Chất lượng nước và tích lũy vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) thâm canh ở quận ô môn, thành phố cần thơ - Pdf 67

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CAO VĂN THÍCH

CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ TÍCH LŨY VẬT CHẤT DINH
DƯỠNG TRONG AO NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon
hypophthalmus Sauvage, 1878) THÂM CANH Ở QUẬN Ô
MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Thủy sản, Phòng Đào tạo Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện để tôi
được học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ trong những năm qua.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy hướng dẫn, PGs.Ts Trương Quốc
Phú đã động viên, giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt thời
gian học tập cũng như khi thực hiện đề tài và viết luận văn.
Chân thành cảm ơn công ty thủy sản Sông Hậu, anh Huỳnh Trường Giang, chị
Nguyễn Lê Hoàng Yến về sự quan tâm và giúp đỡ trong thời gian tôi thực hiện
đề tài.
Xin gởi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô giảng dạy đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi được học tập và đã tận tâm truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức
chuyên môn trong suốt thời gian học tập.
Cám ơn các anh, chị lớp Cao học Thủy sản khóa 12 đã cùng tôi đoàn kết, gắn
bó vượt qua chặng đường dài trong học tập.
Có được sự thành công trong ngày hôm nay là nhờ phần đóng góp và động
viên không kể hết của gia đình tôi, xin được ghi ơn tất cả những người thân.
ii
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM TẮT

Đề tài Chất lượng nước và tích lũy vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi cá tra
thâm canh đã được thực hiện trên 3 ao nuôi có diện tích 1000m
2
/ao, tại công ty
thủy sản Sông hậu, huyện Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Trọng lượng và mật độ
cá thả nuôi trung bình ở 3 ao là 20g/con và 48 con/m
2
. Thức ăn sử dụng dạng
viên nổi chứa 26% đạm. Trong 3 tháng đầu cho ăn 3 lần/ngày với khẩu phần
10 – 12% trọng lượng thân, từ tháng thứ 4 cho ăn 1 lần/ngày với khẩu phần
theo nhu cầu của cá. Trao đổi nước được thực hiện tùy theo môi trường ao
nuôi và nguồn nước cấp.
Kết quả cho thấy, các hộ hầu hết người dân nuôi có học vấn thấp, không được
tập huấn kỹ thuật (87%). Tất cả hộ nuôi đều không có hệ thống xử lý nước
thải, nước thải được xả trực tiếp ra sông hoăc kênh. Các chỉ tiêu môi trường
trong các ao khảo sát đều nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên, chỉ tiêu
COD, TN, TSS vượt quá mức B tiêu chuẩn nước thải của Việt Nam (TCVN
5945: 2005).

parameters were almost lower than standards but COD, TN and TSS were
over level B of national standard, TCVN 5945: 2005. The dry matter, nitrogen
and phosphorus were accumulated in fishes 32.6%, 42.7% and 29.8%,
respectively. The dry matter was dispersed to environment 67.4%, 5%
dissolved in water and 45.6% deposited in sediment and 16.7% lost by
evaporation or leaking out. Similarly, nitrogen was dispersed to environment
57.3%, 5.4% dissolved in water and 50.4% deposited in sediment and 1.5%
lost by evaporation or leaking out. Phosphorus was also dispersed to
environment 70.2%, 1.8% dissolved in water and 64.5% deposited in sediment
and 3.9% lost by evaporation or leaking out. In order to produce one kilogram
of fish, it is necessary supplying 1,420 g dry matter in which content 43.8 g
nitrogen and 18 g phosphorus. The accumulation of dry matter, nitrogen and
phosphorus in fish was 490 g and 18.3 g and 5.2 g, respectively. So the
dispersion of dry matter, nitrogen and phosphorus into environment was 920 g
and 25.2 and 12.6 g, respectively.
Title: Water quality parameters and balance of nutrient matters in striped catfish (Pangasianodon
hypophthalmus) intensive culture ponds iv
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
Trang phụ bìa……………………………………………………………….. i
Lời cảm tạ………………………………………………….. ……………. ii
Tóm tắt ……………………………………………………………………... iii
Abtract ……………………………………………………………………….iv
Mục lục……………………………………………………………………….v

3.2.3 Xác định lượng vật chất dinh dưỡng, chất thải thải ra từ hệ thống nuôi
cá……………………………………………………………………………. 22
3.2.4 Phương pháp thu và phân tích………………………………………. 25
3.2.5 Phương pháp tính toán và xử lý số liệu………………………………25
CHƯƠNG 4…………………………………………………………………. 28
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN………………………………………………. 28
4.1 Tình hình nuôi cá tra thâm canh trong ao tại quận Ô Môn – Cần Thơ….. 28
4.1.1 Tổng quan về mô hình nuôi…………………………………………. 28
4.1.2 Các thông tin chung về hộ nuôi………………………………………28
4.1.3 Thông tin về kỹ thuật ……………………………………………….. 31
4.2 Biến động các yếu tố môi trường trong ao nuôi cá tra thâm canh……… 38
4.2.1 Các yếu tố vật lý……………………………………………………...38
4.2.2 Các yếu tố hóa học…………………………………………………... 39
4.2.3 Các yếu tố hóa học của bùn đáy ao………………………………….. 50
4.2.4 Chất lượng nước ao trước khi thả nuôi và sau khi thu hoạch cá……..53
4.3 Tích lũy vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi……………………………... 54
4.3.1 Phân bố đạm và lân trong ao nuôi……………………………………54
4.3.2 Cân bằng dinh dưỡng trong ao nuôi………………………………… 60
CHƯƠNG 5…………………………………………………………………. 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT………………………………………………… 63
5.1 Kết luận………………………………………………………………….. 63
5.2 Đề xuất…………………………………………………………………... 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………65
PHỤ LỤC…………………………………………………………………… 74 vi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong dạ dày cá tra trong tự nhiên……………5

Hình 2.2 Diện tích nuôi cá tra ao, hầm ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng
Tháp, Bến Tre từ năm 2005 đến 2007..............................................................8
Hình 2.3 Sản lượng nuôi cá tra ao, hầm ở cá tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng
Tháp, Bến Tre từ năm 2005 đến 2007………………………………………. 8
Hình 3.1 Sơ đồ thu mẫu bùn đáy ao…………………………………………23
Hình 4.1 Phân bố nhóm tuổi lao động trong hoạt động nuôi cá tra…………. 30
Hình 4.2 Phân bố trình độ học vấn trong hoạt động nuôi cá tra…………….. 31
Hình 4.3 Kiến thức chuyên môn của nông hộ nuôi cá tra…………………... 32
Hình 4.4 Mùa vụ thả nuôi trong năm………………………………………. 33
Hình 4.5 Diện tích ao nuôi cá tra tại vùng nghiên cứu……………………… 34
Hình 4.6 Mật độ thả nuôi tại vùng nghiên cứu……………………………… 35
Hình 4.7 Loại thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi tại vùng nghiên cứu…... 37
Hình 4.8 Biến động nhiệt độ qua các tháng nuôi…………………………… 39
Hình 4.9 Biến động pH qua các tháng nuôi………………………………… 40
Hình 4.10 Biến động DO qua các tháng nuôi……………………………….. 41
Hình 4.11 Biến động COD qua các tháng nuôi……………………………... 42
Hình 4.12 Biến động TAN qua các tháng nuôi……………………………....43
Hình 4.13 Biến động N – NO2 qua các tháng nuôi..........................................44
Hình 4.14 Biến động N – NO3 qua các tháng nuôi..........................................46
Hình 4.15 Biến động TKN qua các tháng nuôi............................................... 47
Hình 4.16 Biến động TN qua các tháng nuôi.................................................. 48
Hình 4.17 Biến động P – PO4 qua các tháng nuôi...........................................49
Hình 4.18 Biến động TP qua các tháng nuôi....................................................50
Hình 4.19 Biến động TSS qua ác tháng nuôi...................................................51
Hình 4.20 Biến động OSS qua các tháng nuôi.................................................51
Hình 4.21 Biến động % OSS............................................................................52
Hình 4.22 Biến động TN của bùn đáy qua các tháng nuôi...............................53
Hình 4.23 Biến động TP của bùn đáy qua các tháng nuôi...............................54
viii
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ix
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứuTrung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1
Chương 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm qua, thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của cả
nước. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm tăng từ 15 – 20%, đặc biệt là lĩnh vực
nuôi trồng thủy sản, năm 2006, Việt Nam đứng hàng thứ 3 trên thế giới về nuôi
trồng thủy sản và là một trong những nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất trên thế
giới (Trung tâm Tin học - Bộ Thủy sản, 2007). Tổng sản lượng nuôi thủy sản Việt
Nam gia tăng từ 389.100 tấn vào năm 1995 đến 1.437.400 tấn vào năm 2005 (Bộ
Thủy sản, 2006)
Đồng bằng sông Cửu Long vốn là vùng trọng điểm về sản xuất nông nghiệp và
thủy sản của cả nước, chiếm khỏang 55 – 60% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản
và hơn 60% tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước (Bộ Thủy sản, 1995 –
2005). Các đối tượng nuôi thủy sản ở ĐBSCL tương đối đa dạng gồm các loài cá
bản địa (rô đồng, lóc, bống tượng, trê, tra, basa,..) và cá nhập nội như rô phi,
chép, mè trắng,…Trong các loài cá nuôi thì các loài cá thuộc nhóm cá da trơn,
đặc biệt là cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là loài cá nuôi quan trọng và
hiện có sản lượng cao nhất. Năm 2007 xuất khẩu cá tra đạt 1 tỷ USD, tăng 34%

1.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra các khía cạnh kỹ thuật và môi trường của nghề nuôi cá tra trong ao
Đánh giá sự biến động các yếu tố chất lượng nước trong ao nuôi cá tra thâm canh.
Xác định lượng vật chất tích lũy trong cá và lượng vật chất thải ra môi trường
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3

Chương 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
2.1.1 Hệ thống phân loại
Loài cá tra nuôi được mô tả lần đầu bởi Sauvage năm 1878 ở Campuchia, tên
khoa học của cá tra có nhiều tên khác nhau dựa trên cơ sở những tài liệu các tác
giả nước ngoài mô tả cá ở các khu hệ cá lân cận như Thái Lan (Smith, 1945).
Trước đây, cá tra được xếp vào họ Shilbeidae và tên khoa học của chúng là
Pangasius micronemus Bleeker, 1847 (Mai Đình Yên và ctv, 1992; Trương Thủ
Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Ngoài ra, ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
cá tra còn có tên khoa học khác là Pangasius sutchi (Cacot, 1998). Gần đây một
số tác giả lại xếp cá tra vào một giống khác Pangasianodon hypophthalmus
(Komarudin và Pariselle, 2000). Theo kết quả định danh lại của Roberts và
Vidthayanon (1991) cá tra có tên khoa học là Pangasius hypophthamus. Fishbase
(www.fishbase.org, 9/2008) cá tra có hệ thống phân loại như sau:
Bộ : Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasius
Loài: Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878
2.1.2 Hình thái
Cá tra có vẩy bị thoái hóa, mắt nhỏ hoặc tiêu biến, có cơ quan hô hấp phụ và có
khả năng hô hấp qua da, qua xoang miệng... vì vậy chúng có khả năng sống lâu
trong bùn, trên cạn nhưng phải đảm bảo đủ độ ẩm cho da. Cá có thể tồn tại trong

Yên và ctv, 1992). Theo Cacot (1998), ở hạ lưu sông Cửu Long có 11 loài chủ
yếu thuộc giống Pangasius, trong đó có 8 loài có kích thước lớn (chiều dài lơn
hơn 50 cm). Đặc biệt có 2 giống loài cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và
cá basa (Pangasius bocourti) được nuôi rất nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5
2.1.4 Sinh trưởng và dinh dưỡng
2.1.4.1 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra tăng trưởng tương đối cao, cá tra cùng cá vồ cờ (Pangasius sanitwongsei)
là hai loài cá tăng trưởng rất nhanh nhất trong 10 loài thuộc họ Pangasiidae
(Lazard, 1998). Cá tra bột hết noãn hoàng có chiều dài trung bình từ 1 – 1,1 cm,
sau 14 ngày ương đạt 2,0–2,3 cm và có trọng lượng là 0,52 g. Cá 5 tuần tuổi đạt
1,28–1,5 g chiều dài 5-6 cm. Sau 1 năm cá đạt 0,7 – 1,5 kg và đến 3 – 4 tuổi đạt 3
– 4 kg. Cá còn nhỏ tăng nhanh về chiều dài, khi cá đạt 2,5 kg là bước vào thời kỳ
tích lũy mỡ, cần có chế độ nuôi dưỡng thích hợp để phát dục tốt. Tuy nhiên tốc độ
tăng trưởng còn tùy thuộc rất lớn vào mật độ nuôi, chất lượng và số lượng thức ăn
cung cấp. Độ béo cũng tăng dần theo sự phát triển của cá, ở năm đầu tiên độ béo
tăng nhanh nhất, qua các năm sau độ béo biến đổi không đáng kể: cá có trọng
lượng 11,2 g có độ béo 0,99%, cá 560 g có độ béo 1,6%, nhưng cá 3 tuổi nặng
3,62 kg có độ béo là 1,62%. Cá đực có độ béo cao hơn cá cái (Trần Thanh Xuân,
1994).
2.1.4.2 Tập tính dinh dưỡng
Miệng cá có răng sắc nhọn trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái.
Gai trên cung mang thưa và ngắn nên không có tác dụng lọc thức ăn như các loài
cá phiêu sinh động vật. Dạ dày dạng chữ U, ruột ngắn và không gấp khúc. Với
đặc điểm nên trên nên trong tự nhiên, tính ăn của cá tra thiên về động vật. Ở giai
đoạn cá bột và cá huơng, chúng thích ăn mồi sống, nhưng trong quá trình phát
triển thì chúng thích ăn mồi chết và phổ thức ăn rất rộng.
Theo Trần Thanh Xuân (1994), khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày

trong dạ dầy của chúng có rất nhiều phần cơ thể và mắt cá con các loài cá khác
(Nguyễn Tường Anh và ctv, 1979).
Cá con 20 ngày tuổi sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Lê Như Xuân và ctv,
2000). Cá tra càng lớn, phổ thức ăn của chúng càng rộng. Nhìn chung, loài cá này
có tập tính ăn thiên về động vật. Trong ao, bè nuôi chúng có thể sử dụng được
tấm, cám, rau, bèo, phế phẩm các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn tự chế dạng
ẩm với hàm lượng protein thấp. Đặc điểm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với
sự phát triển nuôi rộng rãi loài cá này (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu
Hương, 1993; Lê Như Xuân và ctv, 2000). Cá tra có khả năng thích nghi với
nhiều loại thức ăn có hàm lượng protein khác nhau, trong điều kiện thiếu thức ăn
cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn
gốc từ động vật (Trần Thanh Xuân, 1994).
2.2 Tình hình nghề nuôi da trơn trên thế giới
Cá tra và cá basa phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan,
Indonesia và Việt Nam. Đây là 2 lòai cá có giá trị kinh tế cao, được nuôi phổ biến
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
7
hầu hết ở các nước Đông Nam Á và là một trong những loài cá nuôi quan trọng
nhất khu vực này. Ba nước trong khu vực hạ lưu sông Mekong có nghề nuôi cá
tra truyền thống là Campuchia, Thái Lan và Việt Nam, do có nguồn cá tự nhiên
phong phú. Ở Campuchia tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài họ cá tra,
chỉ có 2% là cá basa và vồ đém. Một số nước trong khu vực như Malaysia,
Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ thập niên 70 – 80 của thế kỷ XX
(Phân viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản thành phố Hồ Chí Minh, 2006)
Ở Thái Lan và Campuchia thì cá Pangasius sutchi được nuôi trong ao và bè. Từ
xưa nhóm cá Pangasius được nuôi trong những bè nổi bằng tre ở Thái Lan và
Campuchia. Hê thống nuôi này cũng được áp dụng ở Châu Âu và Mỹ (Pillay,
1990). Trước đây nhu cầu về sản phẩm cá catfish đối với người dân Mỹ còn rất
hạn chế, sau khi các chiến dịch tiếp thị của các trại nuôi cá catfish và doanh
nghiệp chế biến thủy sản thì nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ cá catfish

Ở Thành phố Cần Thơ, nghề nuôi cá tra cũng đang được đầu tư phát triển với tốc
độ rất nhanh. Theo số liệu của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố Cần
Thơ (2007) thì diện tích ao nuôi cá tra của thành phố năm 2007 là: 970 ha và sản
lượng là 160.000 tấn. Đặc biệt 2 huyện Thốt Nốt và Ô Môn là nơi có nghề nuôi cá
tra phát triển nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất về sản lượng và diện tích nuôi
0.0
500.0
1000.0
1500.0
2000.0
200520062007
năm
ha
An Giang Đồng Tháp Cần Thơ Bến Tre

Hình 2.2 Diện tích nuôi cá tra ao, hầm ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ
từ năm 2005 đền 2007
Nguồn: báo cáo tổng kết hàng năm của Chi cục BVNL thủy sản các Tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, niên giám thống kê các tỉnh An Giang, Bến Tre.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
9
0.0
100000.0
200000.0
300000.0
200520062007
năm
tấn
An Giang Đồng Tháp Cần Thơ Bến Tre


3-
…; thành phần hữu cơ kết hợp bao gồm COD, BOD, tanin…;
và các thông số đánh giá sinh học như vi khuẩn, chlorophyll-a, phytoplankton,
zooplankton…
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10
Tuy nhiên, dù các thông số trên được phân chia như thế nào thì chất lượng môi
trường ao nuôi cũng đều do các yếu tố trên quyết định, từ đó sẽ có những ảnh
hưởng ít nhiều đến đời sống của đối tượng nuôi. Mỗi đối tượng đòi hỏi một điều
kiện môi trường có chất lượng khác nhau để thích nghi. Các yếu tố này luôn luôn
biến đổi và chịu sự chi phối bởi sự tác động bên ngoài.
2.4.1.1 Nhiệt độ
Theo Lê Như Xuân (1994) thì khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của cá
nhiệt đới là 25 – 30
o
C. Như vậy với khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đồng
bằng song Cửu Long, có nhiệt độ trung bình 26 – 28
o
C, là phù hợp cho sự phát
triển và sinh trưởng của cá nói chung.
Khi nghiên cứu trên đối tuợng trên tôm càng xanh Boyd et al. (2000) đã cho biết
nhiệt độ từ 26 – 32
o
C là thích hợp. Zimmermann (1998) thì nhận định rằng nếu
nhiệt độ cao hơn 34
o
C diễn ra trong thời gian dài thì động vật thuỷ sản sẽ không
sống được và tất nhiên thời gian còn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, nếu nhiệt
độ <19
o

9. Ở mức B (pH = 5,5 - 9), thì được đổ vào các vực nước nhận thải khác trừ các
thủy vực quy định ở mức A. Nếu ở mức C (pH = 5 - 9), chỉ được phép thải vào
các nơi quy định (như hồ chứa nước thải được xây riêng, cống dẫn đến nhà máy
xử lý nước thải tập trung ...).
2.4.1.3 Oxy hòa tan (DO)
Nồng độ oxy hòa tan tự do trong nước khoảng 8-10 ppm và sẽ dao động mạnh
phụ thuộc vào nhiệt độ và các quá trình phân hủy các hợp chất và sự quang hợp
của thực vật thủy sinh (Lê Văn Khoa, 2001). Trong ao hồ nuôi thâm canh, lượng
oxy trong nước được quyết định chủ yếu bởi các hoạt động sinh hóa, lượng oxy
khuếch tán từ không khí chỉ có vai trò thứ yếu. Khi oxy hòa tan thấp ảnh làm
giảm hoạt động hoặc gây chết thủy sinh vật, do đó, oxy hòa tan là một chỉ số quan
trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của thủy vực.(Lê Văn Cát và ctv., 2006)
Khi nghiên cứu trên đối tượng cá tra, Dương Nhựt Long và ctv (2004) cho rằng
hàm lượng thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là 3,5 – 6,5 ppm. Dương Thúy
Yên (2003) khi nghiên cứu về ngưỡng oxy dưới của cá tra đã kết luận rằng giá trị
này nhỏ hơn 2,0 mg/L. Nuôi cá ở mật độ cao, ao nuôi cũng thường xảy ra hội
chứng thiếu oxy cục bộ do sự gia tăng hàm lượng CO
2
trong nước, pH giảm, NO
2
-

tăng và biến động của một số yếu tố môi trường khác (Schmittou, 1993).
Theo Smith (1982), hàm lượng DO cần thiết cho quá trình trao đổi chất là 3,0 –
7,0 mg/L. Rogers và Fast (1988) cho rằng tôm cá sẽ bị sốc nếu hàm lượng DO <
2,0 mg/L trong thời gian dài (trích bởi Boyd et al., 2000). Lawson (1995), Boyd
(1998) và Timmons et al (2002) cho rằng hàm lượng oxy hoà tan lý tưởng phải
lớn hơn 5,0 mg/L đến bão hòa.
2.4.1.4 Tiêu hao oxy hóa học (COD)
Giá trị COD của nước phụ thuộc vào nhiệt độ và hàm lượng chất hũu cơ trong

Kết quả nghiên cứu của Trương Quốc Phú et al (2003) cho thấy vào thời điểm từ
tháng 4 – tháng 6, tại một số điểm trên sông Hậu gần khu vực chợ thì hàm lượng
TSS thường vượt quá 200 mg/L. Theo Lawson (1995), hàm lượng TSS thích hợp
trong ao nuôi thuỷ sản phải nhỏ hơn 80 mg/L.
Kết quả khảo sát hàm lượng TSS trong các ao nuôi cá tra thâm canh của Lê Bảo
Ngọc (2004) cho thấy hàm lượng này biến động rất lớn và cao (100 ± 273 mg/L,
112 ± 340 mg/L và 149 ± 415 mg/L).
Theo TCVN 5945: 2005, tiêu chuẩn nước thải được đổ vào các vực nước thường
được dùng làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt (mức A), tổng chất rắn lơ
lửng phải ≤ 50 mg/L. Ở mức B (50 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤100 mg/L), thì
được đổ vào các vực nước nhận thải khác trừ các thủy vực quy định ở mức A.
Nếu ở mức C (100 mg/L< tổng chất rắn lơ lửng ≤200 mg/L), chỉ được phép thải

Trích đoạn Chu trình dinh dưỡng trong ao nuôi cá da trơn thâm canh vấn đề ô nhiễm trong việc phát triển nghề nuôi cá tra thâm canh Khảo sát khía cạnh kỹ thuật và môi trường của nghề nuôi cá tra trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status