1
Kinh tế thế giới - kinh tế
đối ngoại của Việt Nam
và ngoại giao phục vụ
phát triển kinh tế
thất nghiệp cao (5,9%); thâm hụt thương mại ở mức cao kỷ lục (khoảng 420 tỷ USD,
tăng 17% so với năm 2001); ngân sách thâm hụt 159 tỷ USD do chương trình cắt giảm
thuế lớn (1350 tỷ USD trong 11 năm từ 2002).
Các chính sách nới lỏng tài chính tiền tệ nhằm phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
đã được thực hiện : (i) duy trì lãi suất thấp nhất trong vòng 50 năm qua (1%); (ii) tăng
đầu tư công cộng, nhất là chi tiêu quốc phòng; (iii) giảm giá đồng Đô La để thúc đẩy xuất
khẩu ; (iv) tình trạng thâm hụt kép (cán cân thương mại và ngân sách).
Kinh tế các nước EU dần phục hồi những năm cuối thập kỷ 90. Nhưng trong mấy năm
gần đây lại tiếp tục trì trệ; chỉ đạt 1,1% vào năm 2002, trong đó khu vực đồng euro tăng
0,75%. Kinh tế Đức, Pháp và Italia đều gặp khó khăn: tốc độ tăng trưởng giảm, thâm
hụt ngân sách tăng vượt quá 3% GDP (Đức, Pháp), tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao (hơn 10%
3
ở Đức và 9,3% ở Pháp), sản lượng công nghiệp giảm và đang có xu hướng giảm phát.
Nếu vượt qua khó khăn ngắn hạn, sức mạnh của cả khối được tăng cường (đồng EURO
mạnh lên, kỳ luật tài chính được duy trì, việc mở rộng Liên minh…) sẽ tạo động lực phát
triển mới.
Kinh tế Nhật Bản suy thoái từ cuối những năm 1980. Riêng thập kỷ 90, Nhật Bản đã 3
lần suy thoái. Kinh tế tăng trưởng chỉ khoảng 0,5% - 1%/ năm, thất nghiệp gia tăng
cao, giảm phát, tổng cầu nội địa thấp. Tổng số nợ khó đòi của 15 ngân hàng lớn nhất
nước lên tới 395 tỷ USD (bằng 10% GDP), nợ của Chính phủ Nhật lên đến 140% GDP so
với 62% của năm 1992. Các lĩnh vực được bảo hộ như tài chính, dịch vụ, nông nghiệp
có sức cạnh tranh thấp; xếp hạng cạnh tranh chung của kinh tế Nhật ngày càng giảm.
Năm 2003, kinh tế Nhật qua thời kỳ khó khăn nhất, tăng trưởng trên 1%. Xuất khẩu và
dự trữ ngoại tệ tăng.
- Kinh tế các nước đang phát triển. Nhờ sự tăng trưởng cao và liên tục từ thập kỷ 60 đến
giữa những năm 90, kinh tế Đông á đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế
thế giới ( tăng trung bình 5-6%/năm). Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á 1997 -
1998 khiến khu vực này gặp nhiều khó khăn về kinh tế, chính trị và an ninh. Song
1.2. Quan hệ kinh tế quốc tế.
1.2.1. Thương mại quốc tế.
Những năm 90, thương mại thế giới phát triển mạnh và đạt mức cao kỷ lục trong năm
2000 với thương mại hàng hoá đạt 6,2 nghìn tỷ USD (tăng 12,5% so với năm 1999) và
thương mại dịch vụ đạt trên 1,4 nghìn tỷ USD (tăng 5%). Nếu tính chung tổng kim ngạch
thương mại hàng hoá và dịch vụ thì thương mại thế giới năm 2000 tăng khoảng 70% so
với thương mại thế giới năm 1990 (4,3 nghìn tỷ USD). Trong giai đoạn 1990-2000,
thương mại thế giới tăng trung bình 7%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới
chỉ đạt 2,7%/năm.
Tuy nhiên, từ 2001 đến nay, thương mại quốc tế giảm hẳn tốc độ phát triển. Năm 2002,
thương mại thế giới chỉ tăng 1% so với năm 2001 với tổng kim ngạch thương mại hàng
hoá và dịch vụ trên 7,7 nghìn tỷ USD. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng thương mại của
các nước đang phát triển trong năm qua (nhập khẩu tăng 3,8%, xuất khẩu tăng 3,2%) đạt
khá hơn các nước phát triển (nhập khẩu tăng 1,7% và xuất khẩu tăng 1,2%).
Với việc ra đời WTO (1995), xu hướng tự do hoá thương mại toàn cầu phát triển mạnh.
Song trong thời gian gần đây, người ta thấy xu thế này có sự chững lại do kinh tế thế giới
trì trệ, khủng hoảng kinh tế, tiền tệ ở nhiều nước, khu vực và làn sóng phản đối toàn cầu
hoá.
Năm 2001, tại Quatar, vòng đàm phán phát triển Doha đã được phát động với thời hạn 5
năm, theo đó các nước phát triển đưa ra cam kết hỗ trợ các nước nghèo nâng cao năng lực
để tăng cường hội nhập vào kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, vòng đàm phán gặp nhiều khó
khăn và bế tắc. Kể từ sau thất bại của Hội nghị Cancun (năm 2003), các nước không sẵn
sàng đi vào đàm phán thực chất trên các lĩnh vực nhạy cảm như nông nghiệp, thuận lợi
hoá thương mại, chính sách cạnh tranh, lao động và mua sắm chính phủ Tổ chức
5
thương mại thế giới bị đặt trước những thách thức lớn. Việc hoàn tất vòng đàm phán
đúng hạn (tháng 12/2005) gần như không khả thi.
- Bế tắc trong tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu thúc đẩy các nước xúc tiến ký kết
6
- Luồng vốn ĐTNN trên thế giới tăng nhanh trong hơn hai thập kỷ qua, đặc biệt trong
thập kỷ 90, và đạt kỷ lục hơn 1 nghìn tỷ USD vào năm 2000, tăng hơn sáu lần so với
151 tỷ USD của năm 1990.
- Từ năm 2001, suy thoái, bất ổn về kinh tế, tiền tệ, tài chính đã tác động đến các luồng
vốn ĐTNN. Năm 2002, ĐTNN trên thế giới chỉ đạt khoảng 534 tỷ USD vào năm 2002,
giảm 27% so với năm 2001 và tới 64% so với năm 2000. Năm 2003, đầu tư trực tiếp
nước ngoàămtng lên hơn 600 tỷ đô lam nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với thời kỳ cao
điểm năm 2000.
- Trong số các nước đang phát triển, Châu á thu hút nhiều ĐTNN nhất, chiếm tới 14%
FDI toàn thế giới vào năm 2001 (năm 2000: 9%) và 70-75% FDI vào các nước đang phát
triển (số liệu năm 2000). Năm 2002, các nước đang phát triển Châu á thu hút được 90 tỷ
USD, trong đó Trung Quốc là nước thu hút được 50 tỷ đô la, chiếm già nửa tổng số vốn
đầu tư nước ngoài vào các nước đang phát triển.
1.2.4 Viện trợ phát triển.
- ODA là nguồn viện trợ phát triển chính thức (hoàn lại hoặc không hoàn lại) của chính
phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ cho các nước đang phát
triển để phát triển kinh tế, chủ yếu là xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực của
nền kinh tế, phục vụ cho phát triển bền vững (bảo vệ môi trường và xoá đói giảm
nghèo) Theo nghị quyết của Liên hợp quốc, các nước phát triển phải dành 0,7% GDP
hàng năm của họ cho ODA.
- Tuy nhiên, rất ít nước thực hiện được chỉ tiêu của LHQ. Xu hướng chung trong mấy
năm gần đây là ODA vừa giảm cả tỷ lệ so với GDP và khối lượng tuyệt đối. Chỉ trong
vòng 5 năm từ 1992 đến 1997, viện trợ của OECD cho các nước đang phát triển giảm từ
tỷ lệ 0,33% GNP xuống 0,22%. Năm 2000, ODA toàn thế giới 53,1 tỷ USD, giảm 6%
so với năm 1999.
1.3. Dự báo một số đặc điểm và xu thế lớn của kinh tế thế giới.
a. Cuộc cách mạng KHCN lần thứ tư sẽ tiếp tục phát triển theo chiều sâu, tác động sâu
trong cuộc chạy đua số hoá này, các nước ĐPT ở vào thế bất lợi do chưa đáp ứng được
những yêu cầu về hạ tầng cơ sở, nguồn lực con người, của nền kinh tế tri thức. Bởi vậy,
tuy cơ cấu kinh tế ở một số nước ĐPT cũng đã chuyển đổi với sự góp mặt đáng kể vào
tăng trưởng của ngành công nghệ thông tin, có thể nói sự chuyển đổi này sẽ chưa diễn ra
một cách phổ biến và đồng đều ở tất cả các nước đang phát triển. Và trong vòng 20 năm
tới, phần lớn các nước ĐPT vẫn chủ yếu tiến hành công nghiệp hoá để trở thành nước
công nghiệp.
c. Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá gắn liền với tự do hoá thương mại, đầu tư và các
liên kết kinh tế quốc tế tiếp tục gia tăng mạnh mẽ.
- Tự do hoá thương mại tiếp tục được đẩy mạnh và thương mại quốc tế vẫn là động lực
thúc đẩy kinh tế thế giới tăng trưởng: Hai thập niên đầu thế kỷ XXI là khoảng thời gian
có tính chất “quyết định” đối với sự phát triển của thương mại thế giới trong nhiều thập
niên tới. Trong thập niên đầu tiên sẽ diễn ra Vòng đàm phán Doha của WTO, và những
8
thoả thuận đạt được trong đàm phán về hai lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ nhiều khả
năng sẽ đưa lại một thời kỳ tăng trưởng sống động hơn cho thương mại thế giới. Mặt
khác, năm 2010, 2015 và 2020 là những thời điểm bước ngoặt, đánh dấu sự hoàn tất việc
dỡ bỏ hoàn toàn các rào cản thuế quan và giảm thiểu các hàng rào phi quan thuế của các
khối kinh tế-thương mại khu vực lớn như: AFTA, APEC, NAFTA, MERCOSUR,
COMESA, dẫn đến sự hình thành những thị trường tự do rộng lớn ở hầu hết các khu
vực. Hàng loạt các thoả thuận thành lập các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa
phương từ cấp độ khu vực đến liên khu vực, xuất hiện ngày càng nhiều từ thập kỷ 90
cũng sẽ tạo thêm động lực thúc đẩy tăng trưởng thương mại thế giới trong hai thập niên
tới.
Song song với với quá trình đẩy mạnh tự do hoá thương mại, chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch
đi kèm với các cuộc chiến tranh thương mại giữa các nền kinh tế lớn có thể cũng sẽ nổi
lên, song cũng không thể kìm hãm được đà tiến của làn sóng tự do hoá thương mại.
- Đầu tư nước ngoài ngày càng mở rộng và luồng đầu tư có xu hướng dịch chuyển đến
vị chủ đạo, nhưng địa vị của đồng Euro ngày càng nâng cao.
d. Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, các nước ngày càng có xu hướng lựa chọn chiến lược
kinh tế phát triển bền vững.
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện khoảng mười năm gần đây, với nguyên tắc tổng
quát là những thế hệ hiện tại cần đáp ứng các nhu cầu của mình mà không làm hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Cụ thể, phát triển bền vững bao hàm
không chỉ sự phát triển về kinh tế, mà còn gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội,
bảo vệ môi trường, Trong những thập kỷ tới, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế tiến
triển ngày càng nhanh, mạnh, mang lại những cơ hội phát triển lớn lao nhưng đồng thời
cũng đi kèm với những thách thức phát triển không kém phần gay gắt, nhất là các thách
thức về môi trường-xã hội , mô thức phát triển bền vững sẽ dần trở thành lựa chọn phổ
biến của các quốc gia trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế
bền vững đặt ra cho các nước yêu cầu sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả, và do đó
gắn liền với yêu cầu các quốc gia phải tham gia rộng hơn và sâu sắc hơn vào phân công
lao động quốc tế, vì khi đó các nguồn lực cho phát triển sẽ được sử dụng hợp lý và hiệu
quả hơn theo nguyên tắc phát huy lợi thế so sánh.
e. Kinh tế thế giới vẫn phải đối mặt với nhiều nguy cơ kìm hãm sự phục hồi tăng trưởng:
- Thứ nhất, toàn cầu hoá kinh tế đã dẫn đến nhất thể hoá trên thị trường tài chính thế giới,
dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế tài chính. Do đó,
khủng hoảng ở một khu vực dù không lớn vẫn có thể làm điêu đứng thị trường tài chính
toàn cầu. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng yếu kém hiện đang và sẽ tiếp tục là mối lo
ngại lớn của nhiều nước, trong đó có cả những nền kinh tế phát triển như Nhật Bản và
các nền kinh tế ĐPT như các nước Đông Nam á và Mỹ La tinh. Nếu các nước này không
thực hiện tốt quá trình cải tổ hệ thống ngân hàng-tài chính thì không loại trừ khả năng sẽ
phải đối mặt với khủng hoảng tài chính trong hai thập kỷ tới.
- Thứ hai, sự thay đổi nhân khẩu học trong vòng hai thập kỷ tới có thể ảnh hưởng không
nhỏ đến tăng trưởng kinh tế của các nước. Sự gia tăng nhanh chóng dân số ở các nước
10
gắng nhằm thiết lập môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng và tổng
thể nền kinh tế nói chung. Sau đây xin nêu một số sự kiện lớn :
11
- Nối lại quan hệ tín dụng bình thường với IMF và WB, đàm phán thắng lợi tại Câu Lạc
bộ Paris và London nhằm giảm, xoá, hoãn nợ chính phủ và công ty của ta, tạo điều kiện
hình thành cơ chế Hội nghị tư vấn ( CG ) hàng năm cam kết ODA cho Việt Nam bắt đầu
từ 1993. Đây có thể coi là một mốc quan trọng phá thế bao vây cấm vận chống ta của các
thế lực đế quốc và thù địch.
- Ký Hiệp định Bali và trở thành thành viên ASEAN năm 1995, tiếp đó tham gia AFTA
vào năm 1996.
- Thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ năm 1995 và ký Hiệp định thương mại với Mỹ
năm 2001 với điều khoản tối huệ quốc tạo thuận lợi cho hàng hoá ta thâm nhập thị trường
Mỹ.
- Ký Hiệp định khung về hợp tác phát triển với EU (năm 1995), tạo điều kiện cho các
hiệp định cụ thể về hàng dệt, nông thuỷ sản thâm nhập vào thị trường EU.
- Tham gia APEC ( 1998 ), ASEM tạo điều kiện cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực
và liên khu vực.
- Gửi đơn gia nhập WTO năm 1995 và đang quá trình đàm phán gia nhập tổ chức này
vào năm 2005 ( đã qua 6 vòng và sắp bước vào vòng 7 thực chất).
2.2. Thương mại.
- Đến hết năm 2003, Việt Nam có quan hệ kinh tế thương mại với khoảng 200 nước và
vùng lãnh thổ, trong đó đã ký Hiệp định thương mại song phương với 82 nước. Kim
ngạch xuất khẩu tăng từ 2,4 tỉ USD năm 1990 lên 14,3 tỷ USD năm 2000 và khoảng 19,9
tỷ USD năm 2003. Năm 2000, với mức xuất khẩu bình quân đầu người đạt trên 175
USD/người/năm, Việt Nam được xếp vào danh sách các nước có nền ngoại thương khá
phát triển.
chúng ta nâng cao kỹ thuật quản lý, trình độ công nghệ, đào tạo nghề, thị trường và giải
quyết một phần vấn đề việc làm.
Đầu tư nước ngoài trong thời gian gần đây suy giảm mạnh và trong tương lai vẫn còn khó
khăn do cạnh tranh trong khu vực, cơ cấu FDI ở nước ta cũng thay đổi, phải chuyển mạnh
sang sản xuất và giá cả đầu vào ở nước ta tăng nhanh và cao trong khi đó hạ tầng kinh tế,
xã hội chậm được cải thiện.
Xu hướng đầu tư nước ngoài có dấu hiệu phục hồi. Theo vốn đăng ký năm 1999 đạt 1,6
tỷ USD; năm 2000: hơn 2 tỷ USD; năm 2001 2,5 tỷ USD; Năm 2003: 3,1 tỷ USD. Dự
kiến năm 2004 thu hút khoảng 4,1 tỷ USD vốn FDI mới.
2.4. Viện trợ phát triển chính thức (ODA).
- Từ năm 1990, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, EC, các nước thuộc OECD
và các nước Châu á đã nối lại viện trợ cho Việt Nam. Nguồn vốn ODA song phương đã
tăng từ 75 triệu USD/năm trong giai đoạn 1985-1990 lên khoảng 350 triệu USD năm
1992. Tuy nhiên, quan hệ với các tổ chức tín dụng quốc tế chỉ được chính thức nối lại từ
năm 1993 với Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam tại Paris (sau này là Hội nghị
Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam - Hội nghị CG).
13
- Sau 10 Hội nghị CG (từ 1993 đến 2003, các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam
tổng cộng là 25,39 tỷ USD (năm 2003 các nhà tài trợ đã cam kếy hỗ trợ Việt Nam 2,84 tỷ
USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Tổng giá trị vốn ODA đã được hợp thức hoá bằng
các hiệp định ký kết đạt khoảng 16,6 tỷ USD ( trong đó đã giải ngân khoảng 11 tỷ), bằng
83% tổng nguồn vốn ODA đã cam kết, tập trung vào giao thông vận tải và điện.
Trong khi ODA trên thế giới ngày càng giảm, nhiều nhà tài trợ cắt giảm ODA do yêu cầu
trong nước, ODA cam kết dành cho Việt Nam vẫn tăng. Các nhà tài trợ lớn nhất cho Việt
Nam là Nhật Bản, WB và ADB, chiếm khoảng 70% tổng giá trị các hiệp định đã ký kết.
Thách thức về ODA đối với ta có nhiều, trong có có những thách thức hiện nay gồm giải
ngân, đấu thầu, giá cả cạnh tranh Và thách thức về lâu dài là hiệu quả các công trình
ODA, việc trả nợ và tín nhiệm về kinh tế của ta đối với cộng đồng quốc tế. Ta đã có bài
định là nhiệm vụ chính của Ngành ngoại giao và được thảo luận sâu sắc và rộng rãi.
Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới và mục tiêu ''dân giầu, nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh'' được coi là lợi ích cao nhất. Từ đó đến nay, công tác ngoại giao
phục vụ kinh tế luôn được thảo luận tại các Hội nghị ngành và tập trung hướng vào việc
đa phương, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, phá thế bao vây, cấm vận của phương
Tây, mở rộng thị trường, tranh thủ viện trợ, đầu tư, công nghệ và từng bước hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới. Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV, khoá VIII (12/1997)
nêu nhiệm vụ '' tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan ngoại giao trong lĩnh vực
kinh tế đối ngoại''. Qua những hoạt động thực tế, những năm gần đây nhận thức của
ngành về ngoại giao phục vụ kinh tế đã được nâng cao thêm một bước, đặc biệt là tính
cấp bách của công tác này cũng như nội dung phương hướng của hoạt động ngoại giao
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tại Hội nghị Ngoại giao lần
thứ 23 tháng 12/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải nhấn mạnh "Trong thời gian rất dài,
xây dựng kinh tế luôn luôn là nhiệm vụ trung tâm, do đó phục vụ kinh tế phải thực sự là
trọng tâm công tác của Ngành Ngoại giao ".
3.2. Nội dung chính của hoạt động ngoại giao phát triển kinh tế.
3.2.1. Định hướng cụ thể ngoại giao phát triển kinh tế.
Tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 23 tháng 12/2001, Thủ tướng Phan Văn Khải đã giao
những nhiệm vụ của ngành ngoại giao:
+ Góp phần mở rộng thị trường theo hướng đa dạng hoá thị trường, sản phẩm, tránh phụ
thuộc vào một vài thị trường, nhóm sản phẩm.
+ Tăng cường công tác thông tin về thị trường, đối tác, những thay đổi về môi trường
chính sách của các nước.
+ Tích cực vận động FDI, ODA.
+ Tích cực xúc tiến du lịch, xuất khẩu lao động (phấn đấu đưa hàng triệu lao động ra
nước ngoài).
+ Tăng cường công tác thông tin, tình báo kinh tế, khoa học công nghệ.
+ Bên cạnh việc cần làm tốt hơn những lĩnh vực mà xưa nay Ngành đã làm, cần trú trọng
hỗ trợ doanh nghiệp, liên hệ chặt chẽ với doanh nghiệp.
+ Theo dõi tình hình và kiến nghị cho trong nước về các chủ trương, chính sách, tình hình
viện trợ của các nước (nhất là các nước cấp viện trợ và các nước nhận viện trợ lớn, thông
tin về sự phản hồi của Chính phủ, các TCQT và các NGO về môi trường đầu tư, tình hình
triển khai ODA của Việt Nam).
3.2.2.3 Vận động (lobby) ở nước ngoài.
16
Đây là lĩnh vực mà ngành Ngoại giao có thế mạnh. Các đồng chí Đại sứ, Trưởng cơ
quan đại diện là người thích hợp nhất trực tiếp vận động chính giới sở tại, các tổ chức
kinh tế, chính trị, doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề lớn trong quan hệ hợp tác
kinh tế với nước ta. Các vấn đề lớn này còn bao gồm cả những tranh chấp kinh tế, thương
mại lớn, việc xoá bỏ các hàng rào thuế và phi thuế đối với xuất khẩu của ta, đấu tranh
nhằm thực hiện tốt các hiệp định kinh tế, thương mại với nước sở tại.
3.2.2.4. Góp phần giải quyết các khó khăn, vướng mắc.
Ngành Ngoại giao hỗ trợ kinh tế trong nước qua các công tác khác như: theo dõi, đôn
đốc, tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện các thoả thuận và cam kết quốc tế về hợp tác
kinh tế; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc xuất nhập cảnh và giải quyết các thủ tục lãnh
sự; làm tốt công tác cộng đồng, huy động tối đa các nguồn lực từ người Việt Nam ở nước
ngoài đầu tư và kinh doanh trong nước.
3.2.2.5. Giúp mở rộng thị trường và giới thiệu đối tác,
Đối với những thị trường mà ta chưa có mặt, Ngoại giao cần nghiên cứu khả năng tiếp
cận, đi bước trước và hỗ trợ doanh nghiệp, hàng hoá Việt Nam thâm nhập. Các CQĐD
cần làm cầu nối giữa các doanh nghiệp của ta với các đối tác nước ngoài, giúp tìm thị
trường, móc nối, khơi thông và thẩm tra đối tác, nhất là các đối tác đầu tư, nhập khẩu lao
động, du lịch, cũng như các nguồn tín dụng, công nghệ để hỗ trợ các doanh nghiệp trong
nước. Hỗ trợ các doanh nghiệp thẩm tra đối tác về uy tín, khả năng tài chính, công nghệ
sẽ giảm bớt và đi tới lừa đảo kinh tế thương mại, giúp xây dựng môi trường kinh doanh
lành mạnh, giảm bớt sự mất mát đáng kể đối với các doanh nghiệp, đặc biệt trong giai
đoạn đầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tăng
cường công tác này ở các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như các đơn vị
liên quan trong nước. Lãnh đạo Bộ Ngoại giao, đặc biệt Đồng chí Bộ trưởng, đã giành
nhiều thời gian, công sức chỉ đạo chặt chẽ công tác này, luôn nhắc nhở các đơn vị trong
nước và cơ quan đại diện ở nước ngoài đầu tư nhiều hơn thời gian, trí lực, sức lực và kinh
phí cho công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế.
Hai là, các đơn vị trong nước và các cơ quan đại diện đã có nhiều cố gắng trong công
tác này. Tuy vậy, so với yêu cầu, các đơn vị trong và ngoài nước cần phải cố gắng nhiều
hơn, liên tục hơn, đặc biệt trong công tác tổ chức, cán bộ, chương trình, kế hoạch công
tác hàng ngày, hàng tháng, hàng quý và năm mới nâng cao được hiệu quả công tác này.
Ba là, phải tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh
nghiệp với các cơ quan đại diện Việt nam ở nước ngoài và Bộ Ngoại giao. Quan hệ và
thông tin hai chiều này cực kỳ quan trọng giúp ngành đối ngoại hoàn thành tốt nhiệm vụ
phụ vụ phát triển kinh tế, có lợi cho sự nghiệp chung, đồng thời cũng có lợi trực tiếp cho
các cơ quan, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế trong nước. Để phục vụ mục tiêu này, Bộ
Ngoại giao đã thí điểm ký kết Thoả thuận hợp tác với 6 tỉnh/thành gồm Đà Nẵng, Thanh
Hoá, Hà Nam, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Khánh Hoà nhằm hỗ trợ các địa phương này
hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời Bộ Ngoại giao đã ký kết Thoả thuận hợp tác với
18
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam với mục tiêu hỗ trợ cộng đồng doanh
nghiệp cũng như các địa phương xúc tiến kinh tế đối ngoại.
Bốn là, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài là chủ thể rất quan trọng trong việc
thúc đẩy công tác ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế. Gần 70 cơ quan đại diện Việt
Nam ở nước ngoài ta cần có hành lang pháp lý để đẩy mạnh công tác ngoại giao phục
vụ phát triển kinh tế. Chính vì vậy, ngày 10 / 2 / 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định
về hoạt động phục vụ kinh tế của cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ở nước ngoài. Nghị định đã hệ thống hoá và chi tiết hoá các nội dung hoạt động
phục vụ kinh tế của các CQĐD. Nghị định cũng quy định quyền hạn và trách nhiệm cụ