Tài liệu Tiểu Luận: PHÂN TÍCH NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM VỀ TUÂN THỦ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP - Pdf 10

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
BỘ MÔN KIỂM TOÁN
Bài tiểu luận :
PHÂN TÍCH NHỮNG TỒN TẠI TRONG CÁC
CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM VỀ TUÂN
THỦ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Thanh Mai
Nhóm thực hiện: Nhóm I (Thứ 5 – Ca 2)
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
DANH SÁCH NHÓM
1. Trần Thị Ánh
2. Nguyễn Thị Dương
3. Lê Thị Hà
4. Nguyễn Thị Thúy Hằng
5. Chu Thị Hiếu
6. Phạm Ngọc Hưng
7. Nguyễn Văn Nam
8. Lê Văn Nguyên
9. Phan Thu Thảo (nhóm trưởng)
10. Lê Thu Vinh
11. Đỗ Thị Hà Yến
MỤC LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
KTV Kiểm toán viên
CTKT Công ty kiểm toán
BCTC Báo cáo tài chính
BTC Bộ tài chính
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
NKT Nền kinh tế
NN Nhà Nước

tại, tìm nguyên nhân và biện pháp để hạn chế việc vi pham chuẩn mực đạo đức đối với
KTV hiện nay. Trong quá trình thảo luận, chúng em không tránh khỏi thiếu sót, rất
mong sự nhiệt tình đóng góp ý kiến của Cô và các bạn để bài tiểu luận được hoàn
thiện hơn.
Nhóm thảo luận xin chân thành cảm ơn!
5
Phần I. Tổng quan về chuẩn mực đạo đức
Tuân thủ chuẩn mực về đạo đức là một trong những điều kiện cần để hoạt động
kiểm toán đạt được chất lượng cao và hoàn thành tốt các mục tiêu đặt ra. Nhất là trong
thời kì nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, để đưa ra một quyết định đầu tư,
hay một chiến lược kinh doanh, hay thanh trừ loại bỏ những tổ chức kinh doanh hoạt
động yếu kém, góp phần đưa nền kinh tế phát triển bền vững, người ta cần đến những
dịch vụ kiểm toán. Với sự phát triển của nền kinh tế như thế, số lượng các dịch vụ
kiểm toán ngày càng nhiều kéo theo sự gia tăng không ngừng của số lượng người sử
dụng thông tin được kiểm toán để phục vụ nhu cầu của mình, vì thế nó đòi hỏi những
người làm kiểm toán phải có đạo đức nghề nghiệp và tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn
mực đạo đức khi thực hiện các cuộc kiểm toán. Việc tuân thủ các chuẩn mực đạo đức
sẽ góp phần nâng cao uy tín của nghề kiểm toán, bảo đảm chất lượng phục vụ khách
hàng, tạo niềm tin đối với người sử dụng thông tin. Vì thế việc tuân thủ chuẩn mực
đạo đức là một vấn đề hết sức quan trọng. Sau đây là một số các nguyên tắc cơ bản
trong chuẩn mực đạo đức.
1. Tính độc lập
a. Khái niệm và tầm quan trọng
Độc lập là một nguyên tắc hành nghề cơ bản của một kiểm toán viên, tính độc
lập thể hiện rằng trong quá trình kiểm toán hay cung cấp các dịch vụ kế toán, kiểm
toán viên hành nghề phải thực sự không bị chi phối hoặc bị tác động bởi bất kì lợi ích
vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập
nghề nghiệp của mình.
Độc lập được xem như là điều kiện cần để đạt được mục tiêu của hoạt động
kiểm toán. Kết quả kiểm toán sẽ không có giá trị khi những người sử dụng kết quả

- Nguy cơ tự kiểm tra: diễn ra khi các sản phẩm hay sự đánh giá từ một hợp đồng
kiểm toán trước đây, nay được đánh giá lại để có được kết luận hợp đồng kiểm toán
lần này là cùng do một người làm. Hoặc khi thành viên của nhóm kiểm toán trước đây
đã từng là giám đốc, nhân viên có chức vụ, ảnh hưởng đáng kể và trực tiếp tới vấn đề
trọng yếu của hợp đồng kiểm toán.
- Nguy cơ về sự bào chữa: diễn ra khi công ty hay thành viên kiểm toán xúc tiến
hoặc nhận thức được việc xúc tiến các giao dịch của khách hàng ( hay nói cách khác
việc đưa ra ý kiến của công ty hay thành viên kiểm toán bị phụ thuộc vào khách
hàng).
Ví dụ: Một thành viên của nhóm kiểm toán là người trung gian giao dịch hoặc xúc tiến
bán các loại: cổ phiếu, chứng khoán của khách hàng.
- Nguy cơ về quan hệ ruột thịt: diễn ra khi công ty hay thành viên kiểm toán thông
cảm với lợi ích của khách hàng vì có quan hệ ruột thịt( như anh em,vợ chồng, người
thân của giám đốc, kế toán trưởng, thành viên hội đồng quản trị của khách hàng, )
- Nguy cơ bị đe dọa: xảy ra khi thành viên trong nhóm kiểm toán bị uy hiếp, đe
dọa nhằm ngăn cản hành động theo đúng nguyên tắc khách quan từ phía giám đốc,
7
nhân viên giữ chức vụ có ảnh hưởng đáng kể của khách hàng. Chẳng hạn: đe dọa gây
thương tích, tính mạng,
d. Các biện pháp bảo vệ
Công ty hay nhóm kiểm toán có trách nhiệm giữ gìn tính độc lập bằng cách xem
xét hoàn cảnh thực tế của các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập và áp dụng các biện
pháp bảo vệ để loại bỏ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức có thể chấp nhận được.
Nếu là nguy cơ trọng yếu có ảnh hưởng rất nghiêm trọng thì phải hủy bỏ kết quả
kiểm toán, không trọng yếu thì có thẻ xem xét và áp dụng các biện pháp bảo vệ phù
hợp nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ tới mức có thể.
Có 2 loại biện pháp bảo vệ:
- Các biện pháp do pháp luật và chuẩn mực nghề nghiệp quy định, gồm có:
+ Yêu cầu về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp.
+Yêu cầu liên tục cập nhật, bổ sung kiến thức, kinh nghiệm cho kiểm toán viên.

2. Tính chính trực
- Tính chính trực đó là sự thể hiện tính trung thực, thẳng thắn, bất vụ lợi, sự tín
nhiệm
Một số nhân tố ảnh hưởng:
+ Công ty hay thành viên trong nhóm kiểm toán nhận quà biếu tặng, những lợi
ích mang lại từ phía khách hàng
+ Có mối quan hệ thâm tình, ơn huệ, hay có quan hệ với những nhân viên của
khách hàng, từ đó che giấu những thiếu sót, khuyết điểm của khách hàng
+Thành viên trong nhóm kiểm toán che giấu những thiếu xót, sai lầm của
những sản phẩm hay đánh giá trước kia mà nay có liên quan đến kết quả kiểm toán.
+Thành viên của nhóm kiểm toán nhận được chỉ thị từ cấp trên (người có liên
quan đến khách hàng) mặc dù biết đó là sai trái và ảnh hưởng nghiêm trọng tới kết quả
của cuộc kiểm toán,
- Tính khách quan: thể hiện sự công bằng, không phán quyết vội vàng, không áp
đặt , không gây sức ép cho người khác
Một số nhân tố ảnh hưởng khi xem xét tới tính khách quan:
+ Người làm kiểm toán trong các trường hợp phải chịu áp lực mạnh, có thể dẫn
tới vi phạm tính khách quan, chẳng hạn: bị chịu áp lực về mặt thời gian hoàn thành
kiểm toán, từ đó dẫn đến đưa ra quyết định vội vàng.
+ Người làm kiểm toán có các mối quan hệ dẫn dến sự thiên vị, bị ảnh hưởng
bởi người khác, hoặc có thành kiến, thù hằn với khách hàng.
Người làm kiểm toán phải có nghĩa vụ bảo đảm tôn trọng tính khách quan đối với các
quan hệ cá nhân liên quan đến dịch vụ chuyên nghiệp.
+ Kiểm toán viên nhận quà hoặc tặng quà, dự chiêu đãi hoặc mời chiêu đãi đến
mức có thể làm ảnh hưởng đáng kể tới các đánh giá nghề nghiệp hoặc tới những người
họ cùng làm việc. Quà tặng hoặc chiêu đãi là quan hệ tình cảm cần thiết nhưng người
làm làm kiểm toán nên tránh các trường hợp có thể ảnh hưởng đến tính chính trực,
khách quan hoặc dẫn đến tai tiếng nghề nghiệp.
Người làm kiểm toán không nên có liên quan đến các báo cáo, tờ khai, các trao đổi
hay các thông tin khác nếu họ tin rằng những thông tin này:

10
4. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng
Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thực hiện công việc kế toán
kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất và
tinh thần làm việc chuyên cần.Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì cập nhật và nâng
cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ kỹ
thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.
Nội dung: áp dụng với tất cả những người làm kế toán và những người làm kiểm toán:
- Người làm kế toán và người làm kiểm toán không được thể hiện là có những khả
năng và kinh nghiệm mà bản thân không có.
- Duy trì kiến thức và trình độ chuyên môn đạt yêu cầu quy định đảm bảo cung cấp
dịch vụ chuyên môn tốt nhất cho khách hàng hay chủ doanh nghiệp.
- Hành động đúng mực, phù hợp với những chuẩn mực về kỹ thuật và nghề nghiệp
khi cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp trao đổi thông tin và những thông tin sẽ công bố.
5. Tính bảo mật
Là sự giữ bí mật về thông tin của quá trình kiểm toán. Trong đó, người làm kiểm
toán phải bảo mật các thông tin có được trong quá trình kiểm toán; không được tiết lộ
bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có
nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn
nghề nghiệp của mình.
a. Nghĩa vụ và trách nhiệm của KTV
Tôn trọng nguyên tắc bảo mật các thông tin về khách hàng, ngay cả trong các mối
quan hệ gia đình và xã hội.
Trách nhiệm bảo mật phải được thực hiện kể cả sau khi chấm dứt mối quan hệ giữa
người làm kiểm toán với khách hàng.
Phải thực hiện nguyên tắc bảo mật trừ khi thông tin cần được cung cấp cho cơ quan
chức năng có liên quan hoặc trách nhiệm nghề nghiệp hoặc luật pháp yêu cầu phải báo
cáo.
Có nghĩa vụ đảm bảo các nhân viên dưới quyền và những người được mời tư vấn
cũng tôn trọng nguyên tắc bảo mật.

phẩm chất liêm chính được đánh giá theo nghĩa đúng đắn và công bằng. Phẩm chất
này đòi hỏi KTV phải tuân thủ cả về hình thức và tinh thần các chuẩn mực về đạo đức
12
và các chuẩn mực về kiểm toán. Phẩm chất trung thực cũng đòi hỏi KTV tuân thủ
nguyên tắc khách quan và độc lập, duy trì các chuẩn mực cao nhất về nhân cách và
hành vi nghề nghiệp, đưa ra các quyết định vì lợi ích của công chúng và áp dụng các
tiêu chuẩn cao về phẩm chất trung thực khi xử lí công việc và các nguồn lực của cơ
quan kiểm toán.
KTV phải là người có tính khách quan và công bằng trong tất cả các công việc
bao gồm việc lập các báo cáo trung thực và chính xác. Do đó các kết luận trong báo
cáo và ý kiến chỉ nên bị ảnh hưởng bởi các bằng chứng được thu thập theo các chuẩn
mực kiểm toán của cơ quan kiểm toán tối cao.
7. Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn:
KTV phải thực hiện công việc kiểm toán theo những chuẩn mực chuyên môn
đã quy định trong chuẩn mực kiểm toán VN hay chuẩn mực quốc tế được VN chấp
nhận và các quy định luật hiện hành. Các chuẩn mực kiểm toán này quy định các
nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục
cơ bản liên quan đến kiểm toán BCTC.
KTV phải thực hiện công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần
thiết, với sự thận trọng cao nhất và tính thần làm việc chuyên cần. KTV có nghĩa vụ
duy trì cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường
pháp lí và các tiến bộ kĩ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc. KTV cần phải có thái độ
hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán và
luôn ý thức rằng có thể tồn tại những tình huống dẫn đến những sai sót trọng yếu của
BCTC như khi nhận được bản giải trình đó là đúng, mà phải tìm đc những bằng chứng
cần thiết để chứng minh cho những giải trình đó. Điều đó nói lên rằng tính thận trọng
trong nghề nghiệp đúng mực chính là điều kiện cần có để xác định và kiến nghị đúng
đắn những cơ hội đem lại hiệu quả quản lí và có khả năng thu lợi nhuận tốt hơn.
Tuy vậy, các KTV trải qua nhiều giai đoạn trong quá trình phát triển nghề
nghiệp. Họ có trình độ năng lực khác nhau do mỗi cá nhận có kiến thức, kĩ năng và kĩ

40 triệu đồng.
14
Đáng chú ý là tổ chức kiểm toán đã bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh dịch vụ kiểm toán nhưng vẫn “âm thầm” tiếp tục kinh doanh các dịch vụ
chỉ bị phạt tiền từ 80-100 triệu đồng. Đối với hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán,
chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam nếu có hành vi vi phạm có
thể bị phạt từ 20-80 triệu đồng.
Nhiều nhà đầu tư và cổ đông, nhất là các doanh nghiệp niêm yết đặc biệt quan
tâm đến quy định rất quan trọng trong dự thảo là những thành viên tham gia cuộc
kiểm toán (cá nhân, tổ chức, các doanh nghiệp) thực hiện hành vi thông đồng, móc nối
với đơn vị được kiểm toán để làm sai lệch tài liệu kế toán, báo cáo tài chính, chỉ bị
phạt từ 20-30 triệu đồng.
Những kiểm toán viên “mất đạo đức” thực hiện kiểm toán cho khách hàng khi
khách hàng, đơn vị được kiểm toán có yêu cầu trái với đạo đức nghề nghiệp, trái với
yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc trái với quy định của pháp luật chỉ bị phạt từ
40 tới 60 triệu đồng. Tuy dự thảo có quy định thêm: Kiểm toán viên còn bị áp dụng
các hình phạt bổ sung như: bị cấm tham gia nhóm kiểm toán, cấm tham gia hoạt động
kiểm toán, buộc nộp lại số khoản lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi
phạm mà có, nhưng chưa quy định khoản lợi bất hợp pháp cụ thể là gì, tính toán ra sao
hay lại phải chờ một thông tư hướng dẫn thi hành nghị định của Bộ Tài chính.
Ở một số nước tiên tiến trên thế giới, quy định mức phạt trên từng mức lợi ích
đem lại từ sai phạm, ví dụ mức phạt tiền hành vi sai phạm bằng 3 - 5 lần mức lợi ích
do sai phạm đem lại. Quy định này thường khó thực hiện, nhưng tác dụng răn đe tốt
hơn nhiều. Thông tư 64/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính đã quy định, mức phạt cao
nhất là 10 lần mức phí kiểm toán của hợp đồng bị phạt, nhưng quy định này còn ít có
tiền lệ tại Việt Nam.
Sau đây, là 1 số ví dụ về các vụ xử phạt vi phạm của KTV và các CTKT trong
thực tế. Hầu hết các mức phạt này chưa đủ răn đe, vì giá trị trục lợi từ hành vi gian lận
lớn hơn rất nhiều so với mức phạt do vi phạm.
V í dụ 1 : Ngày 04-01-2012, lần đầu tiên UBCK xử phạt hành chính 3 KTV của Công

niêm yết và tổ chức kinh doanh chứng khoán (Quyết định 89/2007/QĐ-BTC); sau khi
phát hành báo cáo kiểm toán, các sai phạm nêu trên cũng không được thông báo cho
16
UBCKNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC, vi phạm
Điểm a Khoản 1 Điều 12 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC.
ii. Tại Báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính năm 2010 của Cty CP Quản lý Quỹ
SGI do Kiểm toán viên Tô Đình Hoài của Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán Hà
Nội lập đã không ghi ý kiến về các sai phạm của CtyCP Quản lý Quỹ SGI trong việc
cho các bên liên quan vay tiền và chưa tách bạch tài sản của nhà đầu tư ủy thác và tài
sản của Công ty, theo quy định tại Khoản 3 Điều 13 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC;
sau khi phát hành báo cáo kiểm toán, các sai phạm nêu trên cũng không được thông
báo cho UBCKNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC,
vi phạm Điểm a Khoản 1 Điều 12 Quyết định 89/2007/QĐ-BTC.
Xét tính chất và mức độ vi phạm, UBCKNN xử phạt vi phạm hành chính đối
với Kiểm toán viên Nguyễn Diệu Trang (Công ty trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ tài
chính Kế toán và Kiểm toán) và Kiểm toán viên Tô Đình Hoài (Công ty TNHH Kiểm
toán và Kế toán Hà Nội) như sau:
- Hình thức phạt chính: Phạt tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) đối
với mỗi kiểm toán viên trên theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 35 Nghị định
85/2010/NĐ-CP ngày 2/8/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định 85/2010/NĐ-CP).
- Hình thức phạt bổ sung: Đình chỉ có thời hạn tư cách được chấp thuận của
mỗi KTV nêu trên theo quy định tại Khoản 4 Điều 35 Nghị định85/2010/NĐ-CP.
Tuy nhiên, chưa có mức phạt nào được kiến nghị để xử phạt 2 CTKT liên quan trực
tiếp tới hai vụ việc trên.
2. Chênh lệch cung - cầu :
Trên chặng đường hơn 20 năm chuyển từ NKT hoạt động theo cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang NKT hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà
nước, tuy ngắn ngủi những đã tạo ra sức sống cho NKT, mở ra những cơ hội mới,
những thách thức mới cho các DN VN có thể tồn tại và phát triển. Nhưng đứng trước

Với số lượng KTV và các tổ chức kiểm toán như hiện nay không thể phủ nhận
sự phát triển của lĩnh vực kiểm toán, song sự phát triển đó vẫn chưa tương xứng với
nhu cầu hiện tại và vai trò, chức năng của lĩnh vực (nghề) kiểm toán. Chất lượng dịch
18
vụ của các CTKT cung cấp là tương đối tốt nhưng do môi trường tài chính VN chưa
chuyên nghiệp và minh bạch nên cũng gặp phải những khó khăn nhất định. Trình độ
năng lực chuyên môn cũng như đạo đức nghề nghiệp của KTV ngày càng được nâng
cao nhưng so với các nước tiên tiến trên thế giới vẫn có một khoảng cách khá xa.
Thực trạng trên xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
- NKT nước ta chưa đạt đến mức độ NKT thị trường đầy đủ, nên hoạt động kiểm
toán không phải lúc nào cũng được coi là một yêu cầu bức thiết. Việc mời các CTKT
cung cấp dịch vụ kiểm toán BCTC thường theo những mục tiêu riêng của mỗi đơn vị.
Do đó việc yêu cầu cung cấp dịch vụ kiểm toán bao giờ cũng đi kèm các điều kiện
nhằm đạt được mục tiêu đó.
- Hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập chưa
được ban hành, hướng dẫn đầy đủ và thống nhất. Các công ty kiểm toán có thể tiến
hành các công việc kiểm toán dựa trên các quyết định, nguyên tắc trong các chuẩn
mực kiểm toán VN hayquốc tế.
- Sự trợ giúp về chuyên môn và kỹ thuật của các hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp
chưa có tác dụng nhiều trong hoạt động của các công ty kiểm toán.
- Việc cung cấp dịch vụ còn chịu tác động của quy luật cung cầu, cạnh tranh. Do
vậy, giá phí kiểm toán thấp (đặc biệt đối với các công ty kiểm toán nhỏ) đã ảnh hưởng
rất lớn đến việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ các công việc kiểm toán.
- Chưa có một cơ chế quản lý, kiểm soát cụ thể đối với chất lượng của các cuộc
kiểm toán cũng như kết quả của nó.
- Các nhu cầu về công khai thông tin kế toán tài chính chưa trở thành thói quen, vì
vậy kết quả kiểm toán chưa thực sự quan trọng đối với các đối tượng sử dụng thông
tin.
Lĩnh vực kiểm toán ở Việt Nam đối với nhiều người còn mới mẻ nhưng trên thế
giới thì kiểm toán thực sự là một nghề rất phổ biến và đã có một quá trình phát triển

Bảng: Thông tin chung về doanh ngiệp sử dụng và chưa sử dụng dịch vụ kiểm toán
*Quy mô doanh nghiệp chỉ xét theo số lượng lao dộng theo quy định trong luật doanh
nghiệp 2005
**Dịch vụ bổ trợ kèm theo gồm: dịch vụ kế toán & làm sổ kế toán, dịch vụ tư vấn
quản lý, dịch vụ tư vấn & quyết toán thuế và các dịch vụ khác do công ty kiểm toán
độc lập cung cấp.
3. Hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé” trong nghành
Tại tất cả CTKT, đạo đức nghề nghiệp luôn là vấn đề được nhấn mạnh, nhưng
thực tế KTV có áp dụng hay không lại là câu chuyện khác. Ở VN hiện nay có 195
CTKT, nên hiện tượng “cá lớn nuốt cá bé” và tình trạng phân biết đối xử giữa những
CTKT lớn với CTKT nhỏ còn nhiều bất cập. Và đây là một trong những nguy cơ dẫn
20
đến hình vi vi phạm CM đạo đức của KTV: vi phạm tính độc lập, tính chính trực,
khách quan…
Nguyên nhân:
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhỏ với nhau: Nguyên nhân đầu tiên chính là
cuộc cạnh tranh quá khốc liệt trong nhóm CTKT nhỏ. Thương hiệu còn yếu, uy tín
chưa cao nên lợi thế cạnh tranh duy nhất của CTKT nhỏ nằm ở mức giá. Điều này đã
dẫn đến việc các CTKT nhỏ phải hạ giá, từ đó dẫn đến chất lượng không đảm bảo.
- Doanh nghiệp nhỏ bị chèn ép từ hai phía: Các công ty kiểm toán cũng bày tỏ bức
xúc về tình trạng phân biệt đối xử, thậm chí có biểu hiện “cá lớn nuốt cá bé” trong
ngành.
- Phân biệt đối xử: Tổng giám đốc, chủ tịch Hội đồng thành viên công ty AASC
Ngô Đức Đoàn, nêu ý kiến: các NHTM, nhất là các ngân hàng lớn luôn đặt yêu cầu
đối tác phải là một trong 4 hãng kiểm toán và tư vấn lớn nhất thế giới, bao gồm PWC,
Deloitte, Ernst &Young và KPMG (Big4). Bản thân Tổng công ty Đầu tư và Kinh
doanh vốn nhà nước (SCIC) cũng đặt ra rào cản cho các công ty trong nước khi chỉ
định Big4 kiểm toán tại các công ty có vốn nhà nước mà SCIC quản lý. Báo cáo của
VACPA cũng cho thấy, kết quả kinh doanh của nhóm Big4 vẫn tăng trưởng nhanh
trong năm 2011, trong khi các công ty kiểm toán trong nước chững lại.

KPMG nghiêm trọng và nặng hơn rất nhiều.
- “Cá lớn nuốt cá bé ”: Mặt khác, nhóm Big 4 có biểu hiện “cư xử không đẹp” khi
cạnh tranh không lành mạnh với các công ty kiểm toán trong nước. Theo quy định, giá
trị hợp đồng kiểm toán năm nay không được thấp hơn năm ngoái. Song có công ty
trong nhóm Big 4 đã ký hợp đồng kiểm toán với một doanh nghiệp chỉ là 30.000
USD, trong khi hợp đồng họ ký với một công ty kiểm toán trong nước năm trước là
50.000 USD. “Đây là một biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép các doanh
nghiệp nhỏ”, ông Tiến bức xúc.
4. M ối quan hệ giữa các công ty kiểm toán với khách hàng
Mối quan hệ giữa CTKT nói chung và giữa KTV với khách hàng nói riêng
mang bản chất là mối quan hệ kinh tế. Các KTV thông qua DN kiểm toán có trách
nhiệm cung cấp dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của các DN khách hàng và nhận được các
khoản chi trả của DN cho việc cung cấp các dịch vụ kiểm toán. Tuy nhiên, mối quan
22
hệ giữa các KTV và khách hàng không đơn thuần là quan hệ cung cấp dịch vụ thông
thường; mối quan hệ kiểm toán – khách hàng và môi trường làm việc của kiểm toán
viên. Một trong những khó khăn lớn của dịch vụ kiểm toán là vừa phải thực hiện chức
năng tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp vừa phải duy trì mối quan hệ tốt đẹp với
khách hàng.
Chính những yếu tố này tiềm ẩn nguy cơ suy giảm vai trò của kiểm toán trong
nền kinh tế và xói mòn giá trị của các dịch vụ kiểm toán. Bằng chứng của sự ảnh
hưởng của nhân tố trên là sự mở đường cho các hiện tượng gian lận, báo cáo sai số
liệu. Trong nhiều trường hợp hiện tượng trên có thể giải thích bằng sự cố gắng của các
công ty kiểm toán trong việc gia tăng khả năng cạnh tranh trong việc thỏa mãn nhu
cầu khách hàng về dịch vụ kiểm toán. Tuy nhiên, trọng tâm của hiện tượng này là sự
thiếu hụt về sự hiểu biết và tầm nhìn về giá trị của hoạt động kiểm toán mà nguyên
nhân có thể là:
- Sự xung đội lợi ích ngay trong mối quan hệ giữa KTV và khách hàng. Vấn đề cơ
bản trong mối quan hệ KTV và khách hàng là ở chỗ các KTV có xu hướng phụ thuộc
vào bộ máy quản lý của doanh nghiệp, những người trực tiếp quyết định tới việc ký

hoàn toàn.
- Như vậy, thay vì phục vụ cho lợi ích chung và đúng mục đích, tiền của doanh
nghiệp lại chảy vào túi riêng của một số người nắm giữ đầu mối về tài chính.
Ví dụ: Tòa án tỉnh Quảng Ngãi đã tuyên phạt tổng cộng 28 năm tù giam về tội “nhận
hối lộ” với bốn nhân viên kiểm toán trên khi thực hiện nhiệm vụ được giao vào tháng
8-2010 đã phạm vào tội "nhận hối lộ” với số tiền 490 triệu đồng từ các nhà thầu và
Ban quản lý dự án để giảm các khoản sẽ xuất toán và giảm thanh toán xuống. Ngoài
ra, việc bốn kiểm toán viên trên còn nhận số tiền bồi dưỡng 181 triệu đồng là trái với
quy định của Chính phủ. Đây là vụ án được đưa ra xét xử về tội "nhận hối lộ” lớn nhất
từ trước đến nay tại Quảng Ngãi.
24
PHẦN III. Giải pháp nâng cao năng lực và phẩm chất của
kiểm toán viên
1. Về phía nhà nước
- Sớm thiết lập môi trường pháp lý hoạt động kiểm toán trong điều kiện kinh tế thị
trường như hiện nay. Ban hành đầy đủ các văn bản pháp quy về kiểm toán trong đó có
nhấn mạnh vai trò quyền hạn và trách nhiệm đối với các KTV, các tổ chức và hội nghề
nghiệp.
- Phải xây dựng, quy hoạch và có chiến lược đào tạo bồi dưỡng KTV theo các giai
đoạn 5, 10, 15 năm và chiến lược lâu hơn nữa. Bên cạnh đó phải xây dựng nội dung
chương trình đào tạo kiến thức cho phù hợp trong từng thời kỳ, từng đối tượng, theo
trường mục tiêu kiểm toán hay tổ chức kiểm toán.
- Nhà nước cần mở rộng tăng cường năng lực, vai trò hoạt động và chất lượng của
các tổ chức nghề nghiệp, Hội nghề nghiệp kế toán kiểm toán, Hội đồng Quốc gia về
kế toán, các chuyên gia kế toán, kiểm toán, các KTV hành nghề.
- Nhà nước cần phải đảm bảo cho các CTKT cũng như các KTV có được sự cạnh
tranh trong khuôn khổ pháp luật, nâng cao năng lực và thế mạnh của các CTKT trong
nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực kiểm toán.
Nhà nước cũng cần nhanh chóng thừa nhận một chức danh nghề nghiệp của chuyên
gia kiểm toán nếu không muốn nghề nghiệp kiểm toán bị tụt hậu so với các nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status