TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN NGUYỄN QUANG VINH ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG LẬP LẠI
FLORFENICOL LÊN TĂNG TRƯỞNG VÀ MỘT SỐ CHỈ
TIÊU HUYẾT HỌC CỦA CÁ TRA (Pangasianodon
hypophthalmus) GIỐNG NUÔI TRONG BỂ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH BỆNH HỌC THỦY SẢN
thống kê từ ngày 1-7 sau khi ăn kháng sinh. Ở tháng 2 từ ngày 1 -7 sau khi ăn
kháng sinh số lượng bạch cầu chỉ giảm có ý nghĩa thống kê ở nghiệm thức 200
mgFFC, các nghiệm thức còn lại giảm không có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ huyết sắc tố ở tháng 1, giảm sau 7 ngày cá ăn kháng sinh giữa các
nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng. ở
tháng 2 giữa các nghiệm thức đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê 7 ngày
sau khi cá ăn kháng sinh cả 4 nghiệm thức có thuốc tỷ lệ huyết sắc tố đều tăng
không có ý nghĩa thống kê.
Tăng trưởng của cá không bị ảnh hưởng của thuốc trong thời gian thí nghiệm.
Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng tương đối giữa các nghiệm
thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Hệ số tiêu tốn thức ăn ở các nghiệm thức có thuốc đều thấp hơn ở nghiệm thức
đối chứng.
Tỷ lệ sống đạt cao từ 95.3-98% sau 60 ngày thí nghiệm.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version ii
LỜI CẢM TẠ!
Xin chân thành cảm ơn!
Thầy Nguyễn Thanh Phương – Trưởng khoa thủy sản, cô Đỗ Thị Thanh
Hương - Trưởng bộ môn Dinh dưỡng và chế biến thủy sản – đã tạo điều kiện
và hướng dẫn thực hiện đề tài trong thời gian qua.
Chị Nguyễn Thị Kim Hà đã tận tình tình giúp đỡ, chỉ dẫn hoàn thành đề tài.
Các thầy cô khoa Thủy sản, trường ĐHCT đã chỉ dạy trong suốt thời gian học
tập ở trường.
Những người bạn đã giúp đỡ trong thời gian làm đề tài.
Chương 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Đặc diểm sinh lí 3
2.1.4 Đặc điểm hình thái 3
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.2 Các nghiên cứu về tồn lưu kháng sinh trên cá 4
2.3 Florfenicol và các nghiên cứu về florfenicol trong điều trị bệnh trên cá 5
2.4 Một số nghiên cứu về huyết học và tăng trưởng trên cá 7
Chương 3. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Vật liệu nghiên cứu 9
3.2 Phương pháp nghiên cứu 9
3.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu 12
3.4 Xử lý số liệu 16
Chương 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN 17
4.1 Các yếu tố môi trường 17
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version iv
4.1.1 TAN (NH
3
+
/NH
4
+
v
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Nhu cầu thức ăn của cá trong thời gian thí nghiệm 11
Bảng 4.1: Sự thay đổi số lượng hồng cầu (10
6
tb/mm
3
) giữa các nghiệm thức
trong thời gian thí nghiệm (tháng 1) 21
Bảng 4.2: Sự thay đổi số lượng hồng cầu (10
6
tb/mm
3
) giữa các nghiệm thức
trong thời gian thí nghiệm (tháng 2) 22
Bảng 4.3: Sự thay đổi số lượng bạch cầu (10
4
tb/mm
3
) giữa các nghiệm thức
trong thời gian nghiệm (tháng 1) 24
Bảng 4.4: Sự thay đổi số lượng bạch cầu (10
4
tb/mm
3
) giữa các nghiệm thức
trong thời gian nghiệm (tháng 2) 24
Bảng 4.5: Sự thay đổi tỷ lệ huyết sắc tố (%) giữa các nghiệm thức trong thời
gian thí nghiệm (tháng 1) 27
Hình 3.2 : Vị trí đếm hồng cầu trên buồng đếm Neubauer 14
Hình 3.3: Máy li tâm sigma 201m 15
Hình 4.1 Biến động TAN của các nghiệm thức 17
Hình 4.2 Biến động NO
2
của các nghiệm thức 18
Hình 4.3 Biến động NO
3
của các nghiệm thức 18
Hình 4.4 Biến động NH
3
của các nghiệm thức 19
Hình 4.5 Sự biến động pH giữa các các nghiệm thức trong quá trình thí
nghiệm. 20
Hình 4.6 Biến động nhiệt độ giữa các các nghiệm thức trong thời gian thí
nghiệm 21
Hình 4.7 Khối lượng cá sau 60 ngày thí nghiệm 29
Chương 1
GIỚI THIỆU
Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia.
Năm 2007 tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 3.752 triệu USD, tăng
4% so với kế hoạch, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2006, 9 tháng đầu năm
2008 Sản lượng thủy sản ước tính đạt 3408,5 nghìn tấn, tăng 10,3% so với
cùng kỳ năm trước, bao gồm: nuôi trồng 1828,5 nghìn tấn, tăng 20,9%; khai
thác 1580 nghìn tấn (nguồn báo điện tử ĐCSVN Ngày 8/2/2008). Trong đó cá
tra (Pangasianodon hypophthalmus) là đối tượng chủ lực của các tỉnh Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Lợi nhuận thu được từ các mô hình nuôi của những đối
tượng này đã góp phần làm diện tích nuôi không ngừng mở rộng. Cuối tháng
6/2008 diện tích nuôi cá tra của An Giang đạt 1400 ha, tăng 20,6%; Cần Thơ
1200 ha, tăng 22,1%; Vĩnh Long 450 ha, tăng 13,2%; Bến Tre trên 360 ha,
tăng 5 lần so với thời điểm cuối năm 2007 (agifish.com.vn 01/10/2008, nguồn
Vinanet). Tuy nhiên, do sự tăng nhanh diện tích nuôi và phát triển thiếu quy
hoạch, không đồng bộ như hiện nay đã kéo theo rất nhiều vấn đề làm ảnh
hưởng đến năng suất và chất lượng cá nuôi như sự suy thoái, ô nhiễm nguồn
nước, môi trường tự nhiên biến động bất thường, dịch bệnh xảy ra thường
xuyên ở cá có các bệnh phổ biến như: bệnh đốm trắng ở gan thận; bệnh xuất
huyết, lở loét, đốm đỏ, bệnh ký sinh trùng…Khi dịch bệnh xảy ra người nuôi
thường sử dụng các loại kháng sinh không đúng liều lượng hướng dẫn để trị
bệnh cho cá như oxytetracyline, furazolidone, streptomycin… Điều này đã
gây ra hiện tượng kháng thuốc ở một số chủng vi khuẩn vì vậy khi dịch bệnh
xảy ra lại thì tỷ lệ chết cao và bên cạnh đó là vấn đề tồn lưu lớn dư lượng chất
kháng sinh trong sản phẩm thuỷ sản.
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt của một số thị trường xuất khẩu
thủy sản về vấn đề dư lượng hóa chất, kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản
xuất khẩu, Bộ Thủy Sản ( nay là Bộ Nông Nghiệp & PTNT ) đã giao cho Viện
Nghiên cứu NTTS II nghiên cứu tìm ra các chất thay thế những hóa chất,
kháng sinh cấm sử dụng như Chloramphenicol (CAP), Nitrofuran, Malachite
.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
3
Chương 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
2.1.1 Vị trí phân loại
Bộ : Siluriformes
Họ : Pangasiidae Bleeker, 1858
Giống : Pangasius Valenciennes in Cuvier and Valenciennes, 1840
Loài : Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage 1878)
Hệ thống phân loại được cập nhật từ http:// www.itis.gov bởi Nguyễn Văn
Thường (2008).
2.1.2 Phân bố
Cá tra sống chủ yếu ở lưu vực sông Mê kông, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt
Nam, Campuchia và Thái lan (Nguyễn Văn Thường, 2008).
2.1.3 Đặc diểm sinh lí
Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ
(nồng độ muối 7-10
0
2.2 Các nghiên cứu về tồn lưu kháng sinh trên cá
Nghiên cứu của Xu, et al. (2005) trên cá rô phi (Oreocrhomis ninoticus) và
tôm thẻ Trung Quốc (Penaeus chinensis). Sau 7 ngày cho ăn kháng sinh mức
tồn lưu cao nhất của Enrofloxacin trên cơ cá rô phi là 3.610 μg/kg, ở gan 5.960
μg/kg. Trong khi đó lượng Ciprofloxacin được chuyển hóa ở cơ là 220 μg/kg,
ở gan là 350 μg/kg. Ở tôm thẻ Trung Quốc (Penaeus chinensis) lượng tồn lưu
của ENR và Ciprofloxacin trên cơ là 1.680 μg/kg và 70 μg/kg. Đối với cá tra
thí nghiệm, sau 7 ngày gây nhiễm Enrofloxacin, hàm lượng Enrofloxacin tồn
lưu trong cơ thịt là 2.796 μg/kg và Ciprofloxacin là 86,8 μg/kg .
Các nghiên cứu về sự đào thải Enrofloxacin trên các đối tượng khác cho thấy
Enrofloxacin đào thải rất nhanh. Gore, et al. (2005) nghiên cứu thời gian tích
lũy và đào thải của Enrofloxacin trên cá mực khối lượng thân từ 95,7 đến 129
g, với liều dùng là 10 mg/kg khối lượng cơ thể bằng phương pháp tiêm một
lần trực tiếp vào cơ thể và thu mẫu máu sau 1, 3, 6, 24 và 48 ngày. Sau 1 giờ
tiêm thì nồng độ Enrofloxacin cao nhất trong máu là 10,9 μg/ml máu. Tuy
nhiên không phát hiện tồn lưu của Enrofloxacin cũng như Ciprofloxacin trong
máu cá mực sau khi tiêm 24 giờ. Thời gian đào thải của Enrofloxacin trong cá
mực là rất nhanh.
Kết quả phân tích xác định thời gian tồn lưu Enrofloxacin trên cá tra của Trần
Minh Phú và ctv (2008). Cho thấy sau 1 tuần cho cá ăn thức ăn có chứa kháng
sinh thì hàm lượng Enrofloxacin tích luỹ trong cơ tăng dần từ ngày thứ 3
(1.108±789 μg/kg) đến ngày thứ 7 (2.796 ± 482 μg/kg). Trong quá trình cá ăn
thức ăn có chứa Enrofloxacin, đã có sự chuyển hoá của Enrofloxacin thành
Ciprofloxacin với hàm lượng 70,8±34,7 μg/kg sau 3 ngày cho ăn thức ăn có
chứa kháng sinh và đạt 86,8 ± 37,9 μg/kg sau 7 ngày. Sau 60 ngày cho cá ăn
thức ăn không có kháng sinh đã cho thấy có sự đào thải kháng sinh từ trong cá.
Hàm lượng Enrofloxacin còn lại sau 60 ngày ngừng cho ăn kháng sinh là
97,9±66,5 μg/kg, giảm 96,4% so với lượng tích lũy gây nhiễm ban đầu. Sự
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng khi sử dụng thịt còn tồn
dư một lượng lớn thuốc. Chính vì thế mà Bộ Thuỷ sản đã ra Quyết định số
07/2005/QĐ-BTS ngày 24/2/2005 về ban hành danh mục hoá chất, kháng sinh
cấm và hạn chế sử dụng trong đó có Chloramphenicol trong phòng, điều trị
bệnh trên động vật thủy sản.
Kể từ khi Chloramphenicol bị cấm sử dụng thì một số bệnh trên động vật thủy
điều trị không hiệu quả, người nuôi muốn sử dụng Chloramphenicol nhưng
không có nơi nào bán vì vi phạm quy định của pháp luật. Chính vì thế mà
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
6
Florfenicol (kháng sinh nhóm Phenicol) đã ra đời, không những có những tính
năng “thần kỳ” như Chloramphenicol mà còn khắc phục được các nhược điểm
gây nguy hiểm đến sức khỏe con người.
v
Công thức hóa học : C
12
H
14
Cl
2
FNO
4
S
v
Công thức cấu tạo :
Một nghiên cứu khác về florfenicol dùng điều trị bệnh nhiễm trùng do 2 loài vi
khuẩn A. salmonicida và Vibrio salmonicida gây ra trên cá hồi đại dương cho
thấy khi cho cá ăn thức ăn có trộn florfenicol với liều lượng 10 mg/kg/ngày
trong 10 ngày liên tiếp kết quả cho thấy cá ăn thức ăn có trộn florfenicol làm
giảm đáng kể tỷ lệ chết. Những cá bị nhiễm vi khuẩn A. salmonicida tỷ lệ chết
là 14% so với 18% không điều trị bằng florfenicol, những cá bị nhiễm vi
khuẩn Vibrio salmonicida tỷ lệ chết là 24% so với 97% không điều trị bằng
florfenicol (theo www.spaquaculture.com).
2.4 Một số nghiên cứu về huyết học và tăng trưởng trên cá
Theo Đỗ Thị Thanh Hương (1998), số lượng hồng cầu của cá chép, rô phi và
mè vinh gia tăng trong khoảng 24 giờ đầu khi tiếp xúc với thuốc trừ sâu
Basudin 40EC ở nồng độ LC
50
96 giờ. Ở thời điểm 12 giờ sau khi tiếp xúc với
thuốc số lượng hồng cầu tăng 1,3 – 1,6 lần ở cả 3 loài cá trên. Ở nồng độ LC
50
96 giờ hàm lượng hemoglobin và tỉ lệ huyết cầu (hematocrit) của 3 loài cá này
đều tăng ở thời điểm 12 giờ. Sinh trưởng của cá càng chậm khi sử dụng thuốc
với nồng độ càng cao.
Hàm lượng oxy hòa tan trong nước khác nhau không ảnh hưởng nhiều (p>0,5)
đến chỉ tiêu huyết học của cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus). Số lượng tế
bào hồng cầu của cá (21 g/con) trước khi thí nghiệm 1,88±0,27 triệu tế
bào/mm
3
so với 1,85±0,07 triệu tế bào/mm
3
(3,0 mg/l) và 1,83±0,14 triệu tế
bào/mm
3
Nhật Bản (Cyprinus carpio) đã cho thấy khi sử dụng oxytertracycline với
nồng độ 100 mg/l trong 3 ngày gây giảm bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu trung
tính của cá chép Nhật Bản (Cyprinus carpio). Khi sử dụng chloramphenicol ở
nồng độ 10 mg/l trong 10 ngày liên tiếp gây giảm tỉ lệ hồng cầu và gây thiếu
máu. PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
9
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Dụng cụ
- Bể hình chữ nhật 500 lít.
- Dụng cụ sục khí.
- Kim tiêm 1ml.
- Lame, lamelle.
3.2.3 Bố trí thí nghiệm
a. Bể thí nghiệm
Bể được sử dụng để bố trí thí nghiệm là bể hình chữ nhật có thể tích 500 l.
Hình 3.1 Hệ thống bể thí nghiệm
b. Cá thí nghiệm
Cá tra cỡ 26 g/con, lựa chọn cá khoẻ, không dị hình, màu sắc sáng tự nhiên và
không có dấu hiệu bệnh.
Cá trước khi đưa vào hệ thống thí nghiệm được nuôi dưỡng cho khoẻ và cho
cá ăn để quen với thức ăn thí nghiệm. Thời gian nuôi dưỡng khoảng 2 tuần.
Không cho cá ăn 1 ngày trước khi bố trí thí nghiệm. Sau đó bố trí cá ngẫu
nhiên vào hệ thống bể thí nghiệm với mật độ 50 con/bể.
Bể được sục khí liên tục kết hợp thay nước, siphon và chảy tràn.
c. Thức ăn
Sử dụng thức ăn Cargill cho cá ăn trong quá trình thí nghiệm. Thức ăn được
trộn kháng sinh với liều lượng đã định ( liều khuyến cáo 10 mg/kg cá/ngày,
liều cao 50 mg/kg cá/ngày, liều rất cao 100 mg/kg cá/ngày và 200 mg/kg
cá/ngày).
Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào 8 giờ và 16 giờ. Khẩu phần ăn 2% trọng lượng
thân/ngày trong những ngày cho ăn thức ăn có trộn thuốc, những ngày còn lại
cho ăn theo nhu cầu. Lượng thừa sẽ được loại bỏ sau 2-3 giờ cho ăn.
Cách trộn các nồng độ FFC vào thức ăn
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
11
Bảng 3.1: Nhu cầu thức ăn của cá trong thời gian thí nghiệm
Cách trộn:
Trộn 10mg FFC/ kgcá/ngày
50con x 26 g x 10 mgFFC/kg cá/ngày x 21 ngày x 3 bể = 819 mg FFC/1,31
là 2 tháng. Với 5 nghiệm thức :
• Nghiệm thức 1 : cho cá ăn thức ăn không trộn kháng sinh (đối
chứng)
• Nghiệm thức 2 : cho cá ăn thức ăn có trộn florfenicol với liều 10
mg/kg cá/ngày.
• Nghiệm thức 3 : cho cá ăn thức ăn có trộn florfenicol với liều 50
mg/kg cá/ngày.
• Nghiệm thức 4 : cho cá ăn thức ăn có trộn florfenicol với liều
100 mg/kg cá/ngày.
• Nghiệm thức 5 : cho cá ăn thức ăn có trộn florfenicol với liều
200 mg/kg cá/ngày.
Thời gian cho cá ăn kháng sinh : 7 ngày liên tiếp và được lặp lại 2 lần (1
lần/tháng).
Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần.
Các bể thí nghiệm được sục khí liên tục.
Định kỳ thay nước 2 lần/tuần, thay 20% nước/lần.
Các chỉ tiêu theo dõi và phân tích :
- Môi trường : nhiệt độ (
0
C), pH, DO, NO
3
-
, NO
2
-
, NH
4
+
/NH
3
cá ăn thức ăn có kháng sinh, ngày 7 sau khi ngưng cho cá ăn thức ăn có kháng
sinh. Mỗi bể thu 3 cá/1 lần.
Sau khi thu mẫu, mỗi tháng toàn bộ cá được thu để cân đo khối lượng và chiều
dài.
3.3.2 Phương pháp phân tích mẫu
- Phân tích mẫu môi trường:
NO
3
-
: Phân tích bằng phương pháp Salycilate.
NO
2
-
: Phân tích bằng phương pháp Giess llosway.
NH
4
+
/NH
3
: Phân tích bằng phương pháp Indophenol blue.
- Phân tích huyết học.
Định lượng hồng cầu :
Hồng cầu đựơc đếm theo phương pháp Bauer (1974), dùng buồng đếm
Neubauer. Nhuộm mẫu máu trong dung dịch Natt – Herrick.
Dung dịch Natt – Herrick :
NaCl 3,88 g
Na
2
SO
4
3
được tính theo công thức :
A =
02,0
200*a
Trong đó : A : Tổng số hồng cầu (10
6
tế bào/mm
3
)
a : Tổng số hồng cầu trên 5 vùng đếm.
200 : Độ pha loãng hồng cầu (1:200).
0.02 : Thể tích của 5 vùng đếm (5 x 16 x 0,0025 mm
2
x 0,1 mm)
Định lượng các tế bào bạch cầu :
Cho 1 giọt máu cá lên lame kính và trải đều, để khô ở nhiệt độ phòng, sau đó
ngâm trong methanol 1 đến 2 phút (Rowley, 1990). Nhuộm mẫu máu bằng
phương pháp nhuộm Wright’ s & Giemsa (Humason, 1979 trích dẫn bởi
Rowley, 1990). Các bước nhuộm mẫu :
- Nhuộm với dung dịch Wright trong 3-5 phút.
- Ngâm trong dung dịch pH 6,2-6,8 trong 5-6 phút.
- Nhuộm với dung dịch Giemsa trong 10-15 phút.
- Ngâm trong dung dịch pH 6,2 trong 10-15 phút.
- Rửa qua nước cất, để khô tự nhiên.
Quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 100X.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
100
WW
12
12
tt
LnLn
−
−
(%/ngày)
Với: W2 : Khối lượng cá cuối thí nghiệm
W1 : Khối lượng cá trước thí nghiệm
t2 : Thời gian bắt đầu (ngày)
t1 : Thời gian kết thúc (ngày)
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version
16
Tỉ lệ sống của cá (survival rate, SR)
SR =
100
N
n
(%)
n : Số lượng cá lúc thu hoạch.
N : Số lượng cá thả ban đầu.
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR):
Hệ số tiêu tốn thức ăn là lượng thức ăn động vật thực sự ăn vào để tăng một
đơn vị thể trọng. Thức ăn sử dụng được tính bằng khối lượng khô, cá nuôi
được tính bằng khối lượng tươi.
Thức ăn sử dụng (g)
0.000
0.200
0.400
0.600
0.800
1.000
1.200
1.400
1234
Lần thu
TAN (mg/L)
ĐC
10 mgFFC
50 mgFFC
100 mgFFC
200 mgFFC
Hình 4.1 Biến động TAN của các nghiệm thức
4.1.2 Nitrite
Hàm lượng NO
2
qua các lần thu mẫu dao động trong khoảng 0,09-0,76 mg/l.
Đạm nitrite rất độc đối với thuỷ sinh vật, theo khuyến cáo của Boyd et al.
(1998) và Timmons et al.(2002) (trích bởi Huỳnh Trường Giang và ctv, 2008)
hàm lượng NO2- trong ao nuôi thủy sản phải nhỏ hơn 1,0 mg/L.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version