Tài liệu luận văn:THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH HUYỆN GIAO THỦY - TỈNH NAM ĐỊNH pot - Pdf 10


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NHUNG

CHUYÊN NGÀNH : GIÁO DỤC HỌC
L
L


THÁI NGUYÊN – 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
5. Giả thuyết khoa học

40
2.3. Thực trạng về nhận thức của cán bộ, giáo viên huyện Giao
Thủy về GDSKSS VTN
79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.4 Thực trạng GDSKSS VTN ở trường THCS của huyện Giao
Thủy
81
Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN CHO HỌC
SINH LỚP 9 HUYỆN GIAO THỦY - NAM ĐỊNH
88
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
88
3.2. Một số biện pháp đề xuất
92
3.3. Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất
98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
100
1. KẾT LUẬN CHUNG
100
2. KIẾN NGHỊ
102
TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
PHỤ LỤC
107


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ
Viết tắt
Quan hệ tình dục
QHTD
Sức khỏe sinh sản
SKSS
Giáo dục sức khỏe sinh sản
GDSKSS
Vị thành niên
VTN
Trung học cơ sở
THCS
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
BLTQĐTD
Sức khỏe sinh sản vị thành niên
SKSSVTN
Học sinh
HS
Kế hoạch hóa gia đình
KHHGĐ
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HĐGDNGLL
Thứ bậc
TB
Giáo dục giới tính

chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời Việt Nam đã và đang trở thành mục
tiêu, động lực của chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội.
Xã hội phát triển kéo theo các mặt khác của xã hội cúng phát triển,
đặc biệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập. Nền văn
hóa tác động nhiều mặt tới sự phát triển của con ngƣời nói chung và học
sinh nói riêng. Bên cạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hƣởng
tiêu cực, vấn đề đang đƣợc xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa
phƣơng Tây đã có ảnh hƣởng tới học sinh THCS - Lứa tuổi đang có sự
thay đổi mạnh mẽ về thể chất cũng nhƣ giới tính. Vì vậy vấn đề giáo dục
sức khỏe sinh sản vị thành niên (GDSKSS VTN) cho học sinh đang đƣợc
nghành giáo dục quan tâm.
Ở nƣớc ta trẻ VTN (dƣới 18 tuổi) chiếm khoảng 23,8% triệu ngƣời,
tức là khoảng 31% dân số. Tuy nhiên thanh thiếu niên Việt Nam đang phải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
đối mặt với nhiều thách thức: mang thai ngoài ý muốn, các bệnh lây lan
qua đƣờng tình dục, nhiễm HIV, ma túy, cờ bạc, rƣợu chè… Theo thống kê
của hội Kế hoạch hóa gia đình thì Việt Nam là một trong 3 nƣớc có tỷ lệ
nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN. Chính vì
vậy, các em cần đƣợc quan tâm và giáo dục SKSS ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trƣờng để tạo nền tảng vững chắc về mọi mặt để các em có dủ
hành trang bƣớc vào cuộc sống tƣơng lai.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh lớp 9 huyện Giao
Thủy - Tỉnh Nam Định”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp GDSKSS cho học sinh lớp 9 huyện Giao Thủy
- Nam Định nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của công tác này.
3. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu

Giao Thủy- Nam Định.
- Khảo sát cán bộ, giáo viên và học sinh lớp 9 trƣờng THCS Thị Trấn
Ngô Đồng, trƣờng THCS Giao Hà. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Vấn đề GD SKSS VTN trên thế giới
Vấn đề GDGT nói chung đƣợc nhiều nƣớc ở Châu Âu quan tâm từ rất
sớm. Có thể nói rằng Thụy Điển là quốc gia đầu tiên, cái nôi nảy sinh
nghiên cứu vấn đề này. Năm 1921 đã coi tình dục là quyền tự do của con
ngƣời, là quyền bình đẳng nam nữ, là trách nhiệm đạo đức của công dân
đối với xã hội. Họ đã thành lập “Hiệp hội quốc gia tình dục” ( 1933) với
mục tiêu là:
- Thông tin phổ biến kiến thức về giới tính, tình dục.
- Sản xuất và buôn bán thuốc tránh thai, dụng cụ tránh thai.
Bộ Giáo dục Thụy Điển đã quyết định đƣa thí điểm GDGT vào nhà
trƣờng (1942) và đến năm 1956 thì chính thức dạy phổ cập trong tất cả các
loại trƣờng từ tiểu học đến trung học.
Hầu hết các nƣớc Đông Âu (Đức, Tiệp, Ba Lan…), Tây Âu, Bắc Âu
cũng có những quan điểm xem xét vấn đề GDGT là vấn đề lành mạnh, họ
đã tuyên truyền rộng khắp cho mọi ngƣời hiểu rõ những quy luật hoạt động
của tình QHTDục và vấn đề này cũng đƣợc đƣa vào QHTDạy ở các trƣờng
học theo những vấn đề tự chọn.
Ở Châu Á, GDGT bị xem là lĩnh vực cấm kị, do ảnh hƣởng của
những quan niệm phong kiến và tôn giáo. Dân số gia tăng quá nhanh, chất

vấn đề SKSSVTN nhƣ:
- Hội nghị quốc tế tại Bắc Kinh ( 1995)
- Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague Hà Lan
(1999)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
- Hội nghị dân số cấp cao của ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á – Thái
Bình Dƣơng ( ESCAP) và quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) tại Băng Cốc.
Đặc biệt thông điệp của Tiến sĩ Nafit Sadik – Giám đốc điều hành
Quỹ dân số Liên Hợp quốc đã nêu “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS
hơn và họ biết SKSS rất quan trọng. Họ đều muốn xử sự một cách có trách
nhiệm, muốn bảo vệ sức khỏe của chính mình và của cả ngƣời mình yêu vì
họ biết rằng đây là việc nên làm. Phần lớn trong số họ khát khao tìm hiểu,
họ muốn có thông tin về tình dục và sức khỏe tình dục. Họ muốn biết làm
thế nào để bản thân họ và ngƣời yêu họ không có thai ngoài ý muốn, tránh
đƣợc các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục bao gồm cả HIV/AIDS”.
Nhân dịp ngày dân số thế giới( 11/7/1998) UNFPA đã gửi thông điệp
tới các nƣớc trên thế giới: “Những quan tâm hàng đầu hiện nay đƣợc tập
trung vào các vấn đề về SKSSVTN”.
Nhƣ vậy, ở hầu hết các nƣớc trên thế giới đều đã hết sức quan tâm tới
vấn đề SKSS, coi đó là một vấn đề có tính chiến lƣợc quốc gia.
1.1.2. Vấn đề SKSSVTN ở Việt Nam
Do ảnh hƣởng nặng nề của tƣ tƣởng phong kiến phƣơng Đông trƣớc
đây, SKSS ở Việt Nam chỉ đƣợc quan tâm ở khía cạnh đạo đức theo kiểu
“GDGT trong thời đại nàng Kiều”, vấn đề thực sự bức xúc, ảnh hƣởng
không dám trực tiếp nghiêm cứu, hầu nhƣ mọi ngƣời đều né tránh, dẫn tới
nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra trong đời sống nhân dân Việt Nam. Nhận
thức đƣợc tầm quan trọng của việc thực hiện KHHGĐ, GDDS cuối thể kỉ
XIX đầu thế kỉ XX Đảng và nhà nƣớc ta đã coi GDDS là công tác thuộc
chiến lƣợc con ngƣời, đặc biệt chú trọng tới việc bảo vệ, chăm sóc sức

tác DS - KHHGĐ, sự tham gia của các nghành, các đoàn thể vì công tác DS
- KHHGĐ đã có chuyển biến rõ rệt, đạt đƣợc những kết quả rất đáng kích
lệ. Kết quả đó góp phần đáng kể vào việc nâng cao điều kiện sức khỏe
trong đó có SKSS cho các cặp vợ chồng và tuổi vị thành niên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Năm 1985, Trung ƣơng hội liên hiệp phụ nữ đã triển khai phong trào
giáo dục “Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan” trong đó có nội
dung GDSKSS ở tuổi dạy thì. Hình thức chủ yếu đƣợc sử dụng là nói
chuyện, diễn giảng. Hiệu quả mới chỉ dừng lại ở tính chất phong trào chứ
chƣa thể có chất lƣợng sâu sắc đƣợc.
Phải chờ tới năm 1998, đƣợc sự tài trợ của quỹ dân số liên hiệp quốc
(NFPA), cùng với sự giúp đỡ của kĩ thuật của UNESCO khu vực, do Bộ
giáo dục và đào tạo đã giao cho Viện khoa học giáo dục Việt Nam thực
hiện đề án VIE/98/P09 với sự tham gia của nhiều giáo sƣ, tiến sĩ, nhà khoa
học có trình độ chuyên môn cao, chƣơng trình thử nghiệm tập trung chủ
yếu vào hai chủ điểm về tâm lí giáo dục và sinh học. Lần đầu tiên trong nhà
trƣờng phổ thông ở nƣớc ta học sinh đƣợc học một cách có hệ thống về
“những điều bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với ngƣời khác giới.
Ở nƣớc ta trong giai đoạn từ 1989 đến 1992 các dự án GDDS đã bắt
đầu đƣợc thử nghiệm. Giai đoạn từ 1994 đến 1998 bƣớc đầu đã thể chế hóa
GDDS trong nhà trƣờng. Lần đầu tiên GDDS đƣợc đƣa vào chƣơng trình
tích hợp GDDS với 5 chủ đề cơ bản: Nhân khẩu học, môi trƣờng, gia đình,
giới, dinh dƣỡng. Các nội dung SKSS đã đƣợc chính thức lồng ghép vào
nội dung một số môn học từ bậc tiểu học đến trung học và khẳng định rằng
trong giai đoạn này trọng tâm của công tác GDDS phải là GDSKSS cho
VTN. Tháng 10 năm 1996 hội thảo vì SKSSVTN đã nhấn mạnh đầu tƣ giải
quyết vấn đề SKSSVTN là một yêu cầu quan trọng trong vấn đề phát triển
đất nƣớc. Tuy nhiên, trong giai đoạn này nội dung GDDS quá thiên về dân
số phát triển, chƣa chú trọng tới SKSS nhƣ một mục tiêu ƣu tiên quốc gia.

nghiên cứu về vấn đề SKSS nhƣ:
- Dự án VIE/97/P13 của Bộ giáo dục - đào tạo đã sản xuất tài liệu:
Phƣơng pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về “SKSS”( 2000); và bộ tài
liệu tự học dành cho giáo viên “GDSKSSVTN”(2001).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
- Nguyễn Thế Hùng (2005): “Biện pháp bồi dƣỡng năng lực GDSKSS
VTN đối với các bậc cha mẹ”
- Nguyễn Ngọc Thái (2006): “Quản lý GDSKSS cho VTN thông qua
mô hình giáo dục đồng đẳng tại tỉnh Quảng Nam”
- Nguyễn Thị Hải Lý (2008): “Ảnh hƣởng của giáo dục nhà trƣờng tới
nhận thức của học sinh THPT về SKSS”
1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề GDSKSS VTN cho học sinh lớp 9
1.2.1. Một số khái niện cơ bản
1.2.1.1. Vị thành niên
Trong cuộc đời của mỗi con ngƣời (cả nam và nữ) tuổi dậy thì đƣợc
coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất về thể chất cũng nhƣ quá trình tích
lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách, khả năng hòa nhập
cộng đồng.Giai đoạn này đƣợc thừa nhận là giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ
con và ngƣời lớn, giữa tuổi ấu thơ và tuổi trƣởng thành “VTN là một giai
đoạn trong quá trình phát triển của con ngƣời với đặc điểm lơn nhất là sự
tăng trƣởng nhanh chóng để đạt tới sự trƣởng thành về cơ thể, sự tích lũy
kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách để có thể nhận lãnh
trách nhiệm xã hội”.
Thuật ngữ Adolescent (VTN) đƣợc đƣa vào năm 1904 theo đề xuất
của nhà tâm lý học G.Stanlay Hal, dùng để chỉ quan niệm đồng nghĩa với
tuổi đang lớn hoặc tuổi đang trƣởng thành. Theo từ điển Tiếng Việt(NXB
KHXH – HN, 1997) thì “VTN là những ngƣời chƣa đến tuổi trƣởng thành
để chịu trách nhiệm về những hành động của mình”. Trong các văn bản
hiện hành của Nhà nƣớc ta nhƣ bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật

thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của
bộ máy sinh sản, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn
phế trong bộ máy đó. Điều này hàm ý, mọi ngƣời, kể cả nam và nữ đều có
quyền nhận đƣợc thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp
tùy theo sự lựa chọn của họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh
đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những
đứa con khỏe mạnh”.
Cũng trong chƣơng trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: “SKSS là
trạng thái sung mãn hoàn hảo về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là
không có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan tới hệ
thống, chức phận và quá trình sinh sản. Nhƣ thế, SKSS có nghĩa là mọi
ngƣời có thể có cuộc sống tình dục an toàn, hài lòng, họ có khả năng sinh
sản, tự do quyết định có sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao
nhiêu con. Ngầm hiểu trong điều cuối là quyền của ngƣời đàn ông và đàn
bà có thông tin, có thể tiếp cận đƣợc các biện pháp KHHGĐ an toàn, có
hiệu quả, có khả năng chi trả, có thể chấp nhận đƣợc, do họ lựa chọn để
điều hóa sinh sản nếu nhƣ không trái pháp luật; quyền đƣợc tiếp cận với
những dịch vụ chăm sóc sức khỏe thích hợp, giúp họ dễ dàng trải qua thai
nghén và sinh sản một cách an toàn, cung cấp cho họ những cơ may để họ
co đƣợc những đứa con khỏe mạnh. Phù hợp với định nghĩa nói trên, chăm
sóc SKSS và hạnh phúc về sinh sản, bằng cách đề phòng và giải quyết
những vấn đề về SKSS. Nó cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục, mà mục
đích của nó là tăng cƣờng cuộc sống và mối quan hệ, tƣ vấn và những
chăm sóc liên quan đến SKSS và các BLTQĐTD”.
Nội dung SKSS:
- Làm mẹ an toàn, tức là đảm bảo sức khỏe cho bà mẹ, trẻ em trƣớc và
sau khi sinh.

Nhƣng trên thực tế (đặc biệt là trong sự phát triển xã hội nhƣ hiện nay) ta
thấy rằng, thanh thiếu niên chƣa có gia đình chƣa có gia đình cũng đã có
quan hệ tình dục. Do đó, vấn đề SKSS VTN đã trở thành một vấn đề đang
đƣợc toàn xã hội quan tâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
Hiện trạng SKSSVTN đang ở mức báo động, điều đó đƣợc thể hiện
bằng những con số sau:
- Nạn tảo hôn và kết hôn ở tuổi VTN: Theo điều tra của Tổng cục
thống kê, có 17.000 VTN tuổi từ 13 – 14; 126.000 VTN tuổi từ 15 – 17 đã
có vợ có chồng. Nguyên nhân của tình trạng trên là do cha mẹ muốn đảm
bảo các quan hệ tình dục phải trong khuôn khổ hôn nhân, do quan niệm giá
trị chính yếu của con gái là làm mẹ, làm vợ, do các em thiếu cơ hội đƣợc
học hành và tìm kiếm việc làm.
- Mang thai ngoài ý muốn, phá thai ở tuổi VTN: Theo kết quả khảo
sát của Bộ Y tế năm 2002, có 11,2% VTN có quan hệ tình dục, trong đó có
33,9% không sử dụng biện pháp tránh thai nào. Hàng năm có hơn 300.000
phụ nữ thai nghén dƣới tuổi 20%, trong đó 80% có thai mà không biết,
khoảng 30% số ca phá thai là những phụ nữ trẻ chƣa lập gia đình. Nguyên
nhân của hiện trạng trên là do thiếu hiểu biết, thiếu chỉ dẫn, thiếu các cơ sở
dịch vụ thiên thiện cho nên VTN ít có khả năng thực hiện tình dục an toàn,
ít sử dụng các biện pháp tránh thai.
- Nhiễm các bệnh lây truyền qua dƣờng tình dục và HIV/AIDS: ở
nƣớc ta tính đến cuối năm 2003 đã có76.180 ngƣời nhiẽm HIV, trong đó
VTN và thanh niên chiếm khoảng 60%. Thiếu thông tin, kiến thức, công
tác giáo dục, tƣ vấn về tình dụcan toàn con hạn chế, thiếu các dịch vụ
phòng chống HIV/AIDS là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên.
- Bị xâm hại và lạm dụng tình dục: ở nƣớc ta có khoảng 80 ngàn gái
mại dâm, trong đó 10% là VTN. Theo báo cáo của tòa án tối cao, một nửa
nạn nhân trong tổng số 1407 trƣờng hợp bị lạm dụng tình dục là VTN. Do

hiểu biết của VTN đối với một số vấn đề sức khỏe nhất định nhằm động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
viên họ chấp nhận các hành vi lành mạnh để ngăn chặn những nguy cơ
nhƣ: có thai ngoài ý muốn, các BLTQĐTD ”.
GDSKSSVTN là một trải nghiệm giáo dục nhằm phát triển khả năng
của VTN để hiểu những vấn đề về tính dục trong khuôn khổ về tâm, sinh
lý, văn hóa, xã hội và những khía cạnh sinh sản; đồng thời giúp cho VTN
nắm bắt những kỹ năng để quyết định và hành động có trách nhiệm
nhƣngc hành vi tình dục và SKSS của mình, hƣớng tới cuộc sống hạnh
phúc trong tƣơng lai.
1.2.2. Đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh
Tuổi VTN là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ trong đời
của mỗi con ngƣời. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành
ngƣời lớn và đƣợc đặc trƣng bởi sự phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn
tinh thần, tình cảm và khả năng hòa nhập cộng đồng.
1.2.2.1. Đặc điểm sinh lý
Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhƣng không đồng đều về mặt cơ
thể. Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy. Trung bình một năm các em
cao lên đƣợc 5 - 6 cm. Các em nam ở độ tuổi 15 - 16 tuổi thì cao đột biến
vƣợt các em nữ. Sự phát triển của hệ xƣơng, mà chủ yếu là các xƣơng tay,
xƣơng chân rất nhanh, nhƣng xƣơng ngón tay và ngón chân lại phát triển
chậm. Vì thế, ở lứa tuổi này các em không mập, béo mà cao, gầy thiếu cân
đối, các em có vẻ long ngóng vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu
thận trọng hay làm vỡ…Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không
cân đối. Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn,
nhƣng kích thƣớc của mạch máu lại phát triển chậm. Do đó, có một số rôi
loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh (đặc biệt là tuyến giáp trạng),
thƣờng dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh. Hệ thần kinh của lứa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
kéo dài. Do tác động của những kích thích nhƣ thế, thƣờng gây cho các em
tình trạng bị hạn chế hay ngƣợc lại xảy ra tình trạng bị kích động mạnh. Vì
vậy, sự phong phú của các ấn tƣợng, những chấn động thần kinh mạnh,
hoặc sự chờ đợi lâu dài về những biến cố gây xúc động…đều tác động
mạnh mẽ đến VTN, có thể làm một số em bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ đễnh,
tản mạn, số khác làm những hành vi xấu, không đúng bản chất.
Cùng với những biến đổi về thể chất, đời sống tinh thần và tình cảm
của tuổi VTN cũng trải qua những biến đổi sâu sắc. Các em có khả năng
tự ý thức và tự đánh giá cao. Cho nên, các em tự nhận đƣợc rằng mình đã
lớn, vì vậy các em thấy rằng kiểu quan hệ với ngƣời lớn ở thời thơ ấu
không còn phù hợp với về mức độ trƣởng thành của bản thân nữa. Đó là
kiểu quan hệ giữa ngƣời lớn và trẻ con. Do vậy, các em mong muốn “cải
tổ” kiểu quan hệ này theo hƣớng giảm quyền hạn của ngƣời lớn và tăng
quyền hạn của chính mình, các em muốn độc lập trong suy nghĩ và hành
động để thử sức mình nhằm đạt tới cái mình muốn để chứng tỏ mình đã
trƣởng thành. Ở giai đoạn này thƣờng xảy ra xung đột giữa VTN với cha
mẹ vì họ cho rằng các em vẫn còn trẻ con. Điều đó đã tạo ra một khoảng
cách giữa cha mẹ và con cái. Để làm mất khoảng cách này, các bậc cha
mẹ phải thƣờng xuyên quan tâm đến những suy nghĩ của các em, những
biến đổi tâm lý đang diễn ra để có thể hiểu đƣợc con mình và trở thành
những “ngƣời bạn” đáng tin cậy của các em.
Về mặt giao tiếp, nhu cầu giao tiếp với bạn phát triển rất mạnh, các
mối quan hệ đƣợc mở rộng, nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân đƣợc tăng
lên roc rệt. Bạn bè trở thành một phần rất quan trọng trong cuộc sống của
VTN. Với các em, tình bạn trơe nên sâu sắc hơn, rất bền vững có thể kéo
dài đến suốt cuộc đời và có ảnh hƣởng qua lại rất lớn, ảnh hƣởng đó có thể
là tích cực nhƣng cũng có khi là tiêu cực. Do vậy, mà việc lựa chọn bạn ở
lứa tuổi này đóng một vai trò vô cùng quan trọng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
trình GDSKSS VTN trong trƣờng học và cộng đồng. Sự thay đổi này tập
trung vào vấn đề giáo dục dân số, giới và giới tính, SKSSVTN… Tuy
nhiên, trên thực tế chƣơng trình này còn nhiều bất cập, không phù hợp với
kinh nghiệm sống của VTN, còn né tránh khi đề cập đến các vấn đề nhạy
cảm nhƣ biện pháp tránh thai, các BLTQĐTD, bạo lực và lạm dụng tình
dục… mà chủ yếu dạy về tri thức, ít chú ý đến việc xây dựng kỹ năng sống
cho VTN.
Các chƣơng trình GDSKSS tuy chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu và chƣa
tƣơng xứng với vị thế của nó trong sự phát triển chung của xã hội nhƣng nó
cũng đã có đƣợc một số ƣu thế ban đầu nhƣ:
GDSKSS đã thực sự trở thành bộ phận không thể tách rời của chính
sách, kế hoạch phát triển của các Quốc gia.
- Các chƣơng trình này đƣợc tiến hành theo phƣơng pháp linh hoạt,
theo từng Quốc gia và từng nền văn hóa cụ thể. Tuy vậy, các mục tiêu đề ra
đều hƣớng vào việc làm cho cộng đồng, chủ yếu là tuổi VTN chấp nhận
quy mô gia đình nhỏ, có ý thức trách nhiệm cao về các hành vi sinh sản của
mình.
- Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của giáo dục trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc, nhiều quốc gia đã đƣa nội dung giáo dục
SKSS vào giảng dạy chính thức trong các nhà trƣờng đặc biệt là cho đối
tƣợng VTN.
- GDSKSS còn đƣợc kết hợp với các nội dung giáo dục khác nhƣ giáo
dục môi trƣờng, giáo dục môi trƣờng, giáo dục suy dinh dƣỡng, phòng
chống HIV/AIDS.
- Hệ thống các phƣơng pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm này cũng
đã đƣợc xây dựng và trực tiếp góp phần vào việc chuyển tải những thông
tin, thông điệp về SKSS nhằm nâng cao nhận thức về vấn đề này cho lứa
tuổi VTN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status