TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
VÕ NGUYÊN MẪN
ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI KHẨU PHẦN CHO ĂN
LÊN TĂNG TRƯỞNG CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus) GIỐNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
2009
Luận văn tốt nghiệp: “Ảnh hưởng của thay đổi khẩu phần ăn lên tăng
trưởng của cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) giống” đã thực hiện và
bảo vệ ngày 18/07/2009. Luận văn đã được sửa lại theo sự góp ý của hội đồng và
được ký nhận của cán bộ hướng dẫn.
Cán bộ hướng dẫn Nguyễn Thanh Phương
qua mọi khó khăn để được như ngày nay.
Xin thành thật cảm ơn!
TÓM TẮT
Đề tài: “Ảnh hưởng của thay đổi khẩu phần ăn lên tăng trưởng của cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus) giống” được thực hiện nhằm tăng hiệu quả sử dụng
thức ăn và giảm chi phí sản xuất trong nuôi cá tra thâm canh. Thí nghiệm được bố trí
gồm 4 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, mỗi nghiệm thức lập lại 3 lần.
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Giới thiệu 1
1.2. Mục tiêu đề tài 1
1.3. Nội dung nghiên cứu 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Đặc điểm sinh học của cá tra 3
2.1.1. Phân loại 3
2.1.2. Đặc điểm hình thái 3
2.1.3. Phân bố 4
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5. Đặc điểm sinh trưởng 4
2.2.Nhu cầu dinh dưỡng của cá tra 5
2.2.1. Nhu cầu về đạm 5
2.2.2. Nhu cầu chất bột đường (carbohydrate) 6
2.2.3. Nhu cầu về chất béo 7
2.2.4. Nhu cầu năng lượng 8
2.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn viên công nghiệp trong nuôi cá tra thâm
canh……………………………………………………………………… 9
2.4 Một số nghiên cứu về khẩu phần ăn và phương pháp cho ăn 9
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 12
3.2 Vật liệu nghiên cứu 12
3.3 Thí nghiệm 12
3.3.1. Cá thí nghiệm 12
3.3.2 Thức ăn thí nghiệm 13
3.3.3. Hệ thống thí nghiệm 14
3.3.4. Bố trí thí nghiệm 14
3.4. Chăm sóc và quản lý 15
3.5. Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu cá, thức ăn và môi trường 15
3.6. Các chỉ tiêu thu thập và tính toán số liệu 16
Bảng 2.2.1: Nhu cầu về đạm của các loài cá da trơn…………………………… 5
Bảng 2.2.1 : So sánh nhu cầu protein của các loài cá 6
Bảng 3.3.2: Thành phần hóa học của thức ăn trong thí nghiệm……………… 13
Bảng 4.1: Biến động các yếu tố môi trường qua các nghiệm thức thí nghiệm…18
Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của cá thí nghiệm……………………………………… 19
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng của cá trong thí nghiệm 20
Bảng 4.4. Hệ số thức ăn, thức ăn ăn vào, hiệu quả sử dụng thức ăn……………….20
Bảng 4.5. Hiệu quả sử dụng protein của cá sau 10 tuần thí nghiệm……………23
Bảng 4.6. Thành phần hoá học cá trước và sau thí nghiệm ……………………24
DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1: Hình dạng cá tra………………………………………………………3
Hình 2.2.4: Chu trình chuyển hoá năng lượng trong cơ thể cá (Smith, 1989)… 8
Phần 1:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng nuôi trồng thủy sản lớn
nhất của cả nước, vùng này có khoảng 934.394 ha mặt nước tự nhiên thuận lợi
cho phát triển thủy sản và thủy sản đã trở thành một trong những ngành kinh
tế mũi nhọn của vùng và đất nước. Trong các loài thủy sản nuôi thì cá tra tra
là đối tượng nuôi truyền thống, phổ biến và hiện đang được nuôi thâm canh
với qui mô lớn ở các tỉnh ĐBSCL. Cá Tra là nguồn lợi thủy sản quý, cá có
nhiều đặc tính ưu việt như tăng trưởng nhanh, chất lượng thịt thơm ngon,
không có xương dăm, có khả năng hô hấp khí trời, việc sinh sản kiểm soát dễ
dàng và có giá trị tiêu dùng. Đặc biệt, việc sinh sản nhân tạo ca tra đã được
thực hiện thành công vào 1980 đã giúp cho nghề nuôi phát triển nhanh không
chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng nội địa và là nguyên liệu quan
trọng cho xuất khẩu sang nhiều nước Châu Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản và một số
nước Đông Nam Á khác. Theo hiệp hội chế biến và xuất khẩu Việt Nam (Vashep)
cá tra là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 của thủy sản Việt Nam sau
mặt hàng tôm, và đến cuối năm 2007 xuất khẩu cá tra, cá basa đạt kỷ lục 1 tỷ USD
(www.hptrad.com.vn).
Tuy nhiên, hiện nay nghề nuôi cá tra đang gặp nhiều khó khăn như chất
lượng giống giảm, thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản khó khăn, dịch bệnh
ngày càng phổ biến, ô nhiễm môi trường nuớc, giá thức ăn gia tăng, hiệu quả
kinh tế giảm,…Hơn nữa, thị trường xuất khẩu cá tra hiện gặp nhiều trở ngại,
giá cá xuất khẩu giảm thấp, trong khi giá thành sản phẩm cao làm cho rất
nhiều nhà sản xuất cũng như các hộ nông dân thua lỗ hay phá sản. Người sản
xuất đang rất cần giải pháp thích hợp để giảm chi phí sản xuất trong đó có chi
phí thức ăn vì chi phí này chiếm hơn 70% tổng chi phí (Nguyễn Thanh
Phương và ctv., 2004). Cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn của cá trong quá
Giống: Pangasianodon.
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage.1878)
Trước đây, cá tra có tên khoa học là Pangasius hypophthamus, P.
micronemus hay P. sutchi.
2.1.2. Đặc điểm hình thái
Cá có thân dài, không vẩy, màu sắc đen xám trên lưng, bụng hơi bạc, miệng
rộng, có hai đôi râu dài. Cá sống chủ yếu ở vùng nước ngọt, có thể sống ở vùng
nước lợ (10–14%o), cá có thể chịu đựng được nước phèn (pH lớn hơn 4) và cá
không chịu đựng được nhiệt độ dưới 15
o
C và chịu nóng đến 39
o
C (Phạm Văn
Khánh, 2001). 2.1.3. Phân bố
Cá tra là loài cá nuôi truyền thống trong ao của nông dân các tỉnh ĐBSCL.
Ngoài tự nhiên cá sống ở lưu vực sông Cửu Long (Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia và
Việt Nam) (Dương Nhựt Long, 2003).
2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng hay ăn thịt
lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được
cho ăn đầy đủ. Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn,
không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến
sinh dục. Dạ dày cá to và ruột ngắn thể hiện đặc điểm của cá thiên về ăn thịt. Ngay
khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau.
Cá tra trưởng thành là loài ăn tạp. Trong tự nhiên cá ăn được mùn bả hữu cơ, rễ
cây thủy sinh, rau quả, tôm tép, cua, côn trùng, ốc và cá. Cá nuôi trong ao sử dụng
được các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, thức ăn viên, cám, tấm, rau muống,… thức
ăn thủy sản thì nguồn nguyên liệu cung cấp chất đạm luôn là yếu tố được quan tâm đầu
tiên. Thường thì nguồn nguyên liệu cung cấp đạm có hàm lượng lớn hơn 30% tuỳ
thuộc vào nguồn gốc đạm động vật hay thực vật. Nhu cầu chất đạm tối ưu của các loài
cá trơn dao động từ 25–42% và thường từ 30–35% trong thức ăn. Tuy nhiên, các kết
quả này khác nhau giữa các loài cá cũng như giữa các tác giả trên cùng một đối tượng
nghiên cứu. Nguyên nhân là do nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu chất đạm của cá
như điều kiện môi trường, thức ăn thí nghiệm, mức độ cung cấp thức ăn, trạng thái sinh
lý của cá, phương pháp áp dụng để tính nhu cầu chất đạm,… (Trần Thị Thanh Hiền,
2003).
Bảng 2.2.1: Nhu cầu về đạm của các loài cá da trơn (trích dẫn của Trần Thị Thanh
Hiền và ctv, 2004)
Loài cá Trọng
lượng(g)
Nguồn protein Protein tối
ưu (%)
Tác giả
Cá nheo Mỹ
I. punctatus
7g Đạm trứng gà 32-36
Garling, 1976
69g Bột thịt, bột huyết, bột xương 26-32 Robinson, 1999
Cá trê trắng
C. batrachus
0,1g Bột cá + đậu nành 30
Chuapochu, 1987
Cá trê phi
C. gariepinus
40g
8
B
ột cá
40
Phương và ctv.,
2000
14
-
2235
Cá tra
P.hypophthalmus
2-3 Bột cá/bột đậu nành 38
Hiền và ctv., 2004
5-6 Bột cá 32,2 Hùng và ctv., 2000
Cá basa
P. bocourti
2-3 Bột cá/bột đậu nành 35
Hiền và ctv., 2004
5-6 Bột cá 27,8 Hùng và ctv., 2000
16
-
17
giai đoạn nuôi thịt cá tra dao động từ 18–28%. Những loài cá ăn tạp hay ăn thực vật
có nhu cầu đạm khoảng 25–35%, thấp hơn nhu cầu đạm của các loài cá ăn động vật
với nhu cầu khoảng 40–52% (Bảng 2.2.1).
Bảng 2.2.1: So sánh nhu cầu protein của các loài cá
Cá ăn tạp
Hay ăn thực vật
Nhu cầu
đạm (%)
Cá ăn động vật nước
ngọt hay nước mặn
Nhu cầu
đạm (%)
Cá chép Ấn Độ 25 – 28 Cá vược 43 – 52
Cá chép 30 – 35 Cá chẽm 40 – 52
Cá rô phi 28 – 35 Cá mú 45 – 50
Cá măng biển 23 – 27 Cá lóc 50 – 52
Cá nheo Mỹ 25 – 35 Cá chình 45 - 50
(Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2008)
Tuy nhiên, khi nói đến đạm không chỉ là hàm lượng mà còn phải chú ý đến
các axít amin tham gia cấu tạo nên chất đạm (đặc biệt là thành phần và tỷ lệ a-xít
amin thiết yếu trong protein). Nhu cầu chất đạm nói một cách chính xác hơn là nhu
cầu a-xít amin. Ngoài nhiệm vụ chính là cấu tạo nên chất đạm thì chúng còn là tiền
chất của một số sản phẩm trao đổi chất khác.
2.2.2. Nhu cầu chất bột đường (carbohydrate)
Chất bột đường là nguồn cung cấp năng lượng rẻ tiền nên khi phối trộn với tỷ
lệ thích hợp trong thức ăn sẽ giảm được giá thành thức ăn mà vẫn đảm bảo được sự
sinh trưởng của cá. Khả năng sử dụng chất bột đường của động vật thủy sản khác
nhau giữa các loài, trong đó tính ăn là khâu quyết định như những loài ăn thực vật có
Các loài cá trơn có thể sử dụng chất béo trong thức ăn khá lớn. Cá nheo Mỹ
vẫn tăng trưởng tốt ở mức chất béo 15% hoặc hơn (Wilson và Moreau, 1996).
Nhưng nếu chất béo trong thức ăn quá nhiều sẽ dẫn đến sự tích lũy mỡ trong thịt cá
nhiều làm giảm chất lượng cá, hơn nữa lượng chất béo nhiều còn làm ảnh hưởng
đến độ bền chặt của viên thức ăn và khó bảo quản. Wilson và ctv (1996) và đề nghị
mức chất béo thích hợp trong thức ăn của cá nheo Mỹ là từ 5–6%. Theo Nguyễn
Thanh Phương (1998) thì cá basa cho ăn 7,7% chất béo tăng trưởng tốt nhất và cá
giảm tăng trưởng khi lipid từ 11,3–20,8%. Wing (2000) cho biết cá lăng lớn nhanh
nhất ớ mức 8% dầu cọ thô hoặc tinh chế. Mức sử dụng tối đa chất béo trong thức ăn
của cá tra là 4–8% (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2004).
2.2.4. Nhu cầu năng lượng
Năng lượng là nhu cầu cần thiết cho mọi họat động của sinh vật. Động vật chỉ
sử dụng năng lượng từ thức ăn chứ không như thực vật sử dụng năng lượng từ mặt
trời vì thế cần phải cung cấp đầy đủ năng lượng cho động vật họat động. Thức ăn sẽ
được cá tiêu hóa và hấp thu vào cơ thể và thông qua quá trình oxy hóa các chất này sẽ
sinh ra năng lượng cho cơ thể động vật họat động và phát triển (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv, 2004). Hình 2.2.4: Chu trình chuyển hoá năng lượng trong cơ thể cá (Smith, 1989)
y
Sản phẩm bài tiết
Phân(25%)
Bài tiết qua nước tiểu
v
à
mang (8%)
Trao đổi chất (15%)
Hoạt động (8%)
Giữ thân nhiệt (10%)
trường nước (85% tổng số N
2
thải ra) nên cá ít phải tốn năng lượng hơn. Nhu cầu
năng lượng thô trong thức ăn cho cá trơn là 2.750–3.100 kcal/kg (Trần Thị
Thanh Hiền và ctv, 2004).
2.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng thức ăn viên công nghiệp trong nuôi
cá tra thâm canh
Theo tính toán của Hiệp hội Thủy sản các tỉnh, năm 2007 sản lượng cá tra
toàn vùng đạt hơn 1 triệu tấn, tiêu thụ gần 2 triệu tấn thức ăn công nghiệp
(). Năm 2004, có khoảng 18 công ty sản xuất thức ăn
cho cá và có nhiều loại sản phẩn xuất hiện ở các vùng nuôi. Một số công ty sản
xuất thức ăn với sản lượng lớn (60.000–120.000 tấn/ năm) như Proconco, Cargill
hay Greenfeed. Các công ty khác có công suất nhỏ hơn, khoảng 20.000–30.000
tấn/năm (Trần Văn Nhì, 2005).
Ưu điểm của thức ăn viên khô là có thể bảo quản lâu, chi phí bảo quản và
cứu tiến hành với 2 thí nghiệm là giải phẩu cá mỗi giờ để thu lượng thức ăn trong
dạ dày và cho cá ăn với khẩu phần ăn khác nhau. Kết quả thí nghiệm cho thấy sau
5 giờ thì không còn sự hiện diện của thức ăn trong dạ dày cá và cá tăng trưởng cao
nhất ở nghiệm thức có khẩu phần ăn 9%.
Nguyễn Phú Hòa và ctv. (2008) nghiên cứu về khả năng tiêu hóa các loại
mồi khác nhau của cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus bleeker, 1852). Kết
quả, chỉ số GaSI của cá bống tượng được cho ăn tép bò luôn cao hơn so với chỉ
số này khi cho ăn mè trắng bột. Theo nghiên cứu này thì khả năng tiêu hóa của
loại mồi khác nhau của cá bống tượng phụ thuộc vào bản chất của con mồi, kích
cỡ mồi và nhiệt độ môi trường. Còn theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv. (2004) thì
khi khối lượng thức ăn càng lớn thì độ tiêu hóa càng chậm và thức ăn cũng
không được sử dụng một cách triệt để. Khối lượng thức ăn không những làm
chậm tốc độ tiêu hóa mà còn làm giảm sự hấp thu chất dinh dưỡng.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thanh Tấn (2004) khi nghiên
cứu khẩu phần ăn của cá rô đồng (Anabas testudineus) cho thấy hệ số thức ăn
càng tăng khi khẩu phần tăng và ngược lại hệ số thức sử dụng đạm càng giảm
khi khẩu phần tăng. Kết quả của thí nghiệm cũng cho thấy cá rô đồng giống thích
hợp với khẩu phần 6% khối lượng cơ thể và cho ăn 4 lần/ ngày.
Theo báo cáo của Menghe và Robinson (2006) thì trong mùa sinh trưởng
của cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) một số người cho cá ăn 6 ngày hoặc 5
ngày trong tuần thì hệ số thức ăn giảm 4,8% và 7,9% tương ứng cho cá được
cho ăn 6 ngày và 5 ngày mỗi tuần so với cá được cho ăn mỗi ngày. Tuy nhiên,
sản lượng cá cho ăn gián đoạn 1, 2 ngày/tuần không có sự khác nhau so với cá
được cho ăn hằng ngày. Tương tự khi tác giả thí nghiệm trên bể với các chế độ
cho cá ăn gián đoạn 0, 1, 2, 3, 4 ngày/tuần, 1:4, 3:7 (không cho ăn: cho ăn) thì
thấy cá không được cho ăn 1 ngày trong tuần tăng trưởng như cá được cho ăn
hằng ngày, FCR thấp nhất khi cá được cho ăn gián đoạn 2 ngày trong tuần. Kết
quả này cho thấy nuôi cá nheo Mỹ có thể cho cá ăn 5 hoặc 6 ngày trong tuần
nhất là trong giai đoạn kinh tế khó khăn có thể giảm được chi phí sản xuất.
Nghiên cứu trên bể về chế độ cho cá ăn của cá hồi Đại Tây Dương (Salmo
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài
- Thời gian thực hiện: từ tháng 03/2009 đến tháng 07/2009.
- Địa điểm thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí tại khu thí nghiệm đề tài
ACIAR - Khoa Thủy Sản - Trường Đại học Cần Thơ.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
- 12 bể ximăng (khoảng 800 l/bể).
- Các hóa chất: formol, chlorine,…
- Máy đo pH; máy đo Oxy, nhiệt độ
- Hệ thống máy bơm, máy sục khí,.
- Cân điện tử 2 số lẻ, 4 số lẻ; cân 2 kg.
- Các dụng cụ dùng trong thí nghiệm dinh dưỡng như tủ nung, tủ sấy, tủ
nung, máy công phá đạm, máy xay,…
- Các dụng cụ khác: vợt, thau, xô, …
3.3 Thí nghiệm
3.3.1 Cá thí nghiệm
- Cá thí nghiệm có nguồn gốc sinh sản nhân tạo
- Chọn cá có kích cỡ đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc tươi sáng,
không dị hình, dị tật,….
- Cá thí nghiệm có khối lượng trung bình ban đầu 17,1 – 17,6 g/con
- Cá sau khi mua về được đưa vào bể giữ một tuần trước khi bố trí thí
nghiệm để cá quen với môi trường sống mới. Chọn những cá khỏe mạnh
làm thí nghiệm.
Hình 3.3.1: Cá thí nghiệm
3.3.2 Thức ăn thí nghiệm
Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm là thức ăn viên nổi phổ biến ngoài
thị trường với nhãn hiệu Cargill có hàm lượng đạm 30%.
cầu + 2 ngày tiếp theo giảm 50%.
- Nghiệm thức 3 (Giảm ăn 3 ngày): Cho cá ăn 7 ngày liên tục 100% nhu
cầu + 3 ngày tiếp theo giảm 50%.
- Nghiệm thức 4 (Giảm ăn 4 ngày): Cho cá ăn 7 ngày liên tục 100% nhu
cầu + 4 ngày tiếp theo giảm 50%.
Tất cả các nghiệm thức đều bố trí như nhau với mật độ 50 con/bể.
Thí nghiệm được bố trí trong 10 tuần.
3.4. Chăm sóc và quản lý
- Chế độ chăm sóc, cho ăn phải giống nhau giữa các bể.
- Cho cá ăn từ từ để cá kịp bắt mồi, cho ăn theo khẩu phần ăn định sẵn
nhưng cũng tùy vào khả năng sử dụng và tình trạng sức khỏe của cá.
Cho cá ăn 2 lần/ ngày (8h và 16h mỗi ngày), và vớt thức ăn thừa(nếu
có).
- Bể được sục khí liên tục, siphon khi thấy đáy bể dơ.
- Theo dõi thường xuyên hoạt động của cá, ghi nhận số cá chết (nếu có).
3.5 Phương pháp thu mẫu và phân tích mẫu cá, thức ăn và môi trường
a) Môi trường
Nhiệt độ, pH và Oxy thì đo mỗi tuần một lần (sáng và chiều) bằng máy
đo Kanna.
b) Sinh trưởng
Sinh trưởng của cá được xác định qua 3 lần thu mẫu, lần 1 thu 4 tuần sau khi
bắt đầu thí nghiệm và tiếp thu là mỗi 3 tuần. Cá được thu bằng cách cân toàn bộ số
cá trong bể và cân và đo 30 con trên mỗi bể.
Khối lượng cá thể được xác định bằng cân điện tử (cân từng cá thể), cân 2 kg
dùng cân tổng.
Chiều dài dược xác định bằng thước đo, chiều dài được xác định là chiều dài
chuẩn (từ chóp mõm đến cuống đuôi).
c) Phân tích thành phần hóa học của cá thí nghiệm
- Trước khi thí nghiệm bắt ngẫu nhiên 10 con cá để phân tích thành phần
.
- Bước 2: sau khi công phá thì chưng cất để giải phóng khí nitơ trong
dung dịch kiềm (NaOH) và hấp thụ trong dung dịch acid boric có sự
hiện diện của chất chỉ thị là Methylred.
- Bước 3: sau đó chuẩn độ để xác định hàm lượng nitơ trong mẫu phân
tích bằng H
2
SO
4
0,1N.
Tính % đạm thô (Crude protein) = %Nx6.25.
Lipid thô: được phân tích bằng phương pháp thủy phân trong hệ thống
Soxlet với dung môi là chloroform. Chất béo trong mẫu được chiết xuất
nhờ quá trình rửa tuần hoàn của chloroform (nóng).
3.6 Các chỉ tiêu thu thập và tính toán số liệu
- Tăng trọng bình quân cá thể (W - weight gain)
W (g/con) = Tổng khối lượng cá (g)/số cá
- Tỷ lệ sống (SR - surival rate, %)
SR (%) = 100 x (số cá sau thí nghiệm/số cá thể)
- Tốc độ tăng trưởng tương đối (SGR - specific growth rate - %/ngày)
SGR (%/ngày) = 100 x [(LnWc – LnWđ)/t]
- Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối (DWG - Daily weight gain, g/ngày)
DWG (g/ngày) = (Wc – Wđ)/t
Trong đó: Wc: khối lượng cuối
Wđ: khối lượng đầu
t: thời gian
- Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR - Feed conversion ratio)
FCR = Khối lượng thức ăn cho ăn/khối lượng cá gia tăng
- Hiệu quả sử dụng đạm (Protein efficiency ratio - PER)
PER = (Wc–Wđ)/đạm ăn vào