khảo sát sự biến động mật độ vi khuẩn bacillus subtilis trong bể nuôi tôm sú (penaeus monodon) - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÂM TRUNG TÍNH
KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG MẬT ĐỘ VI KHUẨN
BACILLUS SUBTILIS TRONG BỂ NUÔI TÔM SÚ
(PENAEUS MONODON)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THUỶ SẢN
2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÂM TRUNG TÍNH
KHẢO SÁT SỰ BIẾN ĐỘNG MẬT ĐỘ VI KHUẨN
BACILLUS SUBTILIS TRONG BỂ NUÔI TÔM SÚ
(PENAEUS MONODON)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THUỶ SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ths. PHẠM THỊ TUYẾT NGÂN
2009

i
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thuỷ Sản,
Quý Thầy Cô và toàn thể cán bộ Khoa Thuỷ Sản đã tận tình giúp đỡ, tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập. Đặc biệt tôi sinh chân
thành biết ơn cô Phạm Thị Tuyết Ngân và chị Liễu Như Ý cùng các cán bộ bộ
môn Thuỷ Sinh Học Ứng Dụng, các bạn lớp Bệnh Học Thuỷ Sản K 31 đã tận
tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ để tôi hoàn thành luân văn.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, đặc biệt là cha mẹ

thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p< 0.05). Mật độ tổng vi khuẩn trung bình
trong bùn chủng 9, 41 và 67 lần lượt là 5,2 x 10
7
, 6,7x 10
6
, 6,7 x 10
6
CFU/g, còn đối
chứng 3,8 x 10
8
CFU/g . Trong nước chủng 9, 41 và 67 lần lượt là 3,7 x 10
5
, 4,3x 10
5
,
57 x ,10
5
CFU/ml, còn đối chứng 5 x 10
7
CFU/ml, có số lượng tăng cao khác biệt có ý
nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (p< 0.05). Mật độ vi khuẩn Vibrio
trong bùn, chủng 9, 41 và 67 lần lượt là 7,6 x 10
1
, 2,1x 10
2
và 3,7 x 10
2
CFU/g, thấp
hơn nhiều so với đối chứng (5,8 x 10
4

2.1.4 Tập tính ăn và loại thức ăn 4
2.1.5 Lột xác 4
2.2 Sự siến động các yếu tố thuỷ lý trong ao nuôi thuỷ sản 4
2.2.1 Nhiệt độ 4
2.2.2 pH 4
2.2.3 Độ mặn 5
2.2.4 Oxy hoà tan (DO) 5
2.3 Sử dụng chế phẩm sinh học (Probiotic) trong nuôi trồng thủy sản 5
2.3.1 Sơ lược về probiotic 5
3.2.2 Tình hình sử dụng probiotic trong nuôi trồng thủy sản 6
2.4 Đặc điểm sinh học của Bacillus subtilis 7
2.4.1 Vị trí phân loại 7
2.4.2 Quá trình hình thành bào tử ở Bacillus subtilis 7
2.4.3 Vai trò của Bacillus subtilis 8
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu. 10
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 10
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 10
3.2 Phương pháp nghiên cứu 10
3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị: 10
3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 10
3.2.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu nước 12
3.2.4 Phương pháp thu mẫu bùn 14
3.2.4.1 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn 14
3.2.5 Xác định các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá của vi khuẩn Bacillus subtilis. 15
3.2.6 Phương pháp xác định sự biến động các yếu tố thuỷ lý 15
3.2.7 Cách cho ăn và quản lý tôm nuôi thí nghiệm 15
3.2.8 Tính tốc độ tăng trưởng của tôm 16
3.2.9 Tính tỉ lệ sống của tôm 16
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

Hình 4.12 Biến động mật độ tổng vi khuẩn trong nước…………… 25
Hình 4.13 Biến động mật độ Vibrio trong bùn…………………… 27
Hình 4.14 Biến động mật độ Vibrio trong nước……………… 27
Hình 4.15 Tỉ lệ sống của tôm sú…………………… 28
Hình 4.16 Tỉ lệ tăng trưởng của tôm sú………………… 29
Hình 4.17 Tôm sú sau khi thu hoạch……………………………… 30
v

DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4.1 Tỉ lệ sống của tôm sú…………………………… 23
Bảng 4.2 Tỉ lệ tăng trưởng của tôm sú………………………………………… 24
Bảng 4.3 Các chỉ tiêu sinh hóa để nhận dạng Bacillus subtilis ……………… 27
vi
1
PHẦN I: GIỚI THIỆU
Trong khoảng 10 năm gần đây nghề nuôi tôm ở Vịêt Nam đang phát triển mạnh mẽ.
Tính đến tháng 6/2005 diện tích nuôi tôm nước lợ đạt 542.900 ha, tăng 11.2% so với
cùng kỳ năm 2004, sản lượng nuôi đạt 562.800 tấn, trong đó Đồng Bằng Sông Cửu
Long chiếm 67.1% (Bộ Thuỷ Sản, 2006).
Chính lợi nhuận từ việc nuôi thuỷ sản quá cao mà người dân không ngừng mở rộng
diện tích nuôi, tăng mật độ nuôi và mùa vụ thả nuôi. Từ đó, dẫn đến tình trạng ô nhiễm
môi trường đang xảy ra nghiêm trọng trong nuôi trồng thuỷ sản do phần lớn các vật
chất hữu cơ dư thừa từ thức ăn, phân và chất thải khác đọng lại dưới đáy ao nuôi. Ngoài
ra, còn các hoá chất, kháng sinh sử dụng trong quá trình nuôi tích luỹ không được xử lý.
Do đó, vấn đề cần thiết nhất hiện nay là quản lý tốt môi trường ao nuôi nhằm hạn chế
tình trạng bệnh trên các đối tượng thuỷ sản, giúp nuôi trồng thuỷ sản phát triển bền
vững và bảo vệ môi truờng. Xu hướng hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
riêng để giải quyết vấn đề trên là sử dụng các vi sinh vật hữu ích được phân lập từ bùn
đáy và nước ao nuôi. Các sản phẩm vi sinh vật hữu ích này gọi là chế phẩm sinh học
(Probiotic).

đề trên đề tài "Khảo sát Sự biến động mật độ của vi khuẩn Bacillus subtilis trong
bể nuôi tôm sú (Penaueus monodon)” được thực hiện với mục tiêu và nội dung sau.
Mục tiêu
Xác định thời gian cần thiết để bổ sung vi khuẩn hữu ích Bacillus subtilis vào bể nuôi
tôm sú.
Xác định mật độ và sự biến động của Bacillus subtilis trong một chu kỳ nuôi. Phân lập
và xác định các đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn chiếm ưu thế trong bể nuôi tôm sú.
Nhằm khẳng định lại dòng ưu thế là dòng đã bổ sung.
Nội dung
Theo dõi và xác định thời gian bổ sung vi khuẩn Bacillus subtilis và theo dõi biến động
mật độ vi khuẩn Bacillus subtilis sau khi bổ sung vào bể nuôi.
Xác định sự biến động của tổng vi khuẩn, tổng Vibrio trong bể nuôi tôm sú trên môi
trường Nutrient Agar (NA) và Thiosulphate Citrate Bile Sucrose Agar (TCBS).
Xác định sự biến động của vi khuẩn Bacillus subtilis trên môi trường chuyên biệt đồng
thời định danh lại các dòng vượt trội này bằng một số chỉ tiêu sinh hóa cơ bản của vi
khuẩn
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của tôm sú (Penaeus monodon)
2.1.1 Vị trí phân loại:
Theo hệ thống phân loại của Holthuis, 1989. Tôm sú thuộc
Ngành: Arthopoda – Ngành chân khớp
Ngành phụ: Antennata – Ngành phụ có râu
Lớp: Crustacea - Lớp giáp xác
Bộ: Decapoda - Bộ 10 chân
Bộ phụ: Natantia - Bộ phụ bơi lội
Họ chung: Penaeidea
Họ: Penaeidea - Họ tôm he
Giống: Penaeus
Loài: Penaeus monodon

1-2 ngày đối với tôm lớn. Tôm sau khi mới lột xác, vỏ còn mềm nên rất nhạy cảm với
môi trường sống thay đổi đột ngột. Trong quá trình nuôi tôm, thông qua hiện tượng này,
có thể điều chỉnh môi trường nuôi kịp thời (Phạm Văn Tình, 2004).
2.2 Sự siến động các yếu tố thuỷ lý trong ao nuôi thuỷ sản.
2.2.1 Nhiệt độ
Trong các ao nuôi nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp
các chất hữu cơ cho cơ thể sinh vật, cũng như vai trò phân huỷ của vi sinh vật và trao
đổi chất của tôm nuôi. Theo Whetstone et al., (2002) tôm có thể sống tốt ở nhiệt độ 23-
34
0
C tối ưu là 26 - 29
0
C nhưng không thay đổi quá 5
0
C trong ngày (Boyd et al., 2003).
2.2.2 pH
Theo Chanratchakool et al., (1995) thì pH của nước rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến tôm nuôi. pH thích hợp cho tôm nuôi 7.50 - 8.35 và khoảng dao
động hằng ngày không vượt quá 0.5 đơn vị pH. Theo Phạm Văn Tình (1994) thì pH
trong ao nuôi thương thấp vào buổi sáng và cao vào buổi chiều, pH của nước trong ao
tốt nhất là 7.50 - 8.50 là thích hợp cho ao nuôi tôm sú.
5
2.2.3 Độ mặn
Tôm sú là đối tương nuôi rộng muối, chúng có thể sống ở những nơi có độ mặn từ 3-
45‰. Wannina Yake et al., (2001) cho rằng độ mặn tối ưu cho sinh trưởng và phát triển
của tôm sú là 15-20‰.
2.2.4 Oxy hoà tan (DO)
Oxy hoà tan lý tưởng cho tôm sú là trên 5ppm (Swingle, 1969 được trích bởi Lê Bảo
Ngọc., 2005) và không vượt quá 15ppm (Whetstone et al.,2002) theo nghiên cứu của
Summerfelt (1996) thì hàm lượng oxy hoà tan trong nước chịu sự chi phối của nhịêt độ,

thể kích thích hoặc ức chế sự phát triển của tảo. Tác giả còn cho biết thêm những vi
khuẩn có lợi trong nước sẽ loại trừ nhanh NH
3
, H
2
S, vật chất hữu cơ có hại. Ngoài ra,
chúng còn có thể cân bằng pH trong ao nuôi.
Cải thiện chất lượng nước là một trong những vai trò quan trọng của vi sinh vật hữu
ích trong nuôi trồng thủy sản. Vì thế, Verschuere (2000) đã nghiên cứu và công bố vi
khuẩn Bacillus sp đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến chất lượng nước, do vi
khuẩn này đạt hiệu quả cao trong việc chuyển đổi vật chất hữu cơ thành CO
2
. Vì vậy,
Bacillus sp giúp giảm tích lủy chất hữu cơ và các chất hòa tan (trích dẫn bởi Phạm Thị
Tuyết Ngân, 2007).
3.2.2 Tình hình sử dụng probiotic trong nuôi trồng thủy sản
Sử dụng probiotic trong nuôi trồng thủy sản sẽ hạn chế dùng một lượng lớn chất kháng
sinh và hóa chất vào ao nuôi thủy sản. Đặc biệt là hạn chế đáng kể khả năng gây bệnh
của một số loại vi khuẩn có hại trên đối tượng nuôi đây là biện pháp tăng hiệu quả sản
xuất có ý nghĩa thực tiễn (Xiang-Hong et al., 1998).
Nghiên cứu của Lê Đình Duẩn và ctv (2007) về nuôi thử nghiệm tôm sú bằng chế
phẩm sinh học cho kết quả rất khả quan, các chế phẩm sinh học không những làm tăng
khả năng phân giải các chất hữu cơ, làm sạch, và ổn định môi trường nước mà còn
tăng năng suất gấp gần 2 lần so với đối chứng.
Theo (Vijayabaskar et al., 2008) ứng dụng thành công các vi khuẩn có lợi mà cụ thể là
nhóm vi khuẩn Bacillus sp trong nuôi cá rô phi nhằm để hạn chế mầm bệnh do vi
khuẩn A. hydrophila gây ra.
Vi khuẩn Vibrio là một thảm họa cho nghề nuôi tôm ở Philippine, khi việc sử dụng
kháng sinh để trị không còn tác dụng nhiều ngược lại còn có thể làm cho vi khuẩn
kháng thuốc, mà xa hơn nữa là vi khuẩn có nhiều khả năng gây bệnh đến con người

giúp chống lại sự phá hủy thành tế bào (Driks, 1999). Nội bào tử của vi khuẩn được
sinh ra không phải để sinh sôi nảy nở mà để chịu đựng được với điều kiện bất lợi. Đó là
loại tế bào ở trạng thái nghỉ mà trong chúng các quá trình sống bị ức chế rất mạnh
(Nguyễn Lân Dũng, 1983). Cách đây 100 năm, một nghiên cứu của Koch về bào tử của
B. anthracis có thể sống sót ở điều kiện đun sôi, đã tạo cảm hứng cho các nhà khoa học
nghiên cứu về bào tử với mục đích khám phá ra như thế nào loại tế bào ngưng hoạt
8
động đặc biệt có thể chịu nhiệt độ và các điều kiện gây sốc khác. Theo Driks (1999),
bào tử có khả năng chịu nhiệt là nhờ lớp áo bào tử. Áo bào tử là một cấu trúc gồm nhiều
lớp bao quanh bào tử được cấu thành bởi 25 loại polypeptide liên kết chéo chặc chẽ với
nhau. Tuy nhiên lớp áo bào tử cũng cho phép bào tử hồi sinh khi điều kiện môi trường
thích hợp. Bào tử có thể chuyển đổi thành tế bào phát triển thông qua một quá trình gọi
là sự nẩy mầm.
Trong quá trình hình thành nội bào tử, vi khuẩn cũng tạo ra các chất kháng sinh. Nhiều
loài hình thành bào tử có thể phân hủy một cách hiệu quả các polymer sinh học
(protein, starch, pectin,….), đóng vai trò quan trọng trong các chu trình sinh học Nitơ
và Carbon.
Quá trình hình thành bào tử của vi khuẩn khoảng 8 giờ để hoàn thành (Driks, 1999).
Trong quá trình hình thành bào tử, nhiểm sắc thể nhân đôi thành các bản sao riêng biệt.
Cuối cùng chỉ có một bản sao nhiểm sắc thể nằm trong bào tử, sau đó hình thành hai tế
bào, các phần còn lại bị hủy đi và bào tử được phóng thích. Theo Nguyễn Lân Dũng
(1983) phần lớn vi khuẩn trong tế bào chỉ có thể có một bào tử. Khi gặp điều kiện thuận
lợi bào tử này sẻ nẩy mầm và mỗi bào tử sẽ chỉ cho ra một tế bào dinh dưỡng.
Trong tất cả các loài, không phải tất cả các tế bào đều hình thành bào tử dù ở trong bất
kì điều kiện nào, chưa có thông tin giải thích tại sao một vài tế bào trong môi trường
nuôi hình thành bào tử và một số khác thì không. Tuy nhiên, có sự chấp nhận rằng sự
hình thành bào tử bắt đầu sau pha tăng trưởng nhanh và trong suốt pha tĩnh (Banwart,
2000).
2.4.3 Vai trò của Bacillus subtilis
Mô hình nuôi thuỷ sản thâm canh thường tích lũy nhiều vật chất hữu cơ ở đáy ao do

/ml). Tỉ lệ sống của tôm được xác định sau 6 ngày đạt cao nhất 75% so với nghiệm
thức đối chứng tỷ lệ sống chỉ có 18%.
Vi khuẩn hữu ích đóng vai trò quan trọng trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là liên
quan đến sản xuất sơ cấp, phân hủy chất hữu cơ, cải thiện chất lượng nước trong ao.
Chúng còn chuyển hóa các chất độc như ammoniac và hợp chất nitơ. Trong thủy vực,
các vật chất hữu cơ không ngừng bị phân hủy bởi các vi sinh vật vì chúng cần các hợp
chất này để làm thức ăn. Các chất hữu cơ được chúng hấp thụ làm tiền chất cho việc
xây dựng cấu trúc cơ thể và tạo năng lượng cho các hoạt động sống. Khi ấy, hợp chất
hữu cơ được vi sinh vật biến đổi thành các chất nghèo năng lượng và cuối cùng trong
những điều kiện thích hợp thì chuyển hóa ngược lại thành các chất vô cơ ban đầu được
gọi là quá trình vô cơ hoá. Quá trình này sẽ tái tạo trở lại vòng tuần hoàn trong thủy
vực, tạo nên sự sinh trưởng mới của thực vật. Nếu không có vi sinh vật phân hủy hữu
cơ thì toàn bộ quá trình chuyển hóa vật chất trong thủy vực sẽ ngừng lại và sự sống sẽ
không tồn tại được (Đặng Thị Hoàng Oanh, 2005 ).
10
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
3.1.1 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại Trại Cua và phòng thí nghiệm Vi Sinh – Bộ Môn Thủy Sinh Học Ứng Dụng Khoa
Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị:
12 bể Composite thể tích 500L.
Máy đo độ mặn, máy đo pH, nhiệt kế, đĩa secchi, máy sục khí
3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Chuẩn bị 12 bể Composite thể tích 500L được tiệt trùng. Sau đó cho bùn tiệt trùng vào,
lượng bùn cho vào mỗi bể khoảng 45kg. Nước sau khi xử lý bơm vào bể với thể tích
khoảng 400L. Mật độ thả tôm 30 con/m

Nguồn tôm lấy từ trại giống (Minh Thuận) tại Thành Phố Cần Thơ. Trọng lượng tôm
giống khoảng 0,4 gram.
Xử lý tôm trước khi cho vào bể bằng cách ngâm formol nồng độ 30ppm khoảng 15-30
phút
Mỗi bể bố trí 3 viên đá bọt dùng để sục khí. Sục khí liên tục trong suốt quá trình thí
nghiệm.
3.2.2.4 Phương pháp nuôi tăng sinh vi khuẩn
Chọn 3 chủng vi khuẩn Bacillus subtilis 9, 41 và 67 đã được phân lập từ bùn đáy ao
nuôi tôm sú thâm canh tại Huyện Vĩnh Châu – Tỉnh Sóc Trăng vào tháng 1 năm 2008
đến tháng 6 năm 2008 (Lê Mỹ Phương, 2008)
Môi trường nuôi tăng sinh là môi trường Luria Bertani (LB) (phụ lục A2)
Mỗi chủng vi khuẩn Bacillus subtilis được cho vào môi trường LB, cho vào bình tam
giác có gắn sục khí, ở 30
0
C trong vòng 24 - 48 giờ.
Sau khi nuôi tăng sinh xác định mật độ vi khuẩn bằng 2 phương pháp.
• Phương pháp đếm trên đĩa thạch với môi trường chuyên biệt cho giống Bacillus
subtilis (phụ lục A1)
• Phương pháp đo OD: sau khi nuôi tăng sinh sử dụng máy đo quang phổ tại bước
sóng 550nm để xác định giá trị OD. Mẫu đối chứng không có vi khuẩn được đo
đầu tiên và có giá trị bằng 0. Dung dịch huyền phù vi khuẩn cần đo sẽ có giá trị
12
OD trong khoảng 0,125-1,25. Theo tiêu chuẩn Mac Farland giá trị OD bằng 1
tương ứng mật độ vi khuẩn 1,2x10
9
tế bào/ml.
Mật độ vi khuẩn được tính theo công thức
Mật độ vi khuẩn (tế bào/ml) = 1200*10
6
*OD*Độ pha loãng

Tại phòng thí nghiệm lấy mẫu nước ra khỏi tủ mát, để nhiệt độ phòng. Mở nắp dụng cụ
chứa mẫu trong tủ cấy tiệt trùng, chuyển 1ml mẫu nước từ mỗi bể sang các ống nghiệm
chứa 9 ml nước muối sinh lý đã tiệt trùng, trộn đều bằng máy 1 phút. Ta được mẫu có
độ pha loãng 10
-1
. Từ mẫu này chuyển 1 ml dung dịch sang ống nghiệm khác chứa 9 ml
nước muối sinh lý được độ pha loãng 10
-2
. Tiếp tục pha loãng theo cách này đến khi đạt
được độ pha loãng thích hợp, bắt đầu từ độ pha loãng 10
-2
. Còn đối với xác định mật độ
vi khuẩn Bacillus subtilis thì sau đó xếp tất cả các ống nghiệm vừa pha loãng vào cùng
13
một giá đem sấy ở 80
0
C. Khi nhiệt độ đạt 80
0
C tính thời gian đến 30 phút rồi lấy ống
nghiệm ra.
.
Hình 3.1: Các bước pha loãng mẫu
Sau đó dùng micropipete hút 100µL dung dịch vi khuẩn cho vào các đĩa chứa môi
trường chuyên biệt cho giống Bacillus subtilis, môi trường NA và TCBS, rồi dùng que
thuỷ tinh tán đều đến khi mẫu khô. Ủ ở 28ºC trong 24 -48 giờ. Mỗi mẫu nước cần chọn
2 độ pha loãng khác nhau, mỗi độ pha loãng lập lại 3 lần.
Đĩa có chứa môi trường thạch
lấy 100µL
Mẫu nước
đã được

3.2.4 Phương pháp thu mẫu bùn
Mẫu bùn được thu bằng bộ dụng cụ thu mẫu làm bằng ống nhựa PVC (do viện nghiên
cứu sức khoẻ động vật thuỷ sản Thái Lan thiết kế). Dụng cụ được tiệt trùng bằng
Chlorine nồng độ 5 - 10ppm hoặc cồn 70
0
. Thu mẫu 12 bể thí nghiệm mỗi bể thu 1
điểm (khoảng 100 gram bùn trên điểm). Mẫu bùn cho vào ống fancol tiệt trùng và trữ
lạnh ngay ở 4
0
C. Sau đó tiến hành phân tích mẫu trong vòng 2 giờ.
3.2.4.1 Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn
Chuẩn bị các ống nghiệm chứa 9ml nước muối sinh lý (0,85%) đã tiệt trùng ở 121ºC
trong 15-20 phút để pha loãng mẫu.
Tại phòng thí nghiệm lấy mẫu bùn ra khỏi tủ mát, để nhiệt độ phòng. Mở nắp dụng cụ
chứa mẫu trong tủ cấy tiệt trùng, chuyển 1 gram mẫu bùn từ mỗi bể sang các ống
nghiệm chứa 9ml nước muối sinh lý đã tiệt trùng, trộn đều bằng máy 1 phút. Ta được
mẫu có độ pha loãng 10
-1
. Từ mẫu này để yên cho lắng 30 giây chuyển 1ml dung dịch ở
phần giữa ống nghiệm sang ống nghiệm khác chứa 9ml nước muối sinh lý được độ pha
loãng 10
-2
. Tiếp tục pha loãng theo cách này đến khi đạt được độ pha loãng thích hợp,
bắt đầu từ độ pha loãng 10
-2
chỉ lắc 30 giây và để lắng 15 giây. Còn đối với xác định
mật độ vi khuẩn Bacillus subtilis thì sau đó xếp tất cả các ống nghiệm vừa pha loãng
vào cùng một giá đem sấy ở 80
0
C. Khi nhiệt độ đạt 80


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status