1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304 KHẢO SÁT KHÍA CẠNH KINH TẾ - KỸ THUẬT
TRONG AO NUÔI CÁ TRA THÂM CANH
Ở PHỤNG HIỆP - HẬU GIANG Sinh viên thực hiện:
LÊ THỊ HỒNG VẸN
MSSV: 0753040111
Nuôi trồng thủy sản 2
Nuôi trồng thủy sản 2 Cần Thơ, 2011
3XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ ĐỀ CƯƠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Đề tài: Khảo sát khía cạnh kinh tế - kỹ thuật trong ao nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) thâm canh ở huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hồng Vẹn
Lớp: Nuôi trồng thủy sản K2.
Đề tài đã được hoàn thành theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và hội đồng bảo vệ
khóa luận tốt nghiệp, Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Đại Học Tây Đô. Cần Thơ, ngày……tháng…….năm 2011
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS. TẠ VĂN PHƯƠNG LÊ THỊ HỒNG VẸN
không tránh khỏi những sai sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô
và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!
LÊ TH
Ị HỒNG VẸN5
TÓM TẮT
6
CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết chuyên đề này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của
tôi trong khuôn khổ của đề tài “
Khảo sát khía cạnh kinh tế - kỹ thuật trong ao nuôi
cá tra thâm canh ở Phụng Hiệp – Hậu Giang”
và các kết quả của nghiên cứu này
chưa được dùng cho bất cứ chuyên đề cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Ký tên
LÊ THỊ HỒNG VẸN
2.2.7 Vận chuyển và thả giống 7
2.2.8 Thức ăn cho cá nuôi thương phẩm 7
2.2.9 Cho cá ăn 8
2.2.10 Quản lý ao nuôi 8
2.2.11 Thu hoạch 8
2.3 S
ơ lược về tình hình nuôi cá da trơn 8
2.3.1 Tình hình nuôi cá da trơn trên thế giới 8
8
2.3.2 Tình hình nuôi cá da trơn ở Việt Nam 9
2.3.3 Tình hình nuôi cá da trơn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 11
2.3.4 Vài nét về Hậu Giang và ngành thủy sản ở Phụng Hiệp - Hậu Giang 12
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Thời gian và địa điểm 17
3.2 Vật liệu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Thu nhập thông tin thứ cấp 17
3.3.2 Thu nhập thông tin sơ cấp 17
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Thông tin chung về hộ nuôi cá tra ở huyện Phụng Hiệp – Hậu Giang 19
4.1.1 Độ tuổi, giới tính 19
4.1.2 Trình độ học vấn 19
4.1.3 Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn 20
4.1.4 Lao động tham gia sản xuất thủy sản 21
4.2 Thông tin về kỹ thuật nuôi cá tra thâm canh ở Phụng Hiệp – Hậu Giang 22
4.2.1 Diện tích ao nuôi cá tra 22
4.2.2 Công tác sên vét và chuẩn bị ao 22
Bảng 4.6: Các chi phí trong ao nuôi cá tra (triệu đồng/ha/vụ) 33
Bảng 4.7: Hiệu quả của mô hình nuôi cá tra thâm canh 34
10DANH SÁCH HÌNH
Hình 4.1: Cơ cấu các nhóm tuổi của các hộ nuôi cá tra ở Phụng Hiệp - HG 19
Hình 4.2: Trình độ học vấn của các hộ nuôi cá tra đã được khảo sát 20
Hình 4.3: Trình độ chuyên môn nuôi cá tra 20
Hình 4.4: Kinh nghiệm nuôi cá tra thâm canh trong ao 21
Hình 4.5: Diện tích ao nuôi cá tra ở Phụng Hiệp – Hậu Giang (ha) 22
Hình 4.6: Tần suất sên vét ao của các nông hộ 23
Hình 4.7: Tỷ lệ phần trăm nguồn gốc con giống thả nuôi 24
Hình 4.8: Thời điểm thả giống của các nông hộ 24
Hình 4.9: Các bệnh chủ yếu xuất hiện trên cá tra trong quá trình nuôi 28
Hình 4.10: Một số thuốc chủ yếu để phòng và trị bệnh trên cá tra 29
Hình 4.11: Sự tương quan giữa cỡ giống thả và tỷ lệ sống của cá nuôi 31
Hình 4.12: Sự tương quan giữa mật độ, tỷ lệ sống và CP thuốc/hóa chất 31
Hình 4.13: Tỷ lệ phần trăm các khoản chi phí trong ao nuôi cá tra 32 11
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
(Pangasianodon hypophthalmus) thâm canh ở huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu
Giang” được thực hiện.
12
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài được tiến hành để khảo sát và phân tích các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật nuôi của
mô hình nuôi cá tra nhằm làm cơ sở khoa học giúp tìm ra những mặt ưu điểm và mặt
hạn chế của từng đối tượng nuôi qua đó giúp phát triển nghề nuôi cá tra ở ĐBSCL nói
chung và ở huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang nói riêng một cách hiệu quả và bền
vững.
1.3 Nội dung đề tài
Đánh giá hiện trạng nghề nuôi cá tra tại Phụng Hiệp – Hậu Giang qua kết quả
thu thập từ các cơ quan liên quan và các hộ nuôi cá tra.
Phân tích khía cạnh về kinh tế và kỹ thuật của ao nuôi cá tra tại huyện Phụng
Hiệp.
Đề xuất giải pháp khắc phục các vấn đề tồn tại trong nuôi cá tra taị huyện Phụng
Hiệp phù hợp cho từng đối tượng nuôi.
13
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra
2.1.1 Đặc điểm phân loại
Theo hệ thống phân loại của Mai Đình Yên và csv., (1992) cá tra thuộc:
Ngành: Chordata
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Khi tiêu hết noãn hoàng là cá tích cực tìm mồi ăn tảo, luân trùng (rotifer), trứng nước
(moina, daphnia), cá tra bột cũng ăn các loại mồi ăn có kích thước nhỏ và mịn như
bùn bã thực vật, bột bã ngũ cốc (Nguyễn Chung, 2008).
Cá tra bột thích ăn mồi tươi sống, chúng ăn thịt lẫn nhau sau khi mới nở được vài
ngày và chúng vẫn tiếp tục ăn lẫn nhau nếu như không kiếm được mồi ăn (Nguyễn
Chung, 2008). Do đó phải kịp thời thả ra ao ương và tạo được thức ăn tự nhiên trong
ao ương trước khi thả cá bột để khi cá thả xuống là có ngay thức ăn, hạn chế được sự
ăn lẫn nhau của chúng (Trung tâm khuyến ngư quốc gia, Bộ Thủy Sản, 2005).
Những kết quả nghiên cứu và thực nghiệm cho biết sau khi nở 60 - 62 giờ cá tra đã có
răng, có khả năng bắt mồi nên chúng sẽ ăn lẫn nhau nếu giữ lâu trên bồn ấp với mật
độ cao. Tính hung dữ của cá tra giảm dần sau khoảng 10 ngày tuổi thì khả năng sát hại
nhau không đáng kể (Nguyễn Văn Kiểm, 2004).
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, cá nhỏ tăng trưởng nhanh về chiều dài,
cá 2 tháng tuổi đã đạt chiều dài 10-12 cm nặng 14-15 g/con. Cá từ khỏang 0,3–0,4
kg/con thì tăng nhanh về chiều dài cũng như trọng lượng, cá từ khoảng 2,5 kg trở đi
mức tăng trọng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể và cá trên 10 năm tuổi tăng
trọng rất ít. Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm. Ðã gặp những con cá có
chiều dài tới 1,8 m nặng 30 kg/con. Tùy thuộc môi trường sống và sự cung cấp thức
ăn cũng như loại thức ăn có hàm lượng đạm nhiều hay ít mà tốc độ tăng trưởng nhanh
hay chậm. Ðộ béo Fulton của cá tăng dần theo trọng lượng và nhanh nhất ở những
năm đầu, cá đực thường có độ béo cao hơn cá cái và độ béo thường giảm đi khi vào
mùa sinh sản (Nguyễn Chung, 2008).
15
Cá tra lớn nhanh khi nuôi trong ao, sau 6 tháng cá đạt trọng lượng 1–1,2 kg/con, trong
những năm sau lớn nhanh hơn. Nuôi cá trong ao đất có thể đạt đến 25 kg ở 10 tuổi
(Dương Nhựt Long, 2004).
2.1.6 Điều kiện môi trường
trong ao đất. Số lượng trứng đếm được trong buồng trứng, sức sinh sản tuyệt đối của
cá tra từ vài trăm ngàn đến vài triệu trứng. Sức sinh sản tương đối có thể tới 135.000
trứng/kg cá cái. Trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính, trứng sắp đẻ có đường
kính 1,1–1,3 mm, sau khi đẻ ra và trương nước đường kính trứng có thể tới 1,5–1,6
mm. Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng có chiều dài 1,3 – 1,6 mm. Hệ số thành thục
của cá đực là 1–3% và ở cá cái có thể đạt tới 20% (Nguyễn Chung, 2008).
16
2.2 Kỹ thuật nuôi cá tra trong ao
2.2.1 Địa điểm nuôi
Ao nuôi cá tra phải được đặt gần nguồn cấp nước tốt (sông, kênh rạch), tránh xa các
nguồn gây ô nhiễm, khu công nghiệp. Ao không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Độ phèn
(pH) của nước trung tính và dao động từ 7 – 8.5. Ao phải gần nhà để tiện quản lý và
chăm sóc (Dương Nhựt Long, 2004).
2.2.2 Thiết kế ao nuôi
Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của từng nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện
tích dao động từ 1.000 – 3.000 m
2
trở lên. Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao
phải được gia cố chắc chắn, và phải thiết kế lưới bao quanh ao. Tùy theo cơ cấu đất
của vùng nuôi, độ sâu của ao nuôi có thể thiết kế dao động từ 1,8 – 2,4 m. Ao phải có
cống cấp và thoát nước. Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 3 -4 lần
chiều ngang. Trong ao nuôi cá tra nên thiết kế một hay nhiều nơi cho cá ăn, đó là các
sàn cho cá ăn. Việc này sẽ giúp ích cho việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức
ăn. Sàn ăn có thể được làm bằng tre, tràm hay các loại gỗ khác (Dương Nhựt Long,
2004).
2.2.3 Chuẩn bị ao nuôi
Theo Dương Nhựt Long (2004) trước khi thả cá vào ao phải được sên, vét hết lớp bùn
đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá. Bón vôi bột với
Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng: lưng xanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc
theo thân phải rõ ràng. Cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn. Cá không bị
xây xát, các vi không bị rách (Dương Nhựt Long, 2004).
2.2.7 Vận chuyển và thả giống
Theo Dương Nhựt Long (2004) thì cá tra có thể vận chuyển hở bằng các dụng cụ như
xô nhựa, chậu trong trường hợp gần hoặc vận chuyển bằng cách đóng trong bao có
oxygen trong trường hợp đi xa. Vận chuyển cá lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm
hay chiều tối. Ngâm bao chứa cá trong ao khoảng 15 phút sau đó mới mở bao, cho
nước ao vào bao để cá tự bơi ra. Trường hợp vận chuyển bằng thùng hay xô cũng cho
nước ao vào từ từ tránh thả cá trực tiếp ra ao.
2.2.8 Thức ăn cho cá nuôi thương phẩm
Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Thức ăn cho cá nuôi thịt
có hàm lượng đạm (protein) thích hợp dao động từ 18 – 28 %. Có thể phối chế bằng
các nguyên liệu có sẵn tại địa phương (Dương Nhựt Long, 2004). Theo Nguyễn
Chung (2008) nhu cầu dinh dưỡng của cá tra nuôi thịt, trong 2 tháng đầu mới thả là
thức ăn có hàm lượng đạm 28 – 30%, các tháng tiếp theo giảm dần lượng đạm xuống
25 – 26% và 2 tháng cuối cùng thức ăn có lượng đạm 20 – 22%.
Có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp tự chế biến và thức ăn công nghiệp với kích cỡ 6 mm,
8 mm, 10 mm và 12 mm cho cá ăn. Thức ăn hỗn hợp tự chế gồm cám gạo, tấm, trộn
chung với bột cá lạt, tỷ lệ bột cá chiếm khoảng 50% còn lại là cám gạo và vitaminC,
premix vitamin và khoáng giúp cá tăng sức đề kháng tốt (Nguyễn Chung, 2008).
Nếu không có điều kiện ép viên thức ăn, có thể trộn và vắt thức ăn thành từng viên
bằng tay để cho cá ăn. Có thể sử dụng bột keo hoặc bột mì (không nên sử dụng bột
gòn vì sẽ làm cho thịt cá có màu vàng) làm chất kết dính để hạn chế sự tan rã của thức
ăn trong nước. Nên bổ sung khoảng 1 - 2 % các loại premix khoáng và Vitamin C (60
– 100 mg/kg thức ăn) vào thức ăn mỗi tuần 2 lần để giúp cá có sức đề kháng tốt với
các loại bệnh. Các loại thức ăn dạng ẩm sử dụng để nuôi cá tra sau khi chế biến phải
được cho cá ăn ngay trong ngày, vì thức ăn ẩm rất dễ bị hư do tác động của các vi sinh
vật. Hạn chế sử dụng các loại nguyên liệu thực vật có nhiều sắc tố (Carotenoid) như
bột bắp vàng, rau muống vì các loại sắc tố này sẽ tích trữ lại trong thịt cá và làm cho
Cá tra nuôi trong ao đất sau 6 tháng thì có thể thu hoạch. Phương thức thu hoạch tốt
nhất là đánh bắt bằng lưới và thu hoạch một lần, sau đó tát cạn ao để để bắt hết số cá
còn lại đồng thời chuẩn bị cho vụ nuôi sau. Trong lượng cá tra nuôi lúc bấy giờ có thể
đạt từ 1 - 1,2 kg/con (Dương Nhựt Long, 2004).
2.3 Sơ lược về tình hình nuôi cá da trơn
2.3.1 Tình hình nuôi cá da trơn trên thế giới
Ở Thái Lan và Campuchia thì cá Pangasiuc sutchi được nuôi trong ao và bè. Từ xưa,
nhóm cá Pangasius được nuôi trong những bè nổi bằng tre ở Thái Lan và Campuchia.
Hệ thống nuôi này được áp dụng ở Châu Âu và Mỹ ( Pillay, 1990, trích Trần Minh
Đức (2010)). Trước đây, nhu cầu về sản phẩm cá da trơn đối với người dân Mỹ còn
rất hạn chế, sau khi các chiến dịch tiếp thị của các trại nuôi cá da trơn và doanh nghiệp
chế biến thủy sản thì nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ cá da trơn tăng lên.
19
Nếu như năm 1970 các nhà nuôi cá ở Mỹ chỉ sản xuất 2.580 tấn thì đến năm 2001 đã
lên tới 271.000 tấn. Các trại nuôi cá da trơn chủ yếu tập trung ở đồng bằng sông
Missisipi, Alabama, Arkansas và Louisiana (Nguyễn Xuân Thành, 2003, trích Trần
Minh Đức (2010)).
Cá tra và cá basa là hai loài cá có giá trị kinh tế cao và được nuôi phổ biến ở hầu hết
các nước Đông Nam Á và là một trong những loài cá nuôi quan trọng nhất trong khu
vực này. Ba nước trong khu vực hạ lưu sông Mekong có nghề nuôi cá tra truyền thống
là Campuchia, Thái Lan và Việt Nam do có nguồn cá tự nhiên phong phú. Một số
nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ thập
niên 70 – 80 của thế kỷ XX (Phân viện kinh tế và qui hoạch thủy sản thành phố Hồ
Chí Minh, 2006, được trích bởi Trần Minh Đức (2010)).
Theo Csavat (1995), ở Campuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài họ cá
tra, chỉ có 2% là cá basa và cá vồ đém, sản lượng cá tra nuôi chiếm một nửa tổng sản
lượng các loài cá nuôi và tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi cá nhiều nhất, có 50% số
trại nuôi cá tra. Ở Lào, có 11 loài trong giống cá tra được nuôi và cá tra nuôi cùng với
Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ. Sau đó, các loài cá khác cũng đã được sinh sản
nhân tạo thành công như: Pangasianodon hypophthalmus, P. conchophilus. Các thành
công về sinh sản nhân tạo các loài cá da trơn có sự đóng góp của các nghiên cứu từ dự
án Cá Trơn Châu Á (Nguyễn Thị Huyền, 2008).
Theo nhận định của VASEP (2004) thì thị trường cho sản phẩm cá tra cũng đang gia
tăng mạnh, thay vì chỉ phụ thuộc chủ yếu vào thị trường Mỹ thì nay thị trường luôn
được mở rộng sang thị trường châu Âu (EU), Nga, các nước Đông Nam Á (ASEAN),
Trung Quốc và các nước khác. Ngay cả thị trường Mỹ đang được phục hồi mạnh mẽ.
Theo Bùi Quang Tề (2006) thì nuôi trồng thủy sản đang trở thành một ngành kinh tế
mũi nhọn trong nền kinh tế của Việt Nam. Sản lượng năm 2005 đạt 1.437.400 tấn,
tăng 19,53% so với năm trước, trong đó tập trung vào một số đối tượng như tôm sú,
tôm thẻ chân trắng, cá tra, cá ba sa, cá rô phi và một số loài đặc sản khác. Năm 2005,
kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 2,65 tỷ USD, bằng 106% chỉ tiêu kế hoạch do Ðại
hội Ðảng lần thứ IX đề ra, tăng 10,38% so với năm 2004, đưa tổng giá trị kim ngạch
xuất khẩu của cả kỳ kế hoạch năm năm 2001- 2005 lên 11,068 tỷ USD, đạt tốc độ tăng
trưởng bình quân 10,5%/năm.
Theo tổ chức ngư nghiệp toàn cầu (Globefish), năm 2006 sản lượng cá da trơn (gồm
cá tra và cá basa) của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh và đạt kỷ lục mới. Giai đoạn 1997
– 2005, sản lượng cá da trơn của Việt Nam đã đạt bước tăng trưởng ấn tượng, nhảy
vọt từ 22.000 tấn năm 1997 lên đạt 376.000 tấn vào năm 2005 (được trích bởi Nguyễn
Ngọc Hiển, 2007)
Theo Trần Minh Phú và Nguyễn Thanh Phương (2007) sản lượng cá tra trong những
năm gần đây tăng lên đáng kể. Từ năm 2004 sản lượng cá tra là 315.000 tấn, năm
2005 là 376.000 tấn, năm 2006 là hơn 800.000 tấn tăng lên hơn 485.000 tấn (tăng
15,4%). Sản lượng năm 2006 tăng gấp 2,54 lần sản lượng năm 2004 (Nguyễn Tử
Cương, 2007).
Theo Bộ Thủy sản (2006) thì sau hai năm 2004 - 2005 diện tích nuôi cá tra tăng lên
34,5% (414.500 ha) tăng gấp 1,35 lần, trong khi đó sản lượng cá tra tăng gấp 2,54 lần.
Điều này chứng tỏ rằng năng suất cá tra nuôi được nâng cao do thâm canh hóa nhanh
hơn so với mở rộng diện tích. Cá tra Việt Nam đã đạt khi kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ
Năng suất nuôi tăng vọt do sự thâm canh hóa và sản lượng có thể đạt đến 166 kg/m
3
nuôi bè, 345 tấn/ha nuôi đăng quầng và 212 tấn/ha nuôi ao (Nguyễn Thanh Phương và
csv., 2004). Hiện nay, theo NACA (2008), được trích bởi Nguyễn Thị Huyền (2008)
cho rằng diện tích và sản lượng cá ba sa và cá tra phát triển nhanh, mật độ nuôi cũng
được nâng lên thời gian nuôi là 6 tháng và năng suất trung bình đạt 300-400 tấn/ha/vụ,
có hộ đạt năng suất 700 tấn/ha/vụ.
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu từ mặt hàng cá tra của Việt Nam đạt 1,453 tỷ USD,
chiếm gần 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Thị trường xuất khẩu cá tra cũng
22
tăng lên từ hơn 100 nước (năm 2007) lên gần 130 nước (năm 2009) (Trí Quang,
2010).
Theo thông tin thống kê hàng tháng của tổng cục thống kê năm 2010 cho biết tình
hình nuôi cá tra trong năm 2010 nhìn chung vẫn gặp nhiều khó khăn do giá cá nguyên
liệu và thị trường tiêu thụ không ổn định. Diện tích thả nuôi cá tra năm 2010 giảm 5%
so với năm 2009. Một số địa phương có diện tích thả nuôi cá tra giảm nhiều là: Cần
Thơ giảm 13,6%; An Giang giảm 9%; Bến Tre giảm 8,1%. Sản lượng cá tra thu hoạch
năm 2010 đạt khoảng 1 triệu tấn, giảm 1,8% so với năm 2009. Các địa phương có sản
lượng cá tra giảm nhiều là: Hậu Giang giảm 47,8% so với năm 2009; Cần Thơ giảm
11,4%; An Giang giảm 5,6%.
Bộ NN-PTNT (2010) cho biết năm 2010 các tỉnh ĐBSCL sẽ xuất khẩu 600.000 tấn cá
tra, trị giá 1,5 tỉ USD, tăng gần 160 triệu USD so với năm 2009, diện tích nuôi cá tra
năm 2010 khoảng 5.420 ha đạt 90,3% kế hoạch năm, dù diện tích giảm nhưng nhờ áp
dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất nên sản lượng cá thu hoạch đạt
1.141.000 tấn, bằng 104,6% so năm 2009. Mục tiêu trong năm 2011, tổng sản lượng
cá giống sản xuất toàn vùng ĐBSCL đạt sản lượng từ 2,5 đến 2,6 tỷ con giống các
loại, diện tích nuôi đạt 6.300 ha, sản lượng ước đạt từ 1,2 đến 1,3 triệu tấn, kim ngạch
Danh mục Đvt 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng diện tích NTTS ha 7.234
8.305
8.880
7.385,5
8.371,5
Nuôi cá - 7.066
8.154
8.750
7.334
8.316,5
Nuôi tôm - 168
151
130
51,5
55
Tổng sản lượng 10.989
15.804
21.811
25.570
31.851
Nuôi cá 10.954,2
15.757,8
21.775,6
25.544,1
31.824
Nuôi tôm 34,8
46,2
35,4
25,9
27
2020
Tổng diện tích NTTS ha
11.000
16.000
20.000
Tổng sản lượng thủy sản tấn
79.510
181.600
290.880
Sản lượng nuôi trồng thủy sản tấn
76.630
178.720
287.470
(Nguồn: Báo cáo tóm tắt tỉnh Hậu Giang, 2010)
(Nguồn: Báo cáo tóm tắt tỉnh Hậu Giang, 2010)
Từ Bảng 2.4 cho thấy dự kiến đến năm 2015 diện tích nuôi cá tra là 960 ha và sản
lượng là 144.000 tấn, như vậy nếu thả giống với mật độ trung bình là 52 con/m
2
thì
cần phải có khoảng 500 triệu con giống và 240.480 tấn thức ăn cho cá tra và đến năm
2020 ước tính số lượng con giống thả nuôi là 832 triệu con và khoảng 400.800 tấn
thức ăn để đáp ứng cho các hộ nuôi với tổng diện tích nuôi cá tra là 1.600 ha và sản
lượng là 240.000 tấn.
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Phụng Hiệp 48.528 ha, chiếm 30% diện tích tự
nhiên của toàn tỉnh. Huyện Phụng Hiệp nằm gần với sông Hậu và có nhiều kênh trục
chạy qua, đồng thời quy mô đất đai và dân số của huyện lớn, có thể xem là tiềm năng
và lợi thế lớn cho phát triển kinh tế xã hội.
25
Tổng diện tích NTTS Huyện Phụng Hiệp tăng liên tục trong giai đoạn 2003 - 2007 từ
3.108 ha năm 2003 tăng lên 3.853 ha vào năm 2007, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân
là 4,5%. Trong đó chủ yếu là sự tăng trưởng của diện tích nuôi cá với tốc độ tăng BQ
1
năm là 6,2%, diện tích nuôi tôm Càng Xanh lại có xu hướng giảm mạnh liên tục với
tốc độ giảm BQ 42,6%. Theo đó, sản lượng NTTS cũng không ngừng tăng từ 3.357
tấn vào năm 2003 đến năm 2007 tăng lên 10.192 tấn. Riêng năm 2007, toàn huyện có
tổng diện tích nuôi cá tra là 25 ha chiếm 19,8% tổng diện tích nuôi cá tra toàn tỉnh
Hậu Giang (Báo cáo tóm tắt tỉnh Hậu Giang, 2009).
Bảng 2.5: Quy hoạch nuôi trồng thủy sản huyện Phụng Hiệp đến năm 2020
Danh mục Đvt
tăng lên 23.222 tấn năm 2015 và đến năm 2020 là 24.788 tấn.
Phòng NN&PTNT huyện Phụng Hiệp năm 2010, cho rằng, phong trào nuôi thủy sản
của huyện đang có xu hướng mở rộng. Đây là một hướng đi mới, tạo động lực mạnh
mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển. Trong tương lai huyện sẽ chú trọng
tăng diện tích nuôi thủy sản, vì mô hình này sẽ giúp gia tăng thu nhập cho bà con nông
dân. Phong trào nuôi cá ruộng phát triển, không chỉ góp phần bảo vệ môi trường mà
còn cải tạo đất, tăng năng suất lúa, nhẹ chi phí đầu tư khi gieo sạ lại. Huyện luôn
khuyến cáo nông dân trồng 2 vụ lúa - xen 1 vụ cá hoặc 2 vụ lúa - 1 vụ màu để hạn chế
sâu bệnh có điều kiện phát triển và gây hại. Tuy nhiên, để phong trào nuôi thủy sản
luôn phát triển mạnh, các cơ quan chức năng cần quan tâm, hỗ trợ hơn nữa về kỹ
thuật, nhất là xây dựng các mô hình mới để đa dạng các mô hình thủy sản phù hợp với
từng địa phương (Văn Lang, 2010). Theo báo cáo của phòng NN và PTNT huyện
Phụng Hiệp thì năm 2010 toàn huyện có diện tích cá thả nuôi là 3.188,13 ha vượt kế
hoạch (KH) đề ra là 3.100 ha, đạt 102,84% kế hoạch. Sản lượng đạt 3.999 tấn/KH
20.336 tấn, đạt 152,4% KH. Trong đó diện tích thả nuôi cá tra là 90,78 ha, đạt sản
1
BQ là từ viết tắt của từ bình quân