TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
VƯƠNG TRỌNG QUÝ NGHIÊN CỨU SỰ TÍCH LUỸ VẬT CHẤT DINH DƯỠNG
TRONG AO NUÔI TÔM SÚ (Penaeus monodon)
THÂM CANH Ở VĨNH CHÂU-SÓC TRĂNG
2.1.2 Đặc tính lớp bùn đáy trong ao nuôi tôm 4
2.2 Nitơ và Photpho trong đất và nước 6
Chương 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Thời gian thực hiện 8
3.2 Vật liệu nghiên cứu 8
3.3 Phương pháp nghiên cứu 8
3.4 Mô tả phương pháp 9
3.5 Phương pháp phân tích 11
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 11
Chương 4: KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN 11
4.1 TÍCH LŨY DINH DƯỠNG TRONG AO NUÔI THEO THỜI GIAN 12
4.1.1 Tích lũy đạm trong ao nuôi 12
4.1.2 Tích lũy lân trong ao nuôi 13
4.1.3 Tích lũy vật chất lơ lửng và hữu cơ lơ lửng 14
4.1.4 Tích lũy vật chất hữu cơ của bùn đáy 15
4.1.5 Tích lũy đạm ở đáy ao 16
4.1.6 Tích lũy lân ở đáy ao 17
4.2 TÍCH LŨY DINH DƯỠNG TRONG ĐẤT VÀ NƯỚC 18
4.2.1 Hàm lượng hữu cơ tích trữ trong ao qua vụ nuôi 18
4.2.2 Hàm lượng nitơ tích trữ trong ao qua vụ nuôi 19
4.2.3 Hàm lượng photpho tích trữ trong ao qua vụ nuôi 20
4.2.4 Đánh giá khả năng ô nhiễm 21
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
iv
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 22
5.1 Kết luận 22
vDANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Phương pháp thu và phân tích mẫu 11
Bảng 4.1: Kết quả hàm lượng hữu cơ tích trữ ở các ao nuôi 18
Bảng 4.2: Kết quả hàm lượng nitơ tích trữ ở các ao nuôi 19
Bảng 4.3: Kết quả hàm lượng photpho tích trữ ở các ao nuôi 20
Hình 4.8: Sự tích lũy hàm lượng lân ở đáy ao theo thời gian 17
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
iiTÓM TẮT
Việc gia tăng mức độ thâm canh trong nuôi trồng thủy sản làm cho môi trường
nước ngày càng bị ô nhiễm. Thức ăn dư thừa, sản phẩm thải của tôm, phân
bón, hóa chất sử dụng ngày càng nhiều là nguồn chính làm ô nhiễm nguồn
nước, suy thoái môi trường, dịch bệnh bùng phát trên diện rộng…đe dọa sự
phát triển bền vững của nghề nuôi. Trên cơ sở đó mà đề tài “Nghiên cứu sự
tích lũy vật chất dinh dưỡng trong ao nuôi tôm sú (Penaeus monodon) thâm
canh ở Vĩnh Châu – Sóc Trăng” được thực hiện từ tháng 02 đến tháng
06/2006. Kết quả nghiên cứu về sự tích lũy dinh dưỡng trong 2 ao tôm thâm
canh với mật độ 20 con/m
2
cho thấy lượng vật chất hữu cơ, lượng nitơ, lượng
photpho trong ao nuôi tích lũy tăng dần theo thời gian nuôi. Lượng hữu cơ còn
lại trong ao sau 55 ngày nuôi ở ao 1 là 305 kg và ao 2 là 413 kg; lượng nitơ
còn lại trong ao 1 là 105 kg và 133 kg ở ao 2; lượng photpho còn lại trong ao 1
sau 55 ngày nuôi là 7,66 kg và ao 2 sau 75 ngày nuôi là 8,67 kg. Trên cơ sở
ước lượng lượng hữu cơ, nitơ, photpho còn lại ở 2 ao nuôi cho thấy khả năng ô
nhiễm nguồn nước nuôi xung quanh với mật độ nuôi như vậy là hoàn toàn có
khả năng.
nhưng năng suất lại giảm khi tính trên một đơn vị diện tích đất sử dụng. Tuy
nhiên, việc bồi lắng phù sa, mặn hóa, dịch bệnh tôm… đang là vấn đề ảnh
hưởng đến sự phát triển bền vững của hệ thống canh tác này.
Một trở ngại thường gặp trong những ao nuôi tôm là sự tích tụ phù sa ở đáy
ao, những phù sa này có hàm lượng chất hữu cơ cao. Sự phân hủy của những
chất hữu cơ sẽ gây ra hiện tượng thiếu oxy và sản sinh ra những khí độc như:
NH
3
, H
2
S… Những hợp chất này có thể ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của
ao nuôi. Sự thải của chất thải chứa nhiều dinh dưỡng từ trại nuôi tôm thâm
canh có thể chứa thành phần của thức ăn như Vitamine, thuốc kháng sinh, hàm
lượng vật chất hữu cơ và cả mầm bệnh, cuối cùng dẫn đến những hậu qủa
không mong muốn cho vùng nuôi.
Trong quá trình nuôi tôm, đặc biệt là nuôi tôm sú bán thâm canh và thâm canh,
chất lượng nước giảm dần về cuối vụ nuôi do sự tích tụ các chất thải từ thức
ăn thừa và từ sản phẩm thải của tôm trên nền đáy ao. Ở đáy ao các chất thải bị
phân huỷ hiếm khí sinh ra nhiều khí độc có hại cho tôm. Khi môi trường nuôi
thay đổi bất lợi tạo điều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển nhanh chóng
trong khi sức khoẻ tôm yếu đi nên tôm dễ mẫn cảm với mầm bệnh và bệnh
tôm xảy ra là điều tất yếu.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2
Song song đó, sự tích luỹ vật chất hữu cơ ở nền đáy ao sau mỗi vụ nuôi là rất
lớn, việc xử lý lượng chất thải này gặp rất nhiều khó khăn. Đòi hỏi cần phải có
nơi chứa phải đủ lớn, thời gian và kinh phí để xử lý. Trong khi nhận thức của
người nuôi về tính độc hại và tầm quan trọng của việc xử lý nước thải sau mỗi
vụ nuôi còn rất hạn chế. Trước đòi hỏi cấp bách của thực tế “ Nghiên cứu sự
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Biến động các yếu tố môi trường đất và nước
2.1.1 Đặc tính môi trường đất trong ao nuôi tôm
Trạng thái tự nhiên của đất ao có ảnh hưởng đáng kể đến việc cung cấp chất
dinh dưỡng hòa tan trong ao cũng như sự tạo thành các chất độc. Ao xây dựng
trên vùng đất ngập mặn sẽ sinh nhiều NH
3
và H
2
S hơn những ao có cùng mật
độ nuôi, chế độ chăm sóc, sục khí nhưng lại được xây dựng trên vùng đất
ruộng có tính sét pha thịt Hàm lượng chất hữu cơ có thể tăng lên trong qúa
trình sử dụng ao nếu không được dọn tẩy đúng mức. Ở những ao xây dựng
trên nền đất cát và ít được dọn tẩy, sự tích luỹ vật chất hữu cơ sẽ xảy ra nhanh
chóng hơn vì ở đó chất thải có thể thấm nhanh vào đất (Chanratchakool et al.,
2002).
Nguyên tắc cơ bản là nên chọn những nơi có chứa từ 20% đất sét trở lên (mùn
hoặc đất sét) là tốt nhất để xây dựng ao nuôi tôm, nên tránh những khu vực đất
phèn, đất cát, đất hữu cơ hoặc đất than bùn (Boyd,1998a).
Đất ao có thể ảnh hưởng đến pH của nước ao, nhất là trường hợp đất phèn
tiềm tàng. Điều này cũng có nghĩa là ao nuôi ở vùng đất phèn sẽ phải chấp
nhận điều kiện môi trường ao nuôi xấu trong nhiều vụ nuôi đầu tiên, tăng rủi
ro về năng suất và dịch bệnh. Cho nên vùng đất có phèn tiềm tàng thường
không được khuyến khích nuôi tôm (Chanratchakool et al., 2002).
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004) đất ao có ảnh hưởng
đến pH của ao và chất dinh dưỡng trong ao nuôi. Những ao đất có nhiều mùn
bã hữu cơ có thể sinh ra nhiều khí độc, khó dọn tẩy hơn và chất hữu cơ ngày
càng tích lũy nhiều hơn. Việc bón phân cho ao nuôi đôi khi cũng không có
hiệu quả. Những ao đất chứa nhiều cát cũng gặp tình trạng tương tự là khó
quản lý ao nuôi, nhất là gây màu và giữ màu nước trong suốt quá trình nuôi.
dạng khí (dạng ion ít độc hơn). Song pH là yếu tố ảnh hưởng đến tính độc của
hai loại khí này vì nó quyết định đến tỉ lệ phân ly ở dạng khí hay dạng ion.
Trong đó, NH
3
là loại chất độc có ở hầu hết ở các ao nuôi tôm, nhưng H
2
S chỉ
có ở các ao mà nền đáy chứa nhiều mùn bã hữu cơ (Nguyễn Thanh Phương và
Trần Ngọc Hải, 2004).
Đất đáy ao và sự tích tụ chất lắng là những phần gắn liền với hệ thống nuôi
tôm. Hàm lượng chất dinh dưỡng, vật chất hữu cơ và mật độ vi sinh vật trong
đáy ao nhiều và quan trọng hơn trong nước ao. Tôm thường sống trên mặt
hoặc vùi mình dưới đáy ao. Vì vậy, những chất độc trong đáy ao sẽ gây hại
cho tôm nuôi như tôm giảm ăn, chậm lớn, tăng tỉ lệ chết và mẫn cảm bệnh tật.
Do đó, kiểm soát điều kiện đất đáy ao là cần thiết, bao gồm sục khí vừa phải ở
những nới có tích luỹ bùn đặc, xây dựng ao có nơi lắng bùn trước khi đưa vào
nuôi, kích thích tính hoạt hóa của chất bồi lắng, dùng hóa chất để cân bằng
tiến trình oxy hóa khử và sử dụng lại nguồn nước lọc từ bùn đáy (Avnimelech
và Ritvo, 2003).
Tại những nơi mà nguồn nước cấp quá đục vì các chất vẩn hoặc phù sa, việc
thiết lập các hồ lắng để cung cấp nước sạch cho ao nuôi trở nên rất cần thiết
(Vũ Thế Trụ, 2001).
Trong ao nuôi trồng thủy sản thâm canh, đặc biệt là ao nuôi tôm, nông dân
thường dở bỏ lớp đất lắng dưới đáy ao sau mỗi vụ nuôi. Chẳng hạn như một
vài vùng ở Đông Nam Á, nông dân thường dùng máy bơm nước áp lực cao để
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
5
rửa và dọn tẩy đáy ao, sau đó bơm ra ngoài khu vực ao nuôi. Việc làm này là
không tốt vì chất lơ lửng, chất hữu cơ trong bùn lắng bị xáo trộn và phân hủy
2003).
Hàm lượng đạm, lân tổng trong bùn đáy ao nuôi cá, biến động trong khoảng
0,43-2,95 mg/g và từ 0,3-1,85 mg/g tương ứng và kết quả nghiên cứu cũng
cho rằng khi môi trường nước có hàm lượng muối dinh dưỡng cao thì xảy ra
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
6
sự hấp thụ ở nền đáy ao, ngược lại khi môi trường nước có hàm lượng muối
dinh dưỡng thấp thì xảy ra quá trình phóng thích (Thanh, 1997 được trích dẫn
bởi Lê Bảo Ngọc, 2004)
Huỳnh Trường Giang (2003) nghiên cứu sự biến động và tương quan giữa các
yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm sú thâm canh cho rằng TKN, NH
4
+
biến
động theo hướng tằng dần về cuối vụ do sự tích tụ nguồn dinh dưỡng ngày
càng cao.
2.2 Nitơ và Photpho trong đất và nước
Teichert-Coddington et al. (2000) nghiên cứu dinh dưỡng trong ao nuôi tôm
bán thâm canh cho thấy sự tăng thêm đạm trong ao nuôi tôm chủ yếu từ nguồn
nước lấy vào (63%) và thức ăn (36%), lượng đạm mất đi từ sự trao đổi nước
(72%) và thu hoạch tôm (14%). Hàm lượng lân hầu hết từ nguồn nước cấp
(51%) và thức ăn (47%), mất đi từ sự trao đổi nước (56%) và thu hoạch (9%).
Khoảng (7%) lượng đạm và phần lớn (31%) lượng lân đưa vào ao nuôi bị mất
đi không tính toán được, có lẽ lượng phân này được hấp thụ và chuyển hoá
trong ao nuôi. Tỉ lệ chuyển hoá trung bình của thức ăn có chứa hàm lượng
đạm và lân cho tôm lần lượt là 41% và 20%. Sản xuất được một Kg tôm thì
cần đến 16,8 g đạm và 2,3 g lân bị mất đi bởi sự trao đổi nước.
Hàm lượng N thải ra trong chất cặn lắng tăng theo mật độ tôm thả nuôi. Hơn
38,4% lượng N cung cấp vào ao nuôi là từ nguồn nước cấp vào, thức ăn và N
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
8
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian thực hiện đề tài
Từ tháng 02/2006 đến tháng 06/2006
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Ao 1
S = 4.000 m
2
H = 1,2-1,5 m Ao 2
S = 4.000 m
2
H = 1,2
-
1,5 m
Ao lắng
S = 5.000 m
2
H = 1,4 m
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
9
Chọn điểm thí nghiệm
- Ao tôm: 2 ao, tôm thả có kích cỡ ban đầu từ 1,5 cm (PL15), mật độ thả 20
§ Mẫu tôm được phân tích khi thu hoạch (đạm- lân).
3.4 Mô tả phương pháp
- Mẫu nước được thu 5 điểm trong ao cho vào xô trộn lại để lấy một mẫu đại
diện cho ao nuôi và ao lắng. Kênh được thu vào lúc nước lớn sáng ở 3 điểm
(2 bên bờ và giữa kênh) trộn lại và lấy một mẫu đại diện. Sau đó, cho vào
chai nhựa 1 lít và trữ lạnh ở 4
0
C trong suốt qúa trình vận chuyển và phân
tích.
- Mẫu đất được lấy một lớp mỏng có độ dày từ 0-3cm. Sau đó, cho vào chai
nhựa 110 ml và ướp lạnh ở 4
0
C trong suốt qúa trình vận chuyển về phòng
thí nghiệm để phân tích.
- Trong quá trình thu mẫu, kết hợp đo chiều cao cột nước của ao, từ đó, làm
cơ sở cho việc tính toán lượng đạm-lân ban đầu, đạm-lân từ nước cấp, đạm-
lân tích lũy theo thời gian ở mỗi ao là bao nhiêu (kg).
- Nitơ và photpho trong nước
+ Nitơ (kg) = TN
phân tích
x V
nước
x 0,001
+Photpho (kg) = TP
phân tích
x V
nước
x 0,001
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
10
– N
0
)
N: Lượng đạm tích luỹ trong ao tôm (chất thải)
N
I
: Tổng lượng đạm đầu vào
N
0
: Tổng lượng đạm đầu ra
- Xác định hàm lượng lân tích luỹ trong ao tôm
P = (P
I
– P
0
)
P: Lượng lân tích luỹ trong ao tôm (chất thải)
P
I
: Tổng lượng lân đầu vào
P
0
: Tổng lượng lân đầu ra
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NO
2
-
2 lần/tháng
Bình 1 lít 7-8 giờ sáng Diazonium
PO
4
3-
2 lần/tháng
Bình 1 lít 7-8 giờ sáng Acid Ascorbic
TN 2 lần/tháng
Bình 1 lít 7-8 giờ sáng Kjeldalh
TP 2lần/ tháng
Bình 1 lít 7-8 giờ sáng Kjeldalh
Mẫu đất TN 2 lần/tháng
Bình nhựa 110 ml 7-8 giờ sáng Kjeldalh
TP 2 lần/tháng
Bình nhựa 110 ml 7-8 giờ sáng Kjeldalh
Mẫu thức ăn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
12
Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 TÍCH LŨY VẬT CHẤT DINH DƯỠNG TRONG AO NUÔI THEO
THỜI GIAN
4.1.1 Tích lũy đạm trong nước ao nuôi
Ở 2 ao nuôi tôm thâm canh trong nghiên cứu này hàm lượng đạm (N) có xu
hướng tăng cao vào cuối vụ và tăng liên tục (Hình 4.1). Ở ao 1 hàm lượng đạm
dao động trong khoảng 4,97-33,9 kg (phụ lục 1), ao 2 từ 5,54-36,8 kg (phụ lục
2) và ở ao lắng dao động trong khoảng 7,21-20,5 kg (phụ lục 3). Thức ăn bổ
sung vào ao nuôi là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến hàm lượng đạm tích trữ
trong ao nuôi. Hàm lượng đạm ở 2 ao tăng cao vào tuần thứ 4 và thứ 6, do
ngoài nguồn thức ăn vào thời điểm này còn có sự cấp nước cho 2 ao từ ao lắng
(tuần thứ 4 cấp thêm 0,3 m cho mỗi ao; tuần thứ 6 cấp thêm 0,2 m cho mỗi
ao). Riêng ao lắng sở dĩ hàm lượng đạm trong ao tăng theo thời gian do phụ
thuộc khá nhiều vào lượng nước cấp vào, mật độ và hiệu quả phân giải của vi
sinh vật, hàm lượng đạm, phù sa có trong kênh dẫn nước từ sông Mỹ Thanh và
sản phẩm thải của chợ Vĩnh Phước cung cấp. Tổng hàm lượng đạm tích trữ
trong ao nuôi thì dạng đạm hữu cơ (TKN) luôn chiếm tỉ lệ cao, ở ao 1 hàm
lượng TKN dao động trong khoảng 4,92-33,3 kg (phụ lục 1); ở ao 2 từ 5,47-
36,3 kg (phụ lục 2). Sự tích trữ hàm lượng đạm trong nuôi thủy sản tương đối
lớn phụ thuộc nhiều vào tính chất của đất ao, nguồn thức ăn, hiệu quả sử dụng
thức ăn và mật độ tôm nuôi.
-
5
10
15
với việc thực hiện quy trình nuôi hạn chế thay nước là nguyên nhân làm cho
hàm lượng đạm và lân tăng cao vào cuối vụ nuôi. Càng về cuối vụ nuôi, lượng
thức ăn cho vào ao, sản phẩm thải của tôm tăng lên, sự phát triển của tảo và
quá trình phân hủy chúng cũng góp phần bổ sung lượng lân cho ao. Trong
vùng nuôi tôm, với hàm lượng đạm, lân tích trữ như vậy khi thải ra môi trường
ngoài sẽ dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước xung quanh, làm xáo
trộn các yếu tố môi trường là nguyên nhân dẫn đến không bền vững của nghề
nuôi.
-
1
2
3
4
5
6
7
8
02468
Tuần
Hàm lượng (kg)
Ao 1 Ao 2 Ao lắng
Hình 4.2: Sự tích lũy lân trong ao nuôi theo thời gian
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
14
4.1.3 Tích lũy tổng vật chất lơ lửng (TSS) và vật chất hữu cơ lơ lửng
(OSS) trong nước ao nuôi
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng vật chất lơ lửng tích lũy trong ao nuôi tăng
200
250
300
350
02468
Tuần
Hàm lượng (kg)
Ao 1 Ao 2 Ao lắng
Hình 4.4: Sự tích lũy hàm lượng vật chất hữu cơ (OSS) trong ao nuôi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
15
Nuôi cá thâm canh làm cho môi trường nước xung quanh giàu chất dinh
dưỡng và có nguy cơ bị ô nhiễm. Thức ăn dư thừa và phân cá làm cho hàm
lượng chất dinh dưỡng và vật chất hữu cơ lơ lửng trong nước tăng (Muir,
1992).
4.1.4 Tích lũy vật chất hữu cơ của bùn đáy ao nuôi
Vật chất hữu cơ và độ ẩm của bùn đáy ao có xu hướng tăng dần về cuối vụ đó
là kết quả của quá trình khảo sát (Hình 4.5 và Hình 4.6). Ở ao 1 vật chất hữu
cơ và độ ẩm dao động trong khoảng từ 2,91-3,74% và 38,1- 43,2% tương ứng
(phụ lục 1); ở ao 2 dao động từ 2,44-3,37% và 39,3-53,2% tương ứng (phụ lục
2). Việc cải tạo ao tốt trước mỗi vụ nuôi là nhân tố quan trọng giúp làm giảm
thiểu sự tích tụ hữu cơ ở đáy ao. Theo Boyd (1998b), sự phân hủy vật chất hữu
cơ ở đáy ao diễn tiến nhanh ở độ pH từ 7 đến 8, do đó, trong những ao nuôi có
tính acid, nếu không dùng vôi để cải tạo pH thì vật chất hữu cơ tích trữ ở đáy
ao có khuynh hướng tăng dần theo thời gian. Trong nghiên cứu này, việc sử
dụng vôi cải tạo đáy ao trước vụ nuôi là điều kiện rất cần thiết nhằm hạn chế
sự tích lũy hữu cơ ở đáy ao, đó cũng chính là nguyên nhân làm cho lượng hữu
16
Độ ẩm của bùn đáy ao có xu hướng tăng dần theo thời gian nuôi do thời gian
đầu ao mới cải tạo nên độ ẩm thấp, sau thời gian nuôi thì lượng thức ăn dư
thừa, đất từ bờ ao rửa trôi, cũng như xác bã động thực vật, chất thải của tôm
tích tụ sau một thời gian nuôi ngày càng nhiều, sự phân hủy vật chất hữu cơ
bởi vi sinh vật để lại lớp bùn nhão ở đáy ao làm tăng độ ẩm của bùn.
-
10
20
30
40
50
60
02468
Tuần
Tỉ lệ (%)
Ao 1 Ao 2
Hình 4.6: Sự biến động độ ẩm của bùn đáy ao nuôi
4.1.5 Tích lũy đạm ở đáy ao
Kết quả nghiên cứu cho thấy, hàm lượng đạm ở đáy ao tương đối cao và có xu
hướng tăng dần theo thời gian nuôi (Hình 4.7), ở ao 1 hàm lượng đạm dao
động trong khoảng 6,10-9,10 mg/g (phụ lục 1); ở ao 2 từ 7,90-11,6 mg/g (phụ
lục 2). Hàm lượng đạm ở đáy ao phụ thuộc rất lớn vào lượng hữu cơ tích trữ:
nguồn thức ăn thừa, sản phẩm thải của tôm, hiệu quả hoạt động của vi sinh vật
là nguyên nhân làm cho hàm lượng đạm ở đáy ao tăng dần về cuối vụ. Tuy có
sử dụng vi sinh định kỳ nhưng với lượng thức ăn cho vào khá lớn, hiệu quả sử
dụng thức ăn của tôm không cao, khả năng phân giải của vi sinh vật có hạn
làm cho hàm lượng đạm tích lũy ở đáy ao tăng liên tục.
việc quản lý ao nuôi sao cho hàm lượng lân tích trữ trong ao sau vụ nuôi ở
mức thấp nhất có thể được, và sự cân bằng giữa tỉ lệ N:P là rất cần thiết, có
như vậy thì nghề nuôi tôm mới được ổn định và phát triển bền vững.
-
0.2
0.4
0.6
0.8
1.0
1.2
1.4
1.6
02468
Tuần
Hàm lượng (mg/g)
Ao 1 Ao 2
Hình 4.8: Sự tích lũy hàm lượng lân ở đáy ao
Hàm lượng lân tích trữ trong ao nuôi cá dao động trong khoảng 0,3-1,85 mg/g,
kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi hàm lượng lân trong nước cao thì xảy ra
quá trình hấp thu ở nền đáy, và ngược lại khi môi trường nước có hàm lượng
lân thấp thì xảy ra quá trình phóng thích (Thanh, 1997 trích dẫn bởi Lê Bảo
Ngọc, 2004).
Thức ăn (kg) 320
445
Nước cung cấp (kg) 16,1
16,1
Tổng số (kg) 345
476
Đầu ra Hữu cơ trong tôm (kg) 40,5
62,9
Tổng số (kg) 40,5
62,9
Tích trữ trong ao (kg) 305
413
Thức ăn (kg) 117
161
Nước cung cấp (kg) 4,76
4,76
Tổng số (kg) 127
171
Đầu ra
Đạm (N) trong tôm (kg) 22,4
38,0
Tổng số (kg) 22,4
38,0
Tích trữ trong ao (kg) 105
133