kết quả rất khả quan, vừa có thể cải thiện chất lượng nước, giảm
lượng dùng kháng sinh, giảm mầm bệnh trong ao mà còn có thể nâng cao năng
suất nuôi và chất lượng của sản phẩm (Xiang-Hong et al., 1998).
Năm 1992, Nogami et al nghiên cứu và báo cáo rằng trong môi trường nước có
độ mặn tương đối cao thì các nhóm vi khuẩn có lợi cũng có thể làm tăng tốc độ
sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua, ngăn chặn sự sinh trưởng của các vi
khuẩn gây bệnh khác như nhóm Vibrio spp. Nhưng lại ít tác động đến các quá
trình sinh trưởng của thực vật phù du. Tiếp sau đó nghiên cứu của Austin et al
(1995) cho thấy vi khuẩn Vibrio alginolyticus không là nguyên nhân gây hại cho
cá hồi mà ngược lại Vibrio alginolyticus còn có khả năng ngăn chặn khả năng
gây bệnh của các nhóm vi khuẩn như V. ordalii, V. anguillarum, A. salmonicida
và Y. ruckeri. Đây là những nghiên cứu quan trọng có ý nghĩa thực tiễn và làm
tiền đề để nâng cao vai trò của các nhóm vi sinh vật có lợi trong môi trường nuôi
thủy sản, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng sản xuất.
Dù Probiotic là rất quan trọng trong nuôi thủy sản. Tuy nhiên, việc sử dụng chế
phẩm sinh học còn phụ thuộc vào sự am hiểu về bản chất của các vi sinh vật có

bifidobacterium,… Dùng để bổ sung vi khuẩn sống vào đường ruột, giúp hổ trợ
tiêu hóa và phòng ngừa bệnh đường ruột. Sử dụng1-2 lần/ngày với liều lượng 1
kg/1-2 tấn thức ăn.
Enzyme feed bao gồm protease, cellulase, lipase, xylanase… Giúp nâng cao
hiệu quả sử dụng thức ăn, làm giảm hệ số chuyển đổi thức ăn cân bằng hệ vi sinh
đường ruột. Liều lượng 1 kg/1-2 tấn thức ăn, 1-2 lần/ngày. Sử dụng trong giai
đoạn cá từ 200-300 g đến thu hoạch.
Beta glucan 40 có thành phần từ 1-3,1-6 Beta-glucan 40%, giúp tăng cường
miễn dịch tự nhiên, tăng cường tác dụng điều trị của thuốc. Sử dụng suốt trong
các giai đoạn nuôi từ 1-2 lần/ngày với liều lượng 1 kg/1-2 tấn thức ăn.
Microcin có thành phần từ 3-Hydroxypropionaldehyde chiết suất lên men từ vi
khuẩn Lactobacillus sp. Giúp phòng một số bệnh do vi khuẩn như bệnh đốm đỏ,
viêm ruột, đốm trắng. Liều lượng 10-20 ml/1 kg thức ăn, 2 lần/ngày, dùng 3
lần/tuần.

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
14
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
− Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20/07/2008 đến 28/02/2009.
− Địa điểm nghiên cứu: phòng thí nghiệm Bộ môn Sinh học và bệnh thủy sản-
Khoa Thủy sản- Trường Đại học Cần Thơ.
3.2. Vật liệu nghiên cứu
3.2.1. Dụng cụ
− Ống nghiệm, đĩa petri thủy tinh, cốc thủy tinh.
− Que cấy, que trãi thủy tinh.
− Chai chịu nhiệt 100 ml, 250 ml, 500 ml.
− Micropipet 1 ml, hộp đầu col, ống eppendorf, cá từ.
− Đèn cồn, bình xịt cồn.

ictaluri medium (EIM), Pseudomonas isolation agar (PIA), thiosulfate citrate
bile salt sucrose agar (TCBS agar); môi trường triptone soya agar (TSA); môi
trường nutrient broth (NB) (5ml/ ống nghiệm) vô trùng (phụ lục 1).
Chuẩn bị các dụng cụ, hóa chất cần thiết khác trước khi phân tích mẫu như
micropipet, bình xịt cồn, đèn cồn, que trãi,…
3.3.2. Thu mẫu
Mẫu nước được thu từ 2 ao nuôi cá tra thâm canh ở Đồng Tháp. Một ao nuôi có
sử dụng chế phẩm sinh học, ao còn lại không sử dụng chế phẩm sinh học (đối
chứng). Chu kỳ thu mẫu là 1 tuần/lần, thu mẫu liên tục trong 6 tháng nuôi kể từ
ngày thứ 3 sau khi thả giống.
Mẫu nước được thu trong 5 chai nút mài trắng (đã tiệt trùng) tại 5 điểm cho mỗi
ao, ở độ sâu cách mặt nước khoảng 50 cm. Mẫu được giữ lạnh trong suốt thời
gian chuyển về phòng thí nghiệm và được phân tích trong vòng 3-5 giờ.
3.3.3. Phân tích mẫu
Chuyển mẫu nước về nhiệt độ phòng. Sau đó cho mẫu nước từ 5 chai nút mài của
mỗi ao vào chai 500 ml (đã tiệt trùng), trộn đều.
Pha loãng mẫu nước: Dùng pipet chuyển 1 ml từ chai 500 ml vào ống nghiệm
chứa 9 ml nước muối sinh lý thứ nhất (nồng độ 10
-1
). Sau đó trộn đều dung dich
vi khuẩn trong ống nghiệm. Sử dụng pipet với đầu col khác chuyển 1 ml dung
dịch từ ống nghiệm thứ nhất sang ống nghiệm chứa 9 ml nước muối sinh lý thứ
hai (nồng độ 10
-2
) và trộn đều dung dich vi khuẩn trong ống nghiệm. Lần lượt
pha loãng sang các nồng độ kế tiếp.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
16
Từ mẫu nước ban đầu trong chai 500 ml và các nồng độ pha loãng trong ống
nghiệm của mỗi ao, dùng micropipet hút 0,1 ml cho vào mỗi đĩa petri chứa môi

TNHH Công nghệ sinh học Nanogen khi sử Pond-clear với liều lượng 1 kg/5000
m
3
giúp phân hủy tốt các chất thải hữu cơ, loại trừ các khí độc, đặc biệt là hạn
chế mật số vi khuẩn gây hại trong ao nuôi. Kết quả sau 6 tháng nuôi cho thấy ở
ao nuôi có sử dụng CPSH thì mật số vi khuẩn Aeromonas, Pseudomonas,
Edwardsiella ictaluri nhìn chung thấp hơn so với ao đối chứng (Bảng 3.3).
4.1.2. Sự biến động tỷ lệ chết trong ao nuôi
Trong cả hai mô hình nuôi các thông số về diện tích, độ sâu, mật độ thả… hoàn
toàn giống nhau (Bảng 3.1), nhằm đánh giá sự tác động của các nhóm vi sinh vật
hữu ích đến môi trường nuôi.
Bảng 3.1 Các thông số kỹ thuật của hai mô hình nuôi
Thông số Ao nuôi đối chứng Ao nuôi sử dụng CPSH
Diện tích (m
2
) 6000 6000
Độ sâu mật nước (m) 3,5 3,5
Mật độ nuôi (con/m
2
) 60 60
Kích cỡ con giống (cm) 1,7 1,7
Trong suốt quá trình nuôi ở hai mô hình cho ăn thức ăn công nghiệp giống nhau,
hàm lượng đạm tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của cá nuôi. Kết quả từ Bảng
3.2 cho thấy tỷ lệ chết ở hai mô hình là không giống nhau, ao nuôi đối chứng có
tỷ lệ chết cao hơn so với ao nuôi có sử dụng chế phẩm sinh học.
Sự chênh lệch về tỷ lệ chết giữa các tháng ở hai mô hình nuôi nhìn chung cũng
không giống nhau và không theo qui luật nhất định. Nguyên nhân là do sự biến
động của các yếu tố môi trường, sự biến động của mật số vi khuẩn và tình hình
sức khoẻ của vật nuôi. Theo khảo sát của Nguyễn Tấn Duy Phong (2008) thì tỷ
lệ sống của cá tra có mối tương quan nghịch với mật độ thả nuôi. Tức là, mật độ

Tỷ lệ chết

(%)
Tháng thứ 1 24.857 6,90 22.414 6,23
Tháng thứ 2 224 0,06
454
0,13
Tháng thứ 3 584 0,16
17.108
4,75
Tháng thứ 4
1.366
0,38 1.324 0,37
Tháng thứ 5
28.444
7,90 2.857 0,79
Cuối tháng thứ 6

29.519 8,20 2.800 0,78
Tổng 84.994 23,6 46.957 13,0
Ao nuôi đối chứng
Tỷ lệ chết tổng cộng sau hơn 5 tháng nuôi là 23,6% nhưng không đồng nhất giữa
các tháng nuôi, cao nhất vào 2 giai đoạn tháng thứ nhất và tháng thứ 5 đến cuối
tháng thứ 6. Nguyên nhân về tỷ lệ chết của hai giai đoạn trên cũng khác nhau:
Tháng thứ nhất: do phương pháp thuần hóa cá chưa thật sự tốt, thả giống vào lúc
môi trường có nhiệt độ cao (10 giờ 30 phút), cũng có thể là do môi trường chưa
ổn định nên cá dễ bị sốc với môi trường mới. Vì vậy, để phòng tránh sự hao hụt
cá nuôi trong giai đoạn đầu, thì sau khi vận chuyển cá giống về ao nuôi cần thuần
hóa tốt để hạn chế cá hao hụt do sốc môi trường. Kết quả của Châu Hồng Thúy
(2008) khảo sát được có đến 95% số hộ cho rằng nguyên nhân làm cá hao hụt là

do môi trường đã ô nhiễm, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Việc sử dụng các chế phẩm sinh học không đúng theo qui trình và chế độ
thay nước cũng tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh tiếp xúc với cá nuôi.
Các thời điểm còn lại do môi trường nước tương đối ổn định, sự tác động của
CPSH làm cho môi trường ít biến động nên tỷ lệ cá hao hụt tương đối thấp
Điều này càng thể hiện rõ vai trò của môi trường nước trong ao nuôi thuỷ sản là
rất quan trọng, việc dùng các chế phẩm vi sinh để tăng cường nhóm vi khuẩn có
lợi, hạn chế nhóm vi khuẩn có hại trong môi trường ao nuôi; điều chỉnh các yếu
tố môi trường; tăng cường miễn dịch cho vật nuôi và phân huỷ các chất hữu cơ,
giảm ô nhiễm môi trường bên ngoài là rất cần thiết.
Từ đó cho thấy qui trình nuôi cá tra thâm canh có sử dụng CPSH đã cho kết quả
tương đối khả quan so với ao nuôi đối chứng về tỷ lệ sống của cá nuôi.

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
20
3.2. Hình thái khuẩn lạc của vi khuẩn phân lập trong trong môi trường
nước ở hai mô hình nuôi
Kết quả phân tích 54 mẫu nước (27 mẫu ở ao nuôi đối chứng và 27 mẫu ở ao
nuôi có sử dụng CPSH) cho thấy sự xuất hiện của 4 nhóm vi khuẩn Aeromonas,
Pseudomonas, E. ictaluri và Vibrio trên các môi trường chọn lọc (hình 3.1).
Vi khuẩn Aeromonas
Trong môi trường nước ao nuôi, nhóm vi khuẩn Aeromonas phát triển trên môi
trường Aeromonas agar có hình thái khuẩn lạc tương tự nhau: màu xanh, rìa
trong đều, 1-3 mm; màu xanh đục, không nhân, dạng lồi, tròn đều, 3 mm. Riêng
trong môi trường ao nuôi đối chứng cũng đã phân lập được vi khuẩn Aeromonas
có khuẩn lạc dạng màu vàng đục, không nhân, không rìa, tròn đều, 3-4 mm xuất
hiện với số lượng nhiều vào cuối vụ nuôi. Theo Từ Thanh Dung (2008) trên môi
trường TSA khuẩn lạc Aeromonas có màu kem đục, tròn, nhô cao, đường kính
khoảng 3-4 mm.


Vi khuẩn Vibrio
Trong suốt thời gian khảo sát nhóm vi khuẩn Vibrio trong môi trường nước cả 2
mô hình nuôi phân lập được trên môi trường TCBS agar dạng khuẩn lạc là màu
xanh đục, tròn đều, không nhân, không rìa, có kích thước 2-3 mm; đôi khi thấy
xuất hiện một số khuẩn lạc màu vàng, không rìa, kích thước từ 3-4 mm. Theo
Health Protection Agency (2004), trên môi trường TCBS agar nhóm vi khuẩn V.
cholerae, V. alginolyticus, V. fluvialis, V. metschnikovii có khuẩn lạc màu vàng,
kích thước thay đổi từ 2-5 mm tùy theo giống loài vi khuẩn. Trong khi đó, nhóm
vi khuẩn V. parahaemolyticus, V. vulnificus, V. mimicus có khuẩn lạc màu xanh,
kích thước 2-5 mm.
3.3. Sự biến động về mật số vi khuẩn trong môi trường nước ao nuôi
Qua Bảng 3.3 cho thấy trong môi trường nước ao nuôi ở hai mô hình thì mật số
vi khuẩn Aeromonas, Pseudomonas, Edwardsiella ictaluri và Vibrio phân lập
được tăng giảm không theo qui luật nhất định giữa các lần thu mẫu. Nhìn chung
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
22
mật số mỗi loại vi khuẩn trong môi trường ao nuôi đối chứng thường cao hơn ao
nuôi có sử dụng CPSH.
Trong 4 giống loài vi khuẩn đã khảo sát thì 2 nhóm vi khuẩn Aeromonas và
Pseudomonas luôn chiếm mật số vi khuẩn cao nhất trong suốt thời gian khảo sát,
còn nhóm vi khuẩn Edwardsiella ictaluri và Vibrio có mật số tương đối thấp,
một số lần thu mẫu không phân lập được vi khuẩn, đặc biệt là nhóm Vibrio.
3.3.1. Mật số vi khuẩn Aeromonas tổng cộng
Trong suốt thời gian khảo sát thì mật số vi khuẩn Aeromonas tổng cộng trong
môi trường nước ở mô hình nuôi đối chứng biến động trong khoảng 1,2 x 10
2
-
74,0 x 10
2
cfu/ml. Trong khi đó, mật số vi khuẩn Aeromonas ở ao nuôi có sử

thái màu vàng đục, không nhân, không rìa, tròn đều, 1-2 mm xuất hiện nhiều.
Cho thấy càng về sau môi trường ao nuôi đã có biểu hiện ô nhiễm nên mật số vi
khuẩn có độc lực mạnh tăng cao và chu kỳ thay nước giảm cũng tác động đến sự
biến động của mật số vi khuẩn trong ao nuôi.
Theo khảo sát của Trần Anh Dũng (2005) thì mật số vi khuẩn Aeromonas trong
ao nuôi biến động trong khoảng từ 7,7-98,5 x 10
2
cfu/ml, như vậy ở ao nuôi đối
chứng mật số vi khuẩn Aeromonas tổng số là tương đối thấp.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
23
Bảng 3.3: Mật số vi khuẩn trong nước ao nuôi đối chứng và ao nuôi sử dụng
CPSH

Ghi chú: Ao ĐC: Ao đối chứng (không sử dụng chế phẩm sinh học)
Ao CPSH: Ao sử dụng CPSH
“-“: Không có vi khuẩn ; “N”: Môi trường bị nhiễm

Ngày
Aeromonas
(x 10
2

cfu/ml)

E. ictaluri
(x 10
2

cfu/ml)

25/07/08 2,9 3,0

- - 3,2 1,2 - -
31/07/08
6,2 4,2 0,4 0,6 3,9 4,7 - -
07/08/08
1,5 3,5 0,1 0,8 2,1 1,5 - -
14/08/08
19,0 42,0 - - 33,0 75,0 0,1 0,5
21/08/08
42,0 60,0 - - 0,6 0,6 - -
28/08/08
50,0 55,0 0,8 1,0 11,4 13,9 0,5 0,7
04/09/08
1,2 3,2 0,3 0,5 0,6 1,6 - -
11/09/08
13,1 17,2 0,8 1,0 2,0 9,2 - -
18/09/08
37,0 29,0 N N 4,7 10,8 - 1,3
25/09/08
15,6 18,8 5,9 6,8 5,8 11,8 - -
02/10/08
3,1 4,4 N N 7,3 2,9 0,8 1,7
09/10/08
21,0 23,0 4,2 7,2 14,7 27,0 0,5 6,7
16/10/08
11,2 1,0 2,7 3,9 5,3 4,9 - 0,1
23/10/08
3,2 11,0 0,5 0,7 3,7 8,0 1,1 -
30/10/08

15/01/09
11,0 8,2
0,6 0,3 14,0 6,4
- -
22/01/09
12,0 8,4
4,9 3,5 6,8 6,4
- -
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version

Trích đoạn Mật số vi khuẩn Edwardsiella ictaluri tổng cộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status