1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN PHẠM THỊ HỒNG
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN VÀ HÀM LƯỢNG CHẤT
HỮU CƠ ĐẾN SỰ HÒA TAN VÀ XỬ LÝ NƯỚC CỦA
OZON ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN VÀ HÀM LƯỢNG CHẤT
HỮU CƠ ĐẾN SỰ HÒA TAN VÀ XỬ LÝ NƯỚC CỦA
OZON
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts. Vũ Ngọc Út 2009
i
LỜI CẢM TẠ
hiệu quả và ngày càng được áp dụng rộng rãi là việc khử trùng nước bằng ozon.
Đề tài này được thực hiện nhằm nghiên cứu hiệu quả xử lý nước của ozon để
góp phần nâng cao tính bền vững của nghề nuôi Thủy Sản ở đồng bằng sông
Cửu Long. Vật liệu thí nghiệm bao gồm: máy ozon 4g/h, bể 100 lít, nước thải ao
nuôi thủy sản, nước mặn đã qua xử lý ozon được sục qua bể thông qua hệ thống
Ventury trong 5h sục khí liên tục. Ba thí nghiệm được bố trí với ba lần lặp lại.
Thí nghiệm 1: Xác định khả năng hòa tan và hiệu quả xử lý nước của ozon ở
từng độ mặn khác nhau. Thí nghiệm 2: Xác định sự ảnh hưởng của hàm lượng
chất hữu cơ khác nhau đến sự hòa tan và xử lý nước cuả ozon. Thí nghiệm 3:
Đánh giá khả năng hòa tan và xử lý của ozon trong nước có độ mặn khác nhau
với cùng hàm lượng chất hữu cơ. Kết quả cho thấy khả năng hòa tan và hiệu quả
xử lý nước của ozon tăng cùng với độ mặn và hàm lượng chất hữu cơ trong suốt
quá trình xử lý ozon. Tương ứng với các độ mặn 0 ‰, 5 ‰, 10 ‰, 15 ‰, 20 ‰,
25 ‰ ozon đạt mức bão hòa lần lượt 0.13 mg/L, 0.19 mg/L, 0.23 mg/L, 0.25
mg/L, 0.3 mg/L và 0.32 mg/L. Ở thí nghiệm 2 khi nồng độ ozon đạt 0.22 mg/L
làm giảm đáng kể hàm lượng TAN (80%), TSS (80%), OSS (60%) và nitrite (
88%) đồng thời nitrate tăng mạnh và ít biến động khi nồng độ ozon đã bão hòa.
Trong môi trường nước lợ mặn với cùng hàm lượng chất hữu cơ các yếu tố chất
lượng nước vẫn còn biến động trong quá trình xử lý ozon.
iii
MỤC LỤC PHẦN 1: GIỚI THIỆU 1
PHẦN 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1.Chất thải và các biện pháp xử lí nước thải 3
2.2.Ozone và những ứng dụng của Ozone trong nuôi trồng thủy sản 4
2.2.1.Sơ lược về Ozone 4
4.3.1 Nồng độ ozon hòa tan trong nước có độ mặn và hàm lượng chất
hữu cơ khác nhau 31
4.3.2 Biến động các yếu tố môi trường sau khi xử lý ozon 32
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề xuất 39
PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 43 v
DANH SÁCH BẢNG Bảng 4.1 Biến động nhiệt độ ở các độ mặn khác nhau trong suốt quá trình sục
ozon…………………………………………………………………………….15
Bảng 4.2 Biến động pH ở các độ mặn khác nhau trong suốt quá trình sục
ozon 16
Bảng 4.3 Biến động nhiệt độ ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt
quá trình xử lý
ozon…………………………………………………………………….………24
Bảng 4.4 Biến động pH ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt quá
trình xử lý ozon…………………………………………………………… …25
Bảng 4.5 Biến động nhiệt độ trong các nghiệm thức được xử lý ozon ở các độ
mặn khác nhau và có cùng hàm lượng chất hữu
cơ………………………………………………………………………………32
quátrìnhxửlýozon………………………………………………………………26
Hình 4.12 Biến động TSS ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt quá
trìnhxử lýozon………………………………………………………………… 27
Hình 4.13 Biến động OSS ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt
quátrìnhxửlýozon……………………………………………………………….28
Hình 4.14 Biến động TAN ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt
thờigiansụcozon……………………………………………………………… 28
Hình 4.15 Biến động Nitrite ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt
quátrìnhsục ozon……………………………………………………………… 29
vii
Hình 4.16 Biến động Nitrate ở các hàm lượng chất hữu cơ khác nhau trong suốt
quátrìnhsục ozon……………………………………………………………… 30
Hình 4.16 Hàm lượng ozon hòa tan ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng
chấthữucơ theo thời gian……………………………………………………… 31
Hình 4.18 Biến động DO ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất hữu
cơtrongsuốtthờigianxửlýozon……………………………………………… 34
Hình 4.19 Biến động COD ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất hữu
cơtrongsuốtthời gian xử lý ozon……………………………………………… 35
Hình 4.20 Biến động TSS ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất hữu
cơtrongsuốtthờigianxửlý zon………………………………………………… 35
Hình 4.21 Biến động OSS ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất hữu
cơtrongsuốtthời gian xử lý ozon……………………………………………… 36
Hình 4.22 Hàm lượng TAN ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất
hữucơtrongsuốtthờigianxửlyozon……………………………….…………….36
Hình 4.23 Hàm lượng Nitrite ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất
hữucơtrongsuốtthờigianxửlýozon…………………………… …………… 37
Hình 4.24 Hàm lượng Nitrate ở các độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất
hữucơtrongsuốt thời gian xử lý ozon……………………………….………… 38
chất lơ lửng trong nước (theo Lucchetti and Gray, 1988 – trích dẫn bởi Võ Tuấn
Kiệt, 2005 ) và tốc độ diệt khuẩn nhanh hơn nhiều lần so với Chlorine (theo
Majumdar và Sproul, 1974– trích dẫn bởi Võ Tuấn Kiệt, 2005 ).
Cùng với việc tăng diện tích và sản lượng nuôi nói trên thì vấn đề
cần quan tâm nhất là làm thế nào để giảm thiểu tối đa lượng chất thải, ngăn ngừa
mầm bệnh là điều đặc biệt quan tâm. Với những ưu điểm nêu trên của Ozon,
trong thực trạng nghề nuôi thủy sản hiện nay, đề tài “Ảnh hưởng của độ mặn và
hàm lượng chất hữu cơ đến sự hòa tan và xử lí nước của Ozon” là rất cần thiết
để thực hiện nhằm khảo sát sự ảnh hưởng của Ozon lên các nồng độ muối và
2
hàm lượng chất hữu cơ khác nhau, để cung cấp thêm thông tin cần thiết về triển
vọng và ứng dụng của Ozon trong nghề nuôi thủy sản.
Mục tiêu đề tài:
Mục tiêu tổng quát: Việc xử lý nước bằng ozon nhằm cải thiện
chất lượng nước trong Nuôi Trồng Thủy Sản, góp phần trong sự phát triển
bền vững của nghề nuôi thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Mục tiêu cụ thể: Đánh giá hiệu quả của Ozon trong việc xử lí nước
ở các độ mặn và hàm lượng chất hữu cơ khác nhau nhằm góp phần hạn chế tối
đa mầm bệnh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước trong các hệ thống nuôi
Thủy Sản.
Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu khả năng hòa tan và hiệu quả xử lí nước của Ozon ở các độ
mặn khác nhau.
-Nghiên cứu khả năng hòa tan và hiệu quả xử lí của ozon trong nước có
hàm lượng chất hữu cơ khác nhau.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng chất hữu cơ ở độ mặn khác nhau
đến khả năng hòa tan và xử lí nước của Ozone.
2
S, SO
2
,
Theo bản tin của hội nghề cá Việt Nam- số 148-05.2008 hiện nay vấn đề quản
lý và xử lý nguồn bùn thải, chất thải nuôi trồng thủy sản hạn chế, chưa đáp ứng
các tiêu chuẩn môi trường, đây là vấn đề hết sức bức xúc trong nuôi trồng thủy
sản ở khu vực ÐBSCL làm mất cân bằng sinh thái trong nuôi trồng thủy sản thể
hiện rõ nét ở vấn đề dịch bệnh phát sinh trên diện rộng do ô nhiễm môi trường ở
các mô hình nuôi thâm canh cá tra, cá ba sa chết hàng loạt ở một số chủ nuôi cá
bè trên sông ở vùng nước ngọt, dịch bệnh tôm nuôi đã phát sinh hơn 20 - 60%
diện tích nuôi ở các tỉnh ven biển Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng
Theo Trịnh Ngọc Tuấn (2005) thì nước thải công nghiệp, sinh hoạt xả
trực tiếp vào kênh mương, sông hồ lại là nguồn nước chính cung cấp cho Nuôi
trồng thủy sản. Kết quả điều tra nghiên cứu những năm gần đây của viện nghiên
cứu Nuôi Trồng Thủy Sản 1 cho thấy lượng COD, BOD, NO
2
… trong các thủy
vực Nuôi Trồng Thủy Sản đều cao hơn mức cho phép đối với đời sống thủy sinh
vật, hàm lượng kim loại nặng cũng cao hơn so với tiêu chuẩn Việt Nam 6774 –
2000 và các chất gây ô nhiễm trong nước chủ yếu là do: cacbon hữu cơ, Nitơ và
Phospho được phân hủy từ Protein.
4
Với sự bùng phát của nghề nuôi tôm hiện nay thì việc thải chất dinh
dưỡng dư thừa, thuốc và hóa chất chưa được xử lí vào môi trường xung quanh
ngày càng nhiều. Theo Briggs và Funge – Smith, 1994; Teichert – Coddington
và ctv,2000; Thakur và Lin, 2003; Jackson và ctv, 2003 – trích dẫn bởi Bùi Đắc
Thuyết (2007) thì chất dinh dưỡng cung cấp cho tôm nuôi 60 – 98% N, 87 –
94% P không được hấp thu vào sinh khối tôm mà thải ra môi trường xung quanh.
C, điểm sôi: -111.9
0
C.
(http:/www.dtdauto.com/dtozone.doc).
Ozon được phát hiện vào năm 1840 khi một nhà khoa học người Đức
Schonbein đầu tiên đã sản xuất và xác định nó. Năm 1888 ông đã sáng chế ra
5
một thiết bị sử dụng ozon để khử mùi cống rãnh và hòa tan vào trong nước để
tẩy uế nước bị ô nhiễm. Ozon được sử dụng như một thuốc diệt khuẩn, khử mùi,
khử màu ( Graham, 1997 – trích dẫn bởi Tameka, 2005 ).
Theo Joseph (2005) Ozone được tạo ra trong tự nhiên có màu hơi xanh,
mùi đặc thù. Khi ozon và điện năng tương tác ozon được tạo ra nhiều nên dễ
nhận thấy mùi ozon xung quanh máy móc, xe máy điện hay trong thời gian hàn
điện. Trong tự nhiên thì nồng độ ozon 0.01 – 0.15ppm và đạt cao trong các khu
đô thị. Ngoài ra ozon còn bảo vệ trái đất khỏi tia tử ngoại. Ozon không bền
vững, khó bảo quản, dễ phân giải trong thời gian ngắn, nếu được tiếp xúc với hơi
nước, bạc… thì sự phân giải sẽ nhanh hơn. O
3
khi phân giải tạo thành phân tử
oxy và nguyên tử oxy (O
3
→ O
2
+ O).
Sự phân hủy của ozon tăng nhanh phụ thuộc vào 2 yếu tố: tăng nhiệt độ
và tăng pH.
Ozone truyền vào pha khí qua pha lỏng bằng khuếch tán qua mặt phân
cách khí/ nước và lượng ozone hấp thụ tăng với: Sự khác nhau về nồng độ giữa
hai pha, thời gian tiếp xúc giữa các bọt khí trong chất lỏng, tỉ số giữa diện tích
cao.
Ozone là chất oxy hoá rất mạnh, hoàn toàn có thể thay thế các hoá chất
trong xử lý nước. Trong nước ozone phân huỷ rất nhanh thành oxy phân tử và
oxy nguyên tử. tốc độ phân huỷ của ozone trong nước tăng theo nồng độ muối,
pH, và nhiệt độ. ozone có khả năng oxy hoá Phenol và không để lại mùi vị gì.
Ozone có khả năng oxy hoá nhanh các ion Fe
2+
, Mn
2+
, S
2-
, NO
-
2
nhưng lại
không oxy hoá NH
4
+
(Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 1999 – trích bởi Nguyễn Lê Hoàng
Yến, 2005).
Theo Kai (1997) việc sát trùng cũng đạt nhiều kết quả trên cơ thể sinh
vật và thường dùng một số chất phổ biến như Chlorine, Bromine, ozon…trong
thời gian nhất định tùy từng trường hợp cụ thể và ozon đem lại hiệu quả rất cao.
Ozon rất có hiệu quả trong xử lí nước thải, khử trùng nước.Đặc biệt trong tái chế
nước thải trong dự trữ thực phẩm và thuốc. Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến khả
năng hòa tan và làm ổn định khí thoát ra môi trường bên ngoài. Khi nhiệt độ tăng
cao ozon phân hủy thành oxy phân tử rất nhanh. Trong sản xuất ozon sẽ phát
sinh ra nhiệt, sau khi ozon hòa tan vào nước thì có hiệu quả tẩy trùng rất cao.
Ozon có tính hòa tan giống oxy.
3
, và các nông dược có trong nước.
Do bản chất là một tác nhân oxy hóa mạnh nên ozone có thời gian phản ứng
nhanh và thời gian tiếp xúc ngắn.
Theo Rice ( 1986 ) hàm lượng ozone 0.44ppm trong 4 phút thì vi khuẩn,
virus bị tiêu diệt 99,9%.
Theo Bablon (1991) thì pH ảnh hưởng đến khả năng hòa tan của Ozone
trong nước, đối với pH = 8.5 hay pH = 9 thì khả năng hòa tan của Ozone lần lượt
là 4.25 và 15 lần so với pH = 8.0.
Ozone có thể ứng dụng trong nuôi cá tra nhằm làm giảm lượng vi khuẩn
một cách đáng kể, ngoài ra ozone còn có khả năng giảm mùi để tạo sự dễ chịu
trong việc chế biến thực phẩm thủy sản và còn có thể thay thế Chlorine, đem lại
hiệu quả diệt khuẩn rất cao và có thể áp dụng xử lí nước thải trong nuôi cá da
trơn ( Tapp & Sopher, 2007 ).
Ngoài ra khả năng diệt khuẩn của ozone trong nước rất cao: khi hòa tan
ozone vào trong nước thì mật độ vi khuẩn giảm đi mạnh hơn so với sử dụng
Chlorine và đặc biệt không tạo ra chất Trihalogenmetan (THM) gây độc như
dùng Chlorine ( Nguyễn Lê Hoàng Yến, 2005).
Chlorine là hóa chất oxy hóa mạnh dùng để diệt khuẩn với chi phí thấp.
Tuy nhiên ít được ưa chuộng bởi nó tạo thành những hợp chất có thể gây độc.
Ozon xuất hiện được xem như là một giải pháp với nhiều ưu điểm và được sử
dụng phổ biến ở Châu Âu và Mỹ (Turk, 1999 – trích dẫn bởi Tạ Văn Phương,
2006). Ozon có thể thay thế Chlorine để diệt khuẩn cho nhiều mục đích khác
8
nhau, bởi Ozon có tính oxy hóa mạnh tương đương với Chlorine (Bilozor, 1985).
Tuy nhiên tùy từng điều kiện cụ thể mà ứng dụng cho phù hợp. Nước xử lý bằng
Ozon thì mật độ vi khuẩn trong nước giảm mạnh hơn so với nước xử lý bằng
chlorine. Từ đó cho thấy khả năng diệt tổng vi khuẩn trong nước của Ozon mạnh
hơn chlorine từ 3-5 lần so với Chlorine (Burton, 1981- trích dẫn bởi Tạ Văn
thời số lương vi khuẩn cũng giảm đi rất nhiều. Ngoài ra trong sản xuất giống
Ozone được dùng để xử lí nước có thể thay thế hoàn tòan Chlorine.
Trong ương ấu trùng tôm sú qua hệ thống lọc sinh học kết hợp Ozone với
nồng độ 0.1-0.2 ppm thì hàm lượng NH
4
+
, NO
2
–
và vi khuẩn tổng giảm đáng
kể nhưng không ảnh hưởng đến hệ thống lọc sinh học. Nồng độ Ozone thích hợp
trong bể ương là 0.15 – 0.2 ppm và lọc sinh học 0 – 0.15 nếu cao hơn sẽ ảnh
hưởng đến hệ thống lọc (theo Diệp Tuấn Khanh, 2005).
Theo Lưu Thị Mỹ Tho (2007) thì hàm lượng Ozone tăng dần theo thời gian
sục Ozone, tăng nhanh nhất sau 60 phút đầu và đạt 0.13 ppm, sau 120 phút hàm
lượng ổn định và đạt 0.1 ppm.
9
Hiện nay các sản phẩm sinh ozone đang được ứng dụng rộng rãi trong xử
lý nước nuôi tôm, dùng làm sạch trong chế biến các thực phẩm thuỷ sản (giữ cho
thực phẩm tươi, làm mất mùi tanh ).
Độ mặn ở các nghiệm thức được pha từ nước ót 80‰ và nước máy đã qua
xử lí với tổng thể tích của mỗi nghiệm thức là 100L.
- Nghiệm thức 0 ‰: 100 L nước máy.
- Nghiệm thức 5 ‰: 93.75 L nước máy + 6.25 L nước ót.
- Nghiệm thức 10 ‰: 87.5 L nước máy + 12.5 L nước ót.
- Nghiệm thức 15 ‰: 81.25 L nước máy + 18.75 L nước ót.
11
- Nghiệm thức 20 ‰: 75 L nước máy + 25 L nước ót.
- Nghiệm thức 25 ‰: 68.75 L nước máy + 31.25 L nước ót.
Cho vào mỗi bể là 100lít nước với độ mặn lần lượt 0 ‰; 5 ‰;10 ‰; 15 ‰;
20 ‰; 25 ‰ Khí ozone được đưa vào trong nước qua hệ thống ventury với máy
tạo ozone công suất 4g/giờ và được sục liên tục.
+ 60 phút đầu: xác định nồng độ của Ozone tăng tối đa trong 60 phút đầu
sục Ozone thông qua việc kiểm tra nồng độ ozone với thời gian 10p/lần.
+ Sau 60 phút: bổ sung vào mỗi bể 2 mg/L NH
4
+
Cl
-
. Ozone được sục liên
tục trong 5h và kiểm tra nồng độ ozone với thời gian kiểm tra 30 ph/lần. Các yếu
tố thủy lí cũng được thu mẫu cùng lúc với thời gian kiểm tra nồng độ Ozon.
Các chỉ tiêu thu mẫu bao gồm: Nhiệt độ, pH, DO, COD, TSS, OSS, TAN
(NH
4
+
/NH
3
), N-NO
2
), N-NO
2
-
, N-NO
3
-
.
12
3.3.3 Thí nghiệm 3 : Đánh giá khả năng hòa tan và xử lý của ozon trong
nước có độ mặn khác nhau có cùng hàm lượng chất hữu cơ
Mục tiêu của thí nghiệm này là đánh giá hiệu quả oxy hóa chất hữu cơ
cũng như khả năng diệt khuẩn của Ozone trong môi trường hợp chất hữu cơ và
độ mặn khác nhau.
Thí nghiệm gồm có 3 nghiệm thức và 1 nghiệm thức đối chứng và mỗi
nghiệm thức được lặp lại 3 lần và bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên.
- Nghiệm thức đối chứng: nước 0 ‰ với 50 % nước ao nuôi cá tra
- Nghiệm thức 1: nước 5 ‰ với 50 % nước môi trường ao nuôi cá tra: pha
50 lít nước có độ mặn là 10‰ ( 6.25 L nước ót + 43.57 L nước máy) + 50 lít
nước thải từ ao nuôi cá tra trộn đều trong bể 100 lít
- Nghiệm thức 2: nước 10 ‰ với 50 % nước môi trường ao nuôi cá tra: pha
50 lít nước có độ mặn là 20‰ ( 12.5 L nước ót + 37.5 L nước máy)+ 50 lít nước
thải từ ao nuôi cá tra trộn đều trong bể 100 lít
- Nghiệm thức 3: nước 15 ‰ với 50 % nước môi trường ao nuôi cá tra: pha
50 lít nước có độ mặn là 30 ‰ ( 18.75 L nước ót + 31.25 L nước máy) + 50 lít
nước thải từ ao nuôi cá tra trộn đều trong bể 100 lít
Nước thí nghiệm được lấy từ nước ao nuôi cá tra.
Cho vào mỗi bể là 100 lít nước đã pha như trên. Khí ozone được đưa vào
trong nước qua hệ thống Ventury từ máy ozone công suất 4g/giờ và được sục
liên tục trong 5h và được kiểm tra 30 ph/lần. Các yếu tố thủy lí hóa cũng được
3
: Xác định bằng phương pháp Indo-Phenol blue (Arnold và
ctv,1992)
- N-NO
2
-
: Xác định bằng phương pháp Diazonium (Arnold và ctv,1992)
- N-NO
3
-
: Xác định bằng phương pháp Salicylate (Arnold và ctv,1992)
- TSS/OSS: phương pháp trọng lượng. Sấy ở 105
0
C và đốt ở 505
0
C.
3.5 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu được được xử lí bằng phần mềm Excel và so sánh thống kê
bằng phần mền statistica 6.0.
14
0.35
0.40
0 10 20 30 40 50 60 90 120 150 180 210 240 270 300 330 360
thoi gian suc ozon (phut)
nong do (mg/L)
0‰ 5‰ 10‰
15‰ 20‰ 25‰
15
và cao hơn nước ngọt. Ngoài ra do nhiệt độ thí nghiệm tăng dần nên nồng độ
ozon hòa tan có khuynh hướng giảm theo thời gian sục ozon.
4.1.2 Biến động các yếu tố môi trường khi xử lý ozon.
4.1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ở các nghiệm thức trong thí nghiệm đều tăng dần theo thời gian
sục ozon. Sau 6h sục ozon thì nhiệt độ ở các nghiệm thức 0 ‰, 5 ‰, 10 ‰, 15
‰, 20 ‰, 25 ‰ đều tăng rất cao (Bảng 4.1) và không có sự chênh lệch quá lớn
giữa các nghiệm thức. Do khi bố trí thí nghiệm, bắt đầu thu mẫu từ 9h sáng và
kết thúc lúc 15h nên nhiệt độ trong ngày tăng dẫn đến nhiệt độ trong bể cũng
tăng theo, ngoài ra sự tăng nhiệt độ của nước còn do hơi nóng của máy lan tỏa
vào nước trong quá trình sục ozon.
Bảng 4.1 Biến động nhiệt độ ở các độ mặn khác nhau trong suốt quá trình
sục ozon
Nghiệm thức
T G
(phút)
0 ‰ 5 ‰ 10 ‰ 15 ‰ 20 ‰ 25 ‰
0
29±0.00 28±0.00 27±0.00 26.67±0.58 27±0.00 27±0.00
10
35±0.00 36±0.00 34.33±0.58 34.33±0.58 34±0.00 34±0.00
300
35±0.00 36±0.00 34.67±0.58 35.33±0.58 34.83±0.29 34.5±0.00
330
36±0.00 36.83±0.29 35.33±0.58 35.67±0.58 35±0.00 35±0.00
360
36±0.00 37±0.00 36±0.00 36.33±0.58 35.67±0.58 36±0.00
Theo Ben – Atia (1997) thì nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến sự hòa tan của
ozon. Nhiệt độ càng tăng thì khả năng hòa tan của ozon càng giảm (Bablon et
al., 1991).
16
4.1.2.2 pH
Trong suốt thời gian thí nghiệm pH thay đổi không đáng kể so với ban đầu.
Ở nghiệm thức 0 ‰ thì pH tăng dần theo thời gian sục ozon dao động trong
khoảng 6.9 - 8.0, các nghiệm thức 5 ‰, 10 ‰, 15 ‰, 20 ‰ , 25 ‰ thì giá trị pH
tăng rất ít dao động trong khoảng lần lượt là 6.9 – 7.2, 7.2 – 7.33, 7.3 – 7.47,
7.03 – 7.27, 7.4 – 7.6. Sự biến động pH ở các độ mặn khác nhau trong suốt quá
trình sục ozon được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Biến động pH ở các độ mặn khác nhau trong suốt quá trình sục
ozon
Nghiệm thức
T G
(phút)
0 ‰ 5 ‰ 10 ‰ 15 ‰ 20 ‰ 25 ‰
330
7.85±0.00 7.2±0.00 7.33 ±0.16 7.4±0.00 7.23±0.06 7.5±0.00
360
7.80±0.00 7.2±0.00 7.33 ±0.17 7.4±0.00 7.27±0.06 7.53±0.06
Theo Bablon et al,.( 1991) nước có độ pH càng cao thì khả năng hòa tan
của ozon vào nước càng nhanh. pH tăng nhanh thì khả năng hòa tan và tồn lưu
của ozon giảm dần (Nguyễn Nguyên Hy, 2001). Theo Tạ Văn Phương (2005)
thì pH tăng không đáng kể 8.16 – 8.29 trong 60 phút sục ozon. Theo các kết quả
nghiên cứu thì pH tăng không đáng kể trong quá trình sục ozon.