nghiên cứu sự kháng thuốc của nhóm vi khuẩn pseudomonas spp. trong môi trường ao nuôi cá tra (pangasianodon hypophthalmus) ở tỉnh trà vinh, bến tre và cần thơ - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
CHÂU HUỲNH THÙY TRÂM

NGHIÊN CỨU SỰ KHÁNG THUỐC CỦA NHÓM
VI KHUẨN Pseudomonas spp. TRONG MÔI TRƯỜNG
AO NUÔI CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) Ở
TỈNH TRÀ VINH, BẾN TRE VÀ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN


Pseudomonas spp. trong môi trường ao nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus), để có cách nhìn sâu sắc hơn về thuốc kháng sinh, từ đó đưa ra
biện pháp kiểm soát việc sử thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản một cách
triệt để hơn. Trước hết, tiến hành phân lập và định danh vi khuẩn Pseudomonas
spp. từ trong môi trường ao nuôi cá tra ở một số hộ ở 3 tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và
Cần Thơ. Sau đó tiến hành làm kháng sinh đồ với 12 loại kháng sinh và chọn ra 4
chủng để xác định MIC với 3 loại thuốc (oxytetracycline hydrochloride,
chloramphenicol, streptomycin) bằng phương pháp pha loãng. Kết quả cho thấy đa
số các chủng vi khuẩn Pseudomonas spp. kháng với các loại kháng sinh thử
nghiệm, trong đó tất cả các chủng vi khuẩn kháng với cefazolin (CEZ/30 µg),
ampicillin (AM/10 µg), kháng ít nhất với doxycycline (DO/30µg) (6,7%) (xem
Bảng 4.1). Mặc khác, thấy có 13 chủng trong 30 chủng vi khuẩn thí nghiệm kháng
với 2 loại kháng sinh trở lên. Giá tri MIC của các chủng vi khuẩn với
chloramphenicol nằm trong khoảng từ 32 đến >256 µg/ml , với oxytetracycline là
8-128 µg/ml, với streptomycine là 4 đến >256 µg/ml.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC
Phần I : ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
Phần II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm và bệnh do Pseudomonas spp. trong nuôi thủy sản 3
2.1 Vi khuẩn Pseudomonas 3
2.2 Một số nghiên cứu về Pseudomonas spp. trong môi trường 4


PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
v
DANH MỤC BẢNG HÌNH
Hình 2.1 Các con đường trao đổi sự kháng thuốc của vi khuẩn giữa động vật và
con người (Prescott et al., 2000) 7
Hình 4.1 Vi khuẩn trên môi trường GSP 16
Hình 4.2 Kết quả nhuộm Gram (100X) 16
Hình 4.3 Kết quả test O/F 16
Hình 4.4 Sự kháng thuốc của 30 chủng Pseudomonas spp. với kháng sinh 18
Hình 4.5 Kết quả kháng sinh đồ chủng PTV085 18
Hình 4.6 Sự kháng thuốc của 12 chủng Pseudomonas spp. với kháng sinh 19
Bảng 4.1: Sự kháng thuốc của 30 chủng Pseudomonas spp. với kháng sinh 17
Bảng 4.2: Kết quả giá trị MIC của 4 chủng Pseudomonas spp. 3 kháng sinh
chloramphenicol, oxytetracycline, streptomycin 21

PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Việt Nam có ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh. Cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi chính của
cả nước, không chỉ đáp ứng cho nhu cầu thực phẩm trong nước mà còn là mặt

vùng nước lợ. Vì thế đề tài “Nghiên cứu sự kháng thuốc của nhóm vi khuẩn
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
2
Pseudomonas spp. trong môi trường ao nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Cần Thơ” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá sự kháng thuốc của nhóm vi khuẩn Pseudomonas spp. trong
môi trường ao nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus), để có cách nhìn
sâu sắc hơn về thuốc kháng sinh, từ đó đưa ra biện pháp kiểm soát việc sử
thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản một cách triệt để hơn.
1.3 Nội dung của đề tài
− Phân lập, định danh vi khuẩn Pseudomonas spp. trong môi trường
nuôi cá tra ở tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Cần Thơ.
− Xác định sự kháng thuốc của vi khuẩn thuộc nhóm Pseudomonas spp.
bằng phương pháp lập kháng sinh đồ theo Kirby Bauer.
− Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC- Minimum Inhibitory
Concentration) của vi khuẩn Pseudomonas spp. với một số loại kháng sinh.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm và bệnh do Pseudomonas spp. trong nuôi thủy sản
Pseudomonas thuộc họ Pseudomonadaceae, là vi khuẩn Gram âm, hình
que thẳng hoặc cong mãnh, không có khả năng sinh bào tử, kích thước 0,5-1,0
x 1,5-5,0 µm, thường di động với một hoặc nhiều roi, hiếu khí bắt buộc. Hầu
hết Pseudomonas có oxidase dương tính, nhưng thỉnh thoảng có chủng
oxidase âm tính xuất hiện. Vi khuẩn tạo sắc tố vàng - xanh, xanh và xanh
nhạt. Nhiệt độ thích hợp cho Pseudomonas phát triển là 4-43
0
C, phát triển tốt

các loài cá nuôi và cá tự nhiên (cá trắm cỏ, cá tra, cá basa, ếch…), có 4 mức
độ và trạng thái bệnh của cá: Bệnh ác tính- không biểu hiện triệu chứng đặc
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
4
trưng, từ khi xuất hiện đến khi cả đàn cá bị bệnh khoảng 10-30 ngày, thời gian
ủ bệnh phụ thuộc vào nhiệt độ và chất lượng nước; Bệnh cấp tính- có biểu
hiện triệu chứng bệnh nhưng không đầy đủ, khoảng 40-50% đàn cá mắc bệnh,
số lượng cá chết rất lớn trong vài ngày; Bệnh thứ cấp tính- biểu hiện xuất
huyết từng đốm đỏ trên da, hai bên thân nhất là vùng bụng bị xuất huyết, ứ
máu đỏ bầm, vảy dựng lên, bụng phình to…, 30-40% đàn cá bệnh thì đàn cá
bơi lội uể oải, lờ đờ, chậm chạp, ở cá khỏi bệnh có nhiều vết sẹo và sinh
trưởng chậm hơn bình thường 2-3 lần; Bệnh mãn tính- kéo dài trong suốt quá
trình nuôi, tỉ lệ chết khoảng 10% đàn cá, cá khi thu hoạch có nhiều vết sẹo
hoặc nhiều chỗ loét chưa lành.
Phan Thị Vân và ctv. (2002) xác định tỉ lệ nhiễm Pseudomonas
fluorescens phân lập được từ cá trắm cỏ bị bệnh đốm đỏ và xuất huyết lần lượt
là 23,6-45,2% và 0-7,8%, bệnh đốm đỏ xuất hiện chủ yếu ở cá trên một tháng
tuổi, bệnh xảy ra quanh năm, cao điểm là từ tháng 4-5 và tháng 10-11.
Bên cạnh những loài thuộc giống Pseudomonas gây bệnh, thì cũng có
những loài có ích, cụ thể là P. stutzeri có khả năng khử nitrate cơ bản dựa trên
hoàn toàn bộ gen mã hóa cho các enzyme dị hóa nitrate chứa bên trong chúng
bao gồm: gen nar (nitrate reductase) , gen nir (nitrite reductase), gen nor
(nitrite oxide reductase), gen nos (nitrous oxide reductase)(Lalucat et al.,
2006) . Quá trình khử nitrate thành nitơ phân tử nhờ các vi khuẩn khử nitrate
trong đó có vi khuẩn P. stutzeri, chúng khử NO
3
-
qua các sản phẩm trung gian
đến sản phẩm cuối cùng là N
2

1
- 10
5

cfu/ml, số lượng vi khuẩn chiếm mật số cao hơn trong nước bể ương. Vi
khuẩn Vibrio hiện diện trong môi trường nước của bể nuôi khoảng 10
1
– 10
3

cfu/ml trong khi mật độ vi khuẩn có ở mẫu ấu trùng 10
2
– 10
4
cfu/10 ấu trùng.
Phần lớn loại vi khuẩn chiếm ưu thế là gram âm gồm các giống Aeromonas
spp., Pseudomonas spp., Vibrio spp., Baccillus spp. và vi khuẩn gram dương
không hình thành bào tử. Với kết quả phức hệ VSV trong hệ thống nuôi tôm
càng xanh này đang trong điều kiện bình thường. Số lượng và chất lượng hệ vi
sinh vật trong hệ thống nuôi đã giúp định hướng được sự biến động của hệ
VSV trong trại giống và có thể dự đoán sự bộc phát của bệnh dịch (Dương Thị
Mỹ Hận trích dẫn, 2007).
Theo kết quả nghiên cứu về số lượng và chất lượng hệ vi sinh vật trong
ao đất nuôi cá rô phi lai ở Saudi Arabia, mật số vi khuẩn (colony forming units
- cfu) ở trong phạm vi từ 5,6 ± 0,8 × 10
3
đến 2,4 ± 1,2 × 10
4
cfu /ml trong
nước ao; 9,3 ± 1,1 × 10

kháng nấm), của virus (tác nhân kháng virus) (được trích dẫn bởi Lê Thị Kim
Liên và ctv., 2008).
Người đầu tiên phát hiện chất kháng sinh là bác sĩ người Anh
Alexander Fleming (1881-1955). Năm 1928 ông là người đầu tiên tách được
chủng nấm Penicilium notatum sinh chất kháng sinh penicilin, mở ra một kỷ
nguyên mới cho việc đẩy lùi nhanh chóng các bệnh nhiễm khuẩn.
Năm 1944, Waksman (người Mỹ gốc Nga) phát hiện ra Streptomycine
và nhận giải Nobel vào năm 1952. Tiếp theo, hàng loạt chất kháng sinh quan
trọng khác đã được phát hiện và ứng dụng như: Bacitracin (1945),
chloramphenicol (1947), polimixin (1947), chlortetracyclin (1948),
cephalosporin (Brotzu, 1948), neomycin (1949), eritromicine (1952),
validacine (1970)…(được trích dẫn bởi Nguyễn Lân Dũng và ctv., 2002).
2.3.2 Hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn
Theo Bùi Thị Tho (2003), sự kháng thuốc của vi khuẩn được chia thành
2 loại: Một là kháng thuốc tự nhiên: Bản thân vi khuẩn bình thường đã có sẵn
những men hay một chất x nào đó có khả năng chống lại tác dụng của kháng
sinh. Hoặc có thể loại vi khuẩn đó không vị trí công kích, điểm tác động của
chất kháng sinh. Ví dụ: Các vi khuẩn Gram âm không chịu tác dụng của
Penicilin. Hai là kháng thuốc thu được: Vi khuẩn thu được những yếu tố
kháng thuốc trong quá trình sống do sự đột biến ngẫu nhiên hoặc do tiếp xúc
(Nicholas F. N, 1987). Khi có được các yếu tố kháng thuốc – plasmid, factor
R, hay episome, nó có khả năng truyền ngang các yếu tố kháng này giữa các
chủng cùng loài và giữa các loài với nhau.
Theo Clowes (1973), Cohen (1965,1982), Johnson (1994)… có 3
phương thức mà vi khuẩn có thể truyền gen kháng thuốc theo chiều ngang là
sự biến nạp, tải nạp và tiếp hợp (được Bùi Thị Tho trích dẫn, 2003).
Theo Từ Thanh Dung và ctv. (2005), nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
kháng thuốc bao gồm: Một là sự kháng thuốc kháng sinh do sử dụng không
đúng loại, liều lượng sẽ dẫn đến việc tạo các dòng vi khuẩn kháng thuốc, đây
cũng là nguyên nhân chính gây ra sự thất bại về sản lượng thu hoạch tôm

TRÊN CẠN
Cừu, Ngựa, Heo,
Gia Cầm, Bò
Sông, suối
Th
ịt

Chế
biến
Nước uống
U
ỐNG

HỆ THỰC VẬT
Rau
Cây ăn quả
Nước uống

ớc

Bơi lội
Th
ức ăn
gia súc
Biển
MÔI TRƯỜNG
NUÔI THUỶ SẢN
(cá và giáp xác)



erythromycin, tetracycline, oxytetracycline, sulfamethoxazole, trimethoprim
and potentiated sulfonamide). Tác giả cho rằng:
− Tần số xuất hiện sự kháng thuốc khác nhau ở các giống vi khuẩn.
Hầu hết đều kháng với penicillins và một vài loài kháng với cephalosporins
cũng như erythromycin.
− Trong tổng số chủng vi khuẩn có 54,8% kháng với ampicillin and
amoxicillin, 41,4% kháng với cefotaxime, 23,1% kháng cefazolin, 5,8% kháng
ceftiofur và 1,9% kháng cefoperazone. Trong khi đó 47,1% kháng
erythromycin, 16,4% kháng tetracycline và với oxytetracycline là 19,2%.
− Kháng với gentamicin và kanamycin lần lượt 2,9% và 5,8%; 13,5%
kháng acid nalidixic và 8,7% với acid oxolinic, kháng chloramphenicol và
florfenicol là 6,7% và 8,7%.
− Phân lập được 4,8% các loài kháng trimethoprim và 15,4% kháng
sulfamethoxazol. Tìm thấy 3,9% kháng trimethoprim + sulfamethoxazole. Đặc
biệt là tất cả các loài đều nhạy cảm ciprofloxacin.
− Cả 4 chủng Pseudomonas spp. đều nhạy với ciprofloxacin,
gentamicin and kanamycin. Trong đó: Một chủng nhạy với tất cả kháng sinh
(19 loại). Ba chủng còn lại kháng cefotaxime, 2 chủng kháng với ampicillin và
amoxycillin, 2 chủng kháng cefazolin. Kháng với ceftiofur ở 3 chủng và 2
chủng kháng với cefoperazone, chloramphenicol, florfenicol, trimethoprim,
sulfamethoxazole và trimethoprim-sulfamethoxazole. Kháng với acid nalidixic
and erythromycin ở 3 chủng. Tuy nhiên, chỉ có 1 chủng kháng acid oxolinic, 1
chủng kháng tetracycline và oxytetracycline.
Le et al. (2005) nghiên cứu về sự kháng thuốc của vi khuẩn trong mô
hình nuôi tôm- đước ở Việt Nam, tác giả thấy tác hại việc sử dụng thuốc
kháng sinh phổ biến trong nuôi thủy sản làm cho tồn lưu kháng sinh trong
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
9
nước, trong bùn và tạo sự kháng thuốc của vi khuẩn trong môi trường. Kiểm
tra sự kháng thuốc của vi khuẩn được phân lập từ 4 địa điểm nuôi tôm – đước

Thuỷ Sản − Trường Đại Học Cần Thơ.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ
Phiếu ghi nhận thông tin khi thu mẫu (Phụ lục 1), que cấy, giấy vệ sinh,
bao tay, giấy nhôm, giấy làm dấu, bọc nylon, dây thun, thùng trữ lạnh, hộp
quẹt,…
Chai nút mài 100 ml, ống nghiệm 10ml, đĩa petri, đèn cồn, que trãi thuỷ
tinh, bình xịt cồn, cốc thủy tinh 250 ml, hộp đầu col pipet 0,5ml và 1ml, pipet
100-1000ml, lame, lamelle.
Cân điện tử, máy trộn mẫu nước (vortex), máy khuấy từ, nồi khử trùng
áp suất, tủ sấy khô, tủ ấm, tủ lạnh, tủ vô trùng.
3.2.2 Môi trường, hoá chất và vật liệu nghiên cứu
Hoá chất: NaCl, cồn 96
o
, cồn 70
o
, glycerol, nước cất, các loại hoá chất
nhuộm Gram,…
Thuốc kháng sinh (12 loại): trimethoprim-sulfamethoxazole (SXT/ 1,25
µg - 23,75 µg), tetracyline (TE/30 µg), cefazolin (CEZ/30 µg), norfloxacin
(NOR/5µg), nitrofurantoin (NF/300 µg), rifampicin (RA/30 µg), ampicillin
(AM/10 µg), streptomycin (SM/10 µg), chloramphenicol (CHL/30 µg),
neomycin (NM/30 µg), flumequin (FM/30 µg), doxycycline (DO/30µg). Hầu
hết, những thuốc kháng sinh này của Bio-Rad, riêng cefazolin và norfloxacin
của Oxoid.
Thuốc kháng sinh tinh dùng để xác định nồng độ ức chế tối thiểu:
Oxytetracycline hydrochloride, chloramphenicol, streptomycin.
Môi trường chung: Trypton soy agar (TSA), nutrient broth (NB), brain
heard in broth (BHIB), mueller hinton agar (MHA).
Môi trường chọn lọc: Glutamate starch phenol red agar (GSP Agar),

Trộn đều mẫu nước và tiến hành phân tích theo phương pháp của
(Le et al., 2005).
Pha loãng 1 ml mẫu nước ban đầu thành 10ml trong nước muối sinh lý
đã được tiệt trùng ở 121
o
C trong 15 phút. Mẫu được pha loãng đến 10
-4
. Rút
0,1ml từ những mẫu pha loãng trãi đều trên môi trường GSP Agar sau đó đem
ủ trong điều kiện hiếu khí ở 28
o
C và đọc kết quả khi mẫu được ủ sau 24 giờ.
Tất cả các thao tác đều được thực hiện trong điều kiện vô trùng.
b. Mẫu bùn
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
12
Các chai bùn được lấy ra khỏi thùng và điều chỉnh về nhiệt độ phòng.
Sau đó, cho tất cả bùn từ 3 chai được thu tại 3 điểm trong ao vào cùng một
chai đã tiệt trùng và đảo đều mẫu sau đó tiến hành phân tích theo phương pháp
của Le et al. (2005).
Pha loãng 1g mẫu bùn với 10ml trong nước muối sinh lý đã được tiệt
trùng ở 121
o
C trong 15 phút. Mẫu được pha loãng đến 10
-4
. Lấy 0.1ml từ
những mẫu pha loãng trãi đều trên môi trường GSP Agar sau đó đem ủ trong
điều kiện hiếu khí ở 28
o
C và đọc kết quả khi mẫu được ủ sau 24 giờ. Tất cả

tiến hành xác định mật số vi khuẩn bằng máy so màu quang phổ ở bước sóng
610 nm và điều chỉnh để xác định mật số vi khuẩn đạt 10
8
cfu/ml
(OD = 0,1 ± 0.02).
Sau khi xác định mật số vi khuẩn thì tiến hành trãi dung dịch vi khuẩn
lên môi trường thạch.
Dùng tăm bông tiệt trùng nhúng vào dung dịch vi khuẩn, quét đều trên
môi trường thạch MHA. Sau đó để yên khoảng 1 phút rồi dùng pel tiệt trùng
lấy đĩa thuốc kháng sinh đặt vào đĩa petri sau cho khoảng cách giữa 2 tâm của
đĩa thuốc kháng sinh khoảng 24 mm và khoảng cách giữa tâm đĩa kháng sinh
với mép đĩa petri 10-15mm. Mỗi đĩa petri (đường kính 100 mm) môi trường
đặt tối đa 6 đĩa kháng sinh.
Sau khi hoàn tất việc dán đĩa thuốc kháng sinh, đặt đĩa petri vào tủ ấm
ở điều kiện 28
0
C. Sau 24 giờ tiến hành đọc kết quả.
Ghi chú:
− Phải lắc đều vi khuẩn và được lặp lại 3 lần.
− Sử dụng chủng tham khảo E. coli.
Đọc kết quả
Đo đường kính vòng vô trùng (mm) dựa vào chuẩn đường kính vòng vô
trùng của nhà sản xuất để xác định loại kháng sinh nhạy, trung bình nhạy và
kháng. Kết quả đường kính vòng vô trùng của 2 trong 3 lần lặp lại sai khác
không đáng kể thì ghi nhận kết quả của 2 lần lặp lại đó hoặc kết quả trung bình
của 3 lần lặp lại đó.
3.3.7 Phương pháp xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)
Qua việc sàn lọc kết quả kháng sinh đồ, chọn 4 chủng vi khuẩn
Pseudomonas spp. (PTV083, PCT0914, PTV0923, PBT0925) để xác định giá
trị MIC đối với 3 loại thuốc kháng sinh (oxytetracycline, streptomycin,

dung dịch thuốc gốc 1024 µg/ml. Những ống nghiệm thuốc còn lại 128; 64;
32;…; 0,5 µg/ml được pha loãng từ dung dịch thuốc gốc 256 µg/ml. Cần lắc
đều dung dịch thuốc trước khi pha loãng các dung dịch thuốc tiếp theo. Nồng
độ thuốc sẽ giảm đi một nữa khi cho dung dịch vi khuẩn vào. Ghi tên thuốc và
nồng độ trước khi bắt đầu thí nghiệm.
Ø Chuẩn bị dung dịch vi khuẩn
Xác định mật số vi khuẩn bằng máy so màu quang phổ ở bước sóng
610 nm và điều chỉnh mật độ vi khuẩn bằng môi trường NB (không dùng nước
cất) ở điểm OD = 0,1±0,02 (mật số vi khuẩn khoảng 10
8
CFU/ml), pha loãng
để đạt được mật số vi khuẩn 10
5
cfu/ml. Sau đó, mỗi chủng vi khuẩn đều được
cấy trên môi trường TSA để kiểm tra sự thuần chủng vi khuẩn và được ủ trong
điều kiện với các ống MIC.
Cho 3 ml dung dịch vi khuẩn vào từng ống nghiệm có chứa 3 ml dung
dịch thuốc ở các nồng độ khác nhau: 0,5; 1; 2;…; 512 µg/ml (cần lắc đều).
Thí nghiệm có 2 đối chứng:
Đối chứng âm: (3 ml BHIB + 3 ml nước muối sinh lý).
Đối chứng dương: (3 ml dung dịch vi khuẩn + 3 ml nước muối sinh lý).
Tất cả các ống nghiệm được ủ ở 28
o
C, trong 24 giờ (đến khi thấy vi
khuẩn trong đối chứng dương phát triển).
Ø Đọc kết quả
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
15
Kiểm tra sự thuần chủng của vi khuẩn, nếu có tạp khuẩn thì loại bỏ kết
quả hoặc loạt ống nghiệm của chủng vi khuẩn nào phát triển không liên tục thì

Pseudomonas spp. từ nhiều nguồn nước khác nhau ở Greece gồm có
Hình 4.1 Vi khuẩn trên môi trường GSP
Hình 4.3 Kết quả test O/F

Hình 4.2 Kết quả nhuộm Gram (100X)
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
17
P. aeruginosa, P. stutzeri, P. alcaligenes, P. putida, P. fluorescens, P.
mendocina…
4.2 Kết quả lập kháng sinh đồ
Sử dụng kháng sinh để phòng và trị bệnh trong nuôi thủy sản, là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các mầm bệnh vi khuẩn
kháng kháng sinh, gây khó khăn cho việc điều trị bệnh động vật thủy sản, ảnh
hưởng đến động vật nuôi và con người. Sự kháng kháng sinh của các chủng
Pseudomonas spp. phân lập từ môi trường ao nuôi cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) ở 3 tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Cần Thơ đã được xác định,
30 chủng Pseudomonas spp. thử nghiệm với 6 kháng sinh
(tetracyline, chloramphenicol, doxycycline, flumequin, streptomycin,
trimethoprim-sulfamethoxazole) và chọn ra 12 chủng thử thêm với 6 loại
kháng sinh (norfloxacin, cefazolin, rifampicin, ampicillin, neomycin,
nitrofurantoin).
Bảng 4.1 Tính kháng thuốc của 30 chủng Pseudomonas spp. với kháng sinh
Kháng sinh
Kháng Trung bình Nhạy Tổng số
chủng
Số chủng %

Số chủng %

Số chủng %

3.3

17

57

30

SM 20 66,7

9 30

1 3,3

30
SXT 13 43.3

10 33.3

7 23,3

30
NOR

5

42

1



4 33.3

4 33,3

12
NF 11 91.7

0 0

1 8,3

12
Ghi chú: Tetracyline (TE/30 µg), chloramphenicol (CHL/30 µg), doxycycline (DO/30µg),
flumequin (FM/30 µg), streptomycin (SM/10 µg), trimethoprim-sulfamethoxazole (SXT/ 1,25 µg -
23,75 µg), norfloxacin (NOR/5µg), cefazolin (CEZ/30 µg), rifampicin (RA/30 µg),
ampicillin (AM/10 µg), neomycin (NM/30 µg), nitrofurantoin (FT/300 µg).
Qua Bảng 4.1, thấy đa số các chủng Pseudomonas spp. thí nghiệm
kháng với các kháng sinh, mỗi loại kháng sinh đều có chủng vi khuẩn kháng ,
tương tự như nghiên cứu của Sokarid et al. (1988) về sự kháng thuốc của vi
khuẩn thuộc nhóm coliform và Pseudomonas spp. trong môi trường nước ở
Port Harcourt, Nigeria: Tất cả 157 chủng Pseudomonas spp. phân lập được
đều kháng một trong 10 loại thuốc kháng sinh thử nghiệm và có đến 151
chủng kháng từ 2 loại thuốc trở lên.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
18
4.2.1 Sự kháng thuốc của 30 chủng Pseudomonas spp. với 6 kháng sinh
7
18
17

DO nhạy với Pseudomonas spp. hơn TE, theo Lê Thị Kim Liên và ctv. (2008),
xét về mặt dược lí, chia nhóm kháng sinh này làm 2 thế hệ: Thế hệ I và II,
trong đó TE, oxytetracycline… thuộc thế hệ I có thời gian tác động ngắn còn
DO, minocyclin thuộc thế hệ II được tổng hợp gần đây có thời gian tác động
dài. Xét về mặt hiệu lực xếp theo thứ tự giảm dần minocyclin mạnh nhất rồi
đến DO, TE, oxytetracycline. Nhóm tetracycline được sử dụng trong nuôi thủy
sản bằng cách trộn vào thức ăn hoặc tắm (trích dẫn của Từ Thanh Dung, 2008)
mà theo Bùi Thị Tho (2003), DO hấp thu tốt ở đường tiêu hóa. Tương tự, flumequin (FM) thuộc thế hệ I của nhóm Fluroquinolon, có
12 chủng kháng với FM (Hình 4.4), theo Bùi Thị Tho (2003) nhóm này
Hình 4.5 Kết quả kháng sinh đồ chủng PTV085
chủng vi khuẩn
kháng sinh
Hình 4.4 Sự kháng thuốc của 30 chủng Pseudomonas spp. với kháng sinh
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
19
thường có phổ tác dụng rộng, có tác dụng rất tốt trên vi khuẩn thuộc họ đường
ruột (trực khuẩn Gram âm khó tính bao gồm cả Pseudomonas…).
Theo Bùi kim Tùng (2001), streptomycin (SM) cùng nhóm aminosid
không hấp thu qua ruột nên không dùng không uống mà sử dụng phương pháp
tiêm, ở người SM chủ yếu trị bệnh lao, nhưng tỉ lệ kháng (66,7%) cao hơn
NM. Trong thí nghiệm này, SM có tỷ lệ kháng cao với 30 chủng thì có đến 20
chủng kháng SM (Hình 4.4), chỉ có 1 chủng nhạy. Sokari et al. (2005) xác
định trong 157 chủng Pseudomonas spp. thì có 56 chủng kháng (35,67%).
Trong 30 chủng thí nghiệm thì có 13 chủng kháng với trimethoprim-
sulfamethoxazole (SXT), tỉ lệ kháng (43,3%) chưa đến 50%, còn với
chloramphenicol (CHL) tỉ lệ kháng cao đến 60% (Bảng 4.1). So với nghiên
cứu của Akinbowale et al. (2007) tỉ lệ kháng với SXT và CHL đều là 50%, thì

nucleotid trong quá trình sao chép AND, vì thế nếu lạm dụng fluroquinolon sẽ
tạo ra những chủng vi khuẩn kháng thuốc vĩnh viễn do đột biến. Kết quả
nghiên cứu này, thấy có đến 5 chủng Pseudomonas spp. kháng với NOR (42%
chủng vi khuẩn). Newaj-Fyzul et al. (2008) xác định được 1 chủng trong 8
chủng vi khuẩn
kháng sinh
Hình 4.6 Sự kháng thuốc của 12 chủng Pseudomonas spp. với kháng sinh
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status