1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ THỊ TIỂU MI
ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP CHO ĂN GIÁN ĐOẠN
LÊN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA CÁ TRA
( Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
3
TÓM TẮT Thí nghiệm đựơc tiến hành trong thời gian 12 tuần, nghiên cứu ả
nh hư
sự cho ăn gián đọan lên tăng trưởng của cá tra giống (P
angasianodon hypophthalmus
Trong suốt thời gian thí nghiệm cho ăn gián đọan, ở nghiệm thức đối chứng
(NT1)
1.5. Địa điểm nghiên cứu 2
Phần 2 3
Tổng quan tài liệu 3
2.1. Tình hình nghiên cứu, phát triển và việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá tra ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) 3
2.2. Đặc điểm sinh học cá tra 4
2.2.1. Hệ thống phân loại 4
2.2.2. Đặc điểm phân bố 5
2.2.3. Đăc điểm dinh dưỡng 5
2.2.4. Đặc điểm sinh trưởng 5
2.3. Nhu cầu dinh dưỡng của cá 6
2.3.1. Nhu cầu về protein (Nhu cầu về chất đạm) 6
2.3.2. Nhu cầu về năng lượng 6
2.3.3. Nhu cầu về lipid 7
2.3.4. Nhu cầu về carbohydrate 7
2.4. Một số nghiên cứu về phương thức cho ăn đối với sự tăng trưởng của cá 7
Phần 3 12
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Chuẩn bị thí nghiệm 12
3.1.1. Cá thí nghiệm 12
3.1.2. Quá trình thuần hóa trước thí nghiệm 12
3.1.3. Bể thí nghiệm 12
3.1.4. Thức ăn thí nghiệm 13
3.1.5. Các vật liệu thí nghiệm khác 13
3.2. Bố trí thí nhiệm 14
3.3. Chăm sóc theo dõi 14
3.4. Phương pháp thu mẫu và ghi nhận kết quả 15
3.5. Tính tóan một số chỉ tiêu 16
3.6. Phương pháp xử lý số liệu 16
Phần 4 17
nuôi cá tra, mà nhất là về thức ăn. Theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv., (2004),
trong điều kiện nuôi thủy sản nói chung, thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi
phí chung (50–75%). Tuy nhiên, cho cá ăn với khối lượng thức ăn nhiều hay tần
số cho ăn quá dày trong ngày không đồng nghĩa với vịêc cá sẽ tăng trọng nhanh,
ngược lại khi cá ăn một khối lượng lớn thức ăn cá sẽ tiêu hóa chậm, thức ăn
không sử dụng triệt để và làm giảm sự hấp thụ chất dinh dưỡng (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv., 2004). Bên cạnh đó, thức ăn không được cá sử dụng hết sẽ dẫn đến
ô nhiểm môi trường và kéo theo nhiều bệnh nguy hiểm xảy ra, mang lại hiệu quả
kinh tế thấp. Để góp phần khắc phục tình trạng trên, đề tài “Ảnh hưởng của cho
ăn gián đọan lên tăng trưởng của cá tra (Pangasianodon hypophthalms) gi
ống” được thực hiện. 61.2. Mục tiêu
Nhằm tìm ra phương pháp cho ăn hữu hiệu để tăng hiệu quả sử dụng thức
ăn và giảm chi phí thức ăn trong nuôi cá tra thâm canh.
1. 3. Nôi dung thực hiện
So sánh tăng trưởng, tỉ lệ sống, thành phần hóa học, của cá khi cho ăn
gián đọan khác nhau. Bên cạnh, theo dõi các chỉ tiêu về môi trường trong hệ
thống bể nuôi.
1.4. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009.
1.5. Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí tại Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ
lượng trên 1 triệu tấn, xuất khẩu trên 535.000 tấn qua 117 Quốc Gia, kim ngạch
xuất khẩu đạt 1250 tỷ USD (www.agriviet.com ).
Nghề nuôi cá tra phát triển mạnh cả về diện tích lẫn sản lượng. Trong vòng
10 năm từ 1997 đến 2006, diện tích cá tra tăng 7 lần, năng suất tăng 3,6 lần từ
225000 tấn đến 825000 tấn (VASHEP, 2007). Theo hiệp hội chế biến và xuất
khẩu Việt Nam (Vashep) cá tra là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2
của thủy sản Việt Nam sau mặt hang tôm, và đến cuối năm 2007 xuất khẩu cá tra,
cá basa đạt kỷ lục 1 tỷ USD (www.hptrad.com.vn).
ĐBSCL có truyền thống nuôi cá tra phổ biến trong bè, nuôi cá bè chiếm
phân nửa số tỉnh của vùng nhưng tập trung nhất ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp,
chiếm tới 60% số bè nuôi. Nghề nuôi cá tra hiện đã chủ động hòan tòan về con
giống, 100% giống cá tra cung cấp cho nuôi là từ sinh sản nhân tạo. Với sự phát
triển lâu đời và ngày càng phổ biến, kỹ thuật nuôi cá tra, ba sa rất đa dạng và
không ngừng được cải tiến để thích ứng với thực tế sản xuất. Loại thức ăn sử
dụng, phương pháp cho ăn và quản lý thức ăn cũng thay đổi nhiều tùy theo điều
kiện nuôi ở các vùng khác nhau.
Nuôi cá ao thì khoảng 76% số hộ nuôi ao ở khu vực Cần Thơ – Vĩnh Long
sử dụng thức ăn viên công nghiệp, cao hơn hơn kết quả báo cáo của Trương Quốc
Phú và Trần Thị Thanh Hiền (2003) với khoảng 46% hộ nuôi ao ở Cần Thơ sử
dụng thức ăn viên công nghiệp. Điều này cho thấy thức ăn viên ngày càng được
áp dụng rộng rãi hơn trong nuôi ao cá tra, basa. Sự khác biệt trong sử dụng thức
ăn giữa 2 hình thức nuôi được thể hiện rất rõ ở Long Xuyên. Ở hình thức nuôi ao,
tỷ lệ hộ nuôi sử dụng thức ăn tự chế và thức ăn viên công nghiệp là tương đương.
Trong khi đó, thức ăn tự chế với phương thức cho ăn phối hợp được áp dụng hết
sức phổ biến trong nuôi cá. Mặc dù thức ăn viên công nghiệp được chứng minh là
có những ưu điểm và được khuyến cáo sử dụng trong nuôi cá bè, thức ăn tự chế
8
sử dụng các nguyên liệu tươi sống vẫn đang là loại thức ăn phổ biến nhất ở
ĐBSCL. Việc sử dụng rộng rãi thức ăn loại thức ăn tự chế này đã và đang gây ra
Hầu hết người dân sử dụng thức ăn tự chế theo hướng phối hợp. Sử dụng thức ăn
viên trong tháng đầu, thức ăn tự chế trong các tháng giữa vụ và có thể bổ sung
thức ăn tự chế vào tháng cuối vụ. FCR trong nuôi cá ao nằm trong khoảng 2,0 –
3,5 nếu thức ăn tự chế và 1,5 – 1,7 nếu sử dụng thức ăn viên (Lê Thanh Hùng và
Hùynh Phạm Việt Huy, 2006).
2.2. Đặc điểm sinh học cá tra
2.2.1. Hệ thống phân loại
Theo W.Rainboth () cá tra thuộc:
Ngành: Chordata
Lớp: Osteichtheyes
Bộ: Siluriformes
9
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasianodon
Lòai: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878).
2.2.2. Đặc điểm phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt
Nam, Capuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, cá tra phân bố trên sông Tiền, sông
Hậu và nhiều nhất là vùng hạ lưu. Theo Nguyễn Văn Trọng và ctv., (1992) cho
biết trong bộ cá da trơn có 72 lòai, nhưng Phạm Văn Khánh (1996) cho biết riêng
họ Pangasiidae ở Châu Á có 2 giống và 21 loài. Riêng giống cá Tra có 19 loài
trong đó 9 loài phát hiện ở Việt Nam. Cacot (1999), cho biết ở hạ lưu sông Cửu
Long có 11 loài chủ yếu thuộc giống Pangasius trong đó có 2 loài nuôi rất phổ
biến ở ĐBSCL là cá tra và cá basa.
2.2.3. Đăc điểm dinh dưỡng
Cá tra là loài ăn tạp. Trong tự nhiên cá có thể ăn được mùn bã hữu cơ, rể
cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Cá nuôi trong ao sử sụng
được các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn nguyên, cám, tấm, rau
muống,…Thức ăn có nguồn gốc động vật sẽ giúp cá lớn nhanh hơn.
của cơ thể (Halver, 1989, trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004). Nhiệm vụ
chính của chất đạm chính là xây dựng cấu trúc cơ thể. Chất đạm trong thức ăn
cung cấp các amino acid qua quá trình tiêu hóa và thủy phân. Trong ống tiêu hóa,
các amino acid được hấp thụ vào máu và đi đến các mô, cơ quan, tham gia vào
quá trình sinh tổng hợp chất đạm của cơ thể phục vụ cho quá trình sinh trưởng,
sinh sản và duy trì cơ thể. Nếu thức ăn không cung cấp đầy đủ nhu cầu chất đạm
cá sẽ chậm hoặc ngừng tăng trưởng, thậm chí có thể giảm khối lượng. Mặt khác,
nếu hàm lượng chất đạm trong thức ăn vượt quá nhu cầu thì chỉ một phần được sử
dụng để tạo thành chất đạm mới, phần còn lại sẽ được chuyển hóa dạng năng
lượng, điều này làm giá thành thức ăn tăng lên là không cần thiết (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv., 2004)
Nhu cầu chất đạm là lượng chất đạm tối thiểu có trong thức ăn nhằm
thỏa mãn nhu yêu cầu các amino acid để đạt tăng trưởng tối đa (NRC, 1993).
Theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004 cá tra giống (2 – 3 gam) nhu cầu chất
đạm tối ưu là 38%.
2.3.2. Nhu cầu về năng lượng (energy)
Mọi họat động sống của một động vật đều cần năng lượng. Nhu cầu năng
lượng thực sự của cá rất khó xác định mà người ta dựa vào tỷ lệ và chất đạm tối
ưu. Tỷ lệ tối ưu này rất quan trọng bởi vì thức ăn vượt quá nhu cầu năng lượng sẽ
giảm sự bắt mồi của cá, ngược lại nếu thức ăn thiếu năng lượng thì chất đạm
trước tiên sẽ được dùng để cung cấp năng lượng thỏa mản nhu cầu của cơ thể
(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2003).
Nhu cầu năng lượng (thô) trong thức ăn cho cá Trơn là 2750 – 3100
kcal/kg. Ở cá Trơn, 1kg thức ăn cho 12,2 Mj thì cho cá tăng trọng 22,7 Mj (Trần
Thị Thanh Hiền và ctv., 2004).
11
10% thì thể trọng cá giảm không giữ được trọng lượng như trước. Điều đó cho
thấy thể trọng của cá thay đổi theo sự biến động của số lượng thức ăn.
Đặng Đình Tám (1995) đã nghiên cứu về nhịp cho ăn của cá bống tượng
(Oxyeleotris marmoratus), thí nghiệm được tiến hành với nhịp cho ăn như sau:
cho cá ăn từ 6 đến 18 giờ, 18giờ đến 8 giờ sáng hôm sau, cho cá ăn cả ngày và
đêm. Kết quả cho thấy cá ăn cả ngày và đêm cho tăng trưởng cao nhất.
12
Phạm Văn Huy (1996) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của khẩu phần ăn lên
sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá basa giống (Pangasius bocourti)
với bố trí với 5 nghịêm thức tương đương với các khẩu phần ăn theo trọng lượng
thân 1%, 3%, 6%, 9%, 12%. Kết quả là cá tăng trưởng cao nhất với khẩu phần
9%.
Trần Bình Tuyên (2000), nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các phương
thức và tần số cho ăn đối với sự tăng trưởng của cá tra bần (Pangasius kunyit). Về
phương pháp cho ăn, thí nghiệm được bố trí như sau: cá được cho ăn theo ban
ngày (từ 6 giờ sáng đến 18 giờ chiều cùng ngày), ban đêm (từ 18 giờ chiều đến 6
giờ sáng hôm sau), cả ngày và đêm. Kết quả cho thấy, phương thức cho ăn ban
đêm và ngày đêm cho cá tăng trưởng cao nhất. Về tần số cho ăn với nhịp 2, 3 và 4
lần/ngày cho kết quả nghiệm thức 3 lần/ngày cho cá tăng trưởng cao nhất.
Nguyễn Kim Thùy (2008) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tần số cho
ăn lên sự tăng trọng của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giai đọan giống,
thí nghịệm được tiến hành với 4 nghiệm thức với tần số cho ăn 2, 3, 4, 8 lần/ngày.
Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng cao nhất ở nghiệm thức 3lần/ngày. Tuy
nhiên, tốc độ tăng trưởng ở nghiệm thức cho ăn 2 và 3 lần/ngày không có ý nghĩa
về mặt thống kê, vì vậy cho ăn 2 lần/ ngày có hiệu quả kinh tế nhất.
Cá được cho ăn dưới nước. Nếu thức ăn không được sử dụng trong một
khỏang thời gian nào đó không chỉ có nghĩa là hao tốn chi phí mà còn giảm chất
lượng nước (Tom Levell, 1989). Vì vậy, khẩu phần ăn, phương thức cho ăn là
những yếu tố mà người nuôi cần chú ý để đầu tư thức ăn đúng mức mang lại hiệu
gián đoạn 1, 2 hoặc 4 tuần sau đó được cho ăn trở lại theo nhu cầu của cá. Kết quả
cho thấy, cá cho ăn gián đoạn 2 tuần có trọng lượng cơ thể cao hơn và FCR thấp
hơn cá được cho ăn hằng ngày. Các thành phần chất đạm, chất béo, tro, độ ẩm sau
khi kết thúc thí nghiệm không có sự khác nhau giữa các chế độ cho ăn (trừ thành
phần chất đạm trong cá cho ăn gián đoạn 4 tuần thì thấp hơn).
Theo kết quả nghiên cứu của Wang et al., (2008) khi nghiên cứu cho ăn
gián đọan ở cá rô phi (Oreochromis niloticus) có trọng lượng trung bình 6,6g sau
12 tuần thí nghiệm cá được cho ăn 2 lần một ngày ở các chế độ cho ăn: 1 tuần
không cho cá ăn: 2 tuần cho ăn trở lại, 2 tuần không cho cá ăn: 4 tuần cho ăn trở
lại, 4 tuần không cho cá ăn: 8 tuần cho ăn trở lại thì trọng lượng cơ thể thấp hơn
cá được cho ăn hằng ngày nhưng có SGR cao hơn. Không có sự khác biệt về hiệu
quả sử dụng chất đạm và thành phần hóa học trong cơ thể cá giữa các chế độ cho
ăn so với các được cho ăn hằng ngày.
Nghiên cứu về cho cá ăn gián đoạn trên bể được thực hiện bởi Chatakondi
et al ., (2001) với cá nheo Mỹ (I. punctatus) giai đoạn giống, cá được cho ăn hằng
ngày (đối chứng) theo nhu cầu và so sánh tăng trưởng với cá được cho ăn gián
đoạn 1, 2 và 3 ngày sau đó cho ăn trở lại thì tiêu thụ thức ăn cao hơn cá được cho
ăn hằng ngày. Sau 10 tuần thí nghiệm, nhịp độ tăng trưởng trung bình của cá ở
các nghiệm thức cho ăn gián đoạn là 40%, 180% và 191% tương ứng với các
nghiệm thức cho ăn gián đoạn 1, 2 và 3 ngày, cao hơn cá trong nghiệm thức đối
chứng. Hơn nữa, khối lượng cuối của cá chu kì gián đoạn cho ăn 3 ngày cao hơn
so với các nghiệm thức khác và các nghiệm thức có hiệu quả sử dụng thức ăn cao
hơn nghiệm thức đối chứng. Như vậy, thí nghiệm cho cá ăn gián đoạn trong ao
làm gia tăng sản lượng, hiệu quả sử dụng thức ăn tăng thì người nuôi cá có thể
giảm chi phí thức ăn và những vấn đề về chất lượng nước.
Wu et al., (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cho cá nheo Mỹ
(Ictalurus punctatus) trong ao đất, cá được ăn 1 lần/ngày, 2 lần/ ngày, cho ăn 1
14
lần/ ngày liên tục 6 ngày sau đó bỏ đói cá 1 ngày, khẩu phần ăn là 5% khối lượng
bảo tăng trưởng, hạn chế ô nhiễm môi trường.
Nghiên cứu của Eroldogan et al., (2008) về ảnh hưởng của các chế độ cho
ăn khác nhau trên cá Trác vàng (Sparus aurata) giai đoạn giống. Sau 48 ngày thí
nghiệm kết quả cho thấy với các chế độ cho cá ăn như: cho cá ăn 2 ngày:nghỉ 1
ngày, giảm 50% lượng thức ăn 2 ngày:2 ngày cho ăn bình thường theo nhu cầu,
giảm 50% lượng thức ăn 6 ngày:6 ngày cho ăn bình thường theo nhu cầu thì tăng
trưởng và tốc độ tăng trưởng đặt biệt của cá thấp hơn cá được cho ăn hằng ngày
theo nhu cầu. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng chất đạm và hệ số thức ăn của cá được
15
cho ăn giảm 50% lượng thức ăn 2 ngày:2 ngày cho ăn bình thường là tốt nhất.
Thành phần chất đạm của cá cho ăn chế độ giảm 50% lượng thức ăn 6 ngày:6
ngày cho ăn bình thường, ít hơn các chế độ cho ăn khác, trong khi các thành phần
lipit, tro, độ ẩm không có sự khác nhau giữa các chế độ cho ăn so với đối chứng.
Theo báo cáo của Li và Robinson (2006) trong mùa vụ sinh trưởng của cá
nheo Mỹ Ictalurus punctatus, người nuôi cá cho cá ăn 7 ngày trong tuần, nhưng
cũng có một số người họ thường cho cá ăn 6 ngày (ngày chủ nhật cá không được
cho ăn) hoặc 5 ngày trong tuần (ngày thứ 7 và ngày chủ nhật cá không được cho
ăn). Những tài liệu cho thấy, cá được cho ăn 6 ngày một tuần giảm 3,3% sản
lượng, và cá được ăn 5 ngày một tuần giảm 6,9% sản lượng so với cá được cho ăn
7 ngày một tuần trong mùa vụ tăng trưởng. Hệ số thức ăn giảm 4,8% và 7,9%
tương ứng cho cá được cho ăn 6 ngày và 5 ngày mỗi tuần so với cá được cho ăn
7 ngày mỗi tuần. Tuy nhiên, sản lượng cá cho ăn gián đoạn 1, 2 ngày/tuần và 1
ngày không cho ăn/5 ngày cho ăn không có sự khác nhau so với cá được cho ăn
hằng ngày. Tương tự khi tác giả thí nghiệm trên bể với các chế độ cho cá ăn gián
đoạn 0, 1, 2, 3, 4 ngày/tuần, 1:4, 3:7 (không cho ăn: cho ăn), cho thấy cá không
được cho ăn 1 ngày trong tuần tăng trưởng như cá được cho ăn hằng ngày, FCR
thấp nhất khi cá được cho ăn gián đoạn 2 ngày trong tuần. Kết quả này cho thấy
nuôi cá nheo Mỹ có thể cho cá ăn 5 hoặc 6 ngày trong tuần nhất là trong giai đoạn
kinh tế khó khăn có thể giảm được chi phi sản xuất.
Hình 3.1. Cá tra thí nghiệm.
3.1.2. Thuần cá trước thí nghiệm
Cá được thuần trong bể thí nghiệm một tuần trước khi thí nghiệm chính
thức được tiến hành để cá quen với môi trường sống mới. Trước khi thí nghiệm
thì xác định lại trọng lượng cá thí nghiệm.
3.1.3. Bể thí nghiệm
Bể thí nghiệm là 12 bể nhựa có thể tích tổng là 500 lít/bể, mỗi bể chứa 400
lít nước với chiều cao cột nước là 700 cm. Các bể được đánh số từ 1 đến 12 để bố
trí thí nghiệm và tiện theo dõi. Trước thí nghiệm bể được vệ sinh sạch bằng
chlorine và xà phòng rồi rửa lại bằng nước sạch. Bể sau đó được lắp đặt sục khí
17
và cho nước vào và sục khí liên tục một tuần cho bay hết chlorine. Nước cấp cho
bể là nước giếng. 3.1.4. Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn viên nổi phổ hiệu Cargill, đây
là một trong những lọai thức ăn được sử dụng phổ biến trong nuôi cá tra. Thức ăn
có kích cỡ viên là 2li.
Bảng 3.1. Thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm (theo nhà sản xuất).
Chỉ tiêu Thành phần hoá học
Ẩm độ
Tro
Đạm
Chất béo
Xơ
Năng lư
ợng (KJ/kg)
Nghiệm thức 4: cho cá ăn hàng ngày và liên tục 7 ngày sau đó gián
đoạn 4 ngày.
Khi cho ăn thì cho cá ăn 5-7%, nhưng theo dõi khi cá ăn no thì dừng lại
(cho ăn đến no). Mật độ cá bố trí là 50 con/bể và tổng thời gian thí nghiệm là 12
tuần.
3.3. Chăm sóc theo dõi
Trong quá trình thí nghiệm, cá được cho ăn 2 lần/ngày (sáng 9 giờ, chiều 17 giờ).
Lượng thức ăn cho cá với các khẩu phần định sẵn từ 5-7% và còn căn cứ thêm
vào khả năng sử dụng của cá. Hàng ngày theo dõi họat động của cá và đặc bịêt là
quản lí chặt chẽ thức ăn để tính chính xác lượng thức ăn mà cá sử dụng. Thức ăn
thừa được vớt ra khỏi bể và đếm số viên thức ăn. Xác định khối lượng bình quân
của 1 viên thức ăn bằng cách cân 30-50 viên thức ăn khô để tính ra khối lượng
trung bình của 1 viên thức ăn.
Môi trường: nhiệt độ đo 2 ngày/ lần và pH và Oxy thì đo hàng tuần.
Thay nước: nước trong bể được thay 20-30% hàng ngày bằng phương pháp
chảy tràn trước khi cho cá ăn vào buổi sáng và trước khi cho ăn vào buổi chiều.
19
Định kỳ (2-3 ngày) vệ sinh đáy bể thí nghiệm bằng cách dùng ống siphone cặn ở
đáy bể.
3.4. Phương pháp thu mẫu và ghi nhận kết quả
Sinh trưởng: thu mẫu mỗi 30 ngày. Khối lượng cá được xác định bằng cân
điện tử và chiều dài được xác định bằng thước đo, giấy kẻ mỗi ô 1 mm. Chiều dài
được tính là chiều dài chuẩn (từ chóp mõm đến cuống đuôi).
Thành phần hóa học: trước khi bố trí thí nghiệm bắt ngẫu nhiên 10 con cá
để phân tích thành phần sinh hóa. Sau khi thí nghiệm thu 5-7 con/bể để phân tích
trong dung dịch kiềm (Na0H) và hấp thu trong dung dịch
acid boric có sự hiện diện của chất chỉ thị metyl red. Sau đó chuẩn độ để xác định
hàm lượng đạm trong mẫu bằng H
2
S0
4
0,1N.
Chất xơ: được xác định bằng dung dịch thủy phân trong dung dịch axid và
bazơ, xơ thô là phần còn lại trong 2 dung dịch này.
Chất béo: xác định bằng phương pháp thủy phân trong hệ thống Soxlet
với dung môi là chloroform. Chất béo trong mẫu được chiết xuất nhờ quá trình
rửa tuần hòan của chloroform (nóng).
Carbohydrate ( NFE): NFE = 100 – (đạm + chất béo + xơ + tro + độ ẩm).
Năng lượng: đo bằng máy đo năng lượng Parr.
3.5. Tính tóan một số chỉ tiêu
20
Tỷ lệ sống (%) (survival rate - SR)
SR (%) = 100 x (số cá thu họach/số cá ban đầu).
Tăng khối lượng (weight gain - WG)
WG (g/con) = Khối lượng cuối (g/con) – Khối lượng đầu (g/con).
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (daily weight gain - DWG)
DWG (g/ngày) = (W
2
–W
1
)/T
Trong đó: W 21 22
Phần 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu môi trường
Trong thời gian thí nghiệm các yếu tố môi trường khá ổn định và không có
sự chênh lệch lớn giữa các nghiệm thức. Nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là
27,9
o
C và cao nhất là 29,9
o
C, dao động nhiệt độ trong ngày dưới 2
o
C. pH ít thay
đổi, từ 8,27-8,46. Trong điều kiện có sục khí thì oxy luôn >5 mg/L. Các yếu tố
môi trường của thí nghiệm rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cá
tra.
Bảng 4.1. Sự biến động của yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm
Nghiệm
Bảng 4.2. Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm
Nghiệm thức SR(%)
Ăn liên tục (đối chứng) 93,3±1,16
a
Gián đọan 2 ngày 88,7±6,43
a
Gián đọan 3 ngày
99,3±1,15
a
Gián đọan 4 ngày
98,7±1,15
a
Ghi chú:
- Tất cả các số liệu được trình bày dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn.
- Số liệu cùng một cột có cùng chữ thì khác biệt không có ý nghiã thống kê (p>0.05).
23
4.3 Tăng trưởng của cá
Khối lượng ban đầu của cá ở các nghiệm thức không chênh lệch nhiều
(26-27g/con), sau 84 ngày nuôi thì khối lượng cá dao động trong khoảng 52,5-
67,1 g/con. Khối lượng cá cao nhất ở nghiệm thức cho ăn gián đoạn 3 ngày
(67,1g) và thấp nhất ở nghiệm thức gián đoạn 4 ngày (52,5g). Tăng trọng cá thể
và tăng trưởng theo ngày của nghiệm thức cho ăn gián đoạn 3 ngày cao nhất (lần
lượt là 39,8g/con và 0,47g/con/ngày) và thấp nhất là ở nghiệm thức gián đoạn 4
ngày (tương tự là 25,1g/con và 0,3g/con/ngày). Kết quả phân tích thống kê thấy
khác biệt có ý nghĩa giữa nghiệm thức gián đoạn 4 ngày với các nghiệm thức còn
lại.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cá tra có khả năng phục hồi tăng trưởng sau
khi gián đoạn cho cá ăn. Tuy nhiên, điều quan trọng là mức độ phục hồi tăng
38,4±6,02
a
0,46±0,07
a
Gián đọan 2 ngày
27,1±0,61
58,4±1,67
ab
31,4±1,49
ab
0,37±0,02
ab
Gián đọan 3 ngày
27,3±0,46
67,1±4,80
a
39,8±5,03
a
0,47±0.06
a
Gián đọan 4 ngày
27,5±0,23
52,5±5,79b
25,1±5,66b
có ý nghĩa với nghiệm thức gián đoạn 2 ngày và gián đoạn 4 ngày về tăng trọng.
Từ ngày 60 thì thấy rõ sự sai khác về tăng khối lượng ở các nghiệm thức. Cao
nhất theo thứ tự các nghiệm thức (NT) 1, 3, 4 và 2 (Hình 4.1). Tuy nhiên, sự khác
biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê. Kết thúc thí nghiệm (84 ngày) thì
nghiệm thức cho ăn gián đọan 3 ngày có khối lượng cao nhất so với các nghiệm
thức còn lại, nhưng sự khác biệt này không có nghĩa về mặt thống kê (trừ nghiệm
thức 4 cho tăng trọng thấp nhất và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với
nghiệm thức 1 và 3).
Như vậy, cá tra có khả năng phục hồi tăng trưởng sau một thời gian gián
đoạn nhất định, khả năng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nuôi trồng thủy
sản. Sự đền bù tăng trưởng là một giai đọan tăng trưởng nhanh chóng của cá, tăng
trưởng nhanh hơn tăng trưởng bình thường hoặc tăng trưởng ngang bằng với tăng
trưởng bình thường, sau khi cho ăn đầy đủ lại thức ăn sau một khỏang thời gian
không cung cấp nguồn thức ăn (Weatherley and Gill, 1981). Khả năng thích nghi
đó như là một tiềm năng vốn có trong vòng đời của động vật, rất nhiều sinh vật có
sự phục hồi tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng từ việc cho ăn gián đoạn
sau một thời gian rồi cho ăn lại hàng ngày. Khi thức ăn được cung cấp trở lại sau
khoảng thời gian gián đoạn thì cá có thể tăng trưởng trở lại, thường được gọi là
25
đuổi kịp tốc độ tăng trưởng hay sự phục hồi tăng trưởng (Bulow,1970; Dodson
and Holmes,1984; Weatherley and Gill, 1981).
Tốc độ tăng trưởng đền bù của cá cho ăn gián đọan 3 ngày đã đuổi kịp với
tốc độ tăng trưởng của cá được cho ăn hàng ngày, và có thể cho tăng trưởng tối
ưu hơn cá được cho ăn bình thường. Một vài nghiên cứu cho thấy cá được cho ăn
hàng ngày có tốc độ tăng trưởng tối ưu nhất với các chế độ cho ăn khác nhau
nhưng vẫn không tách rời nguồn thức ăn cung cấp hàng ngày. Nguyễn Kim Thùy
(2008), khi nghiên cứu ảnh hưởng của tần số cho ăn lên tăng trưởng của cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) giống (18g), kết quả cho thấy cho cá tra ăn 2
lần/ngày (3-5% trọng lượng thân, đạm 35,2%) cho tốc độ tăng trưởng là 0,34