1 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư 47D
MỤC LỤC
CHƯƠNG I – TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ
HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO
8
I – RỦI RO VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ 8
1.Khái niệm “Rủi ro” 8
2.Đặc trưng 9
3. Rủi ro trong hoạt động đầu tư 9
3.1. Khái quát về hoạt động đầu tư 9
3.2. Khái quát về dự án đầu tư 12
3.2.1.Khái niệm 12
3.2.2.Đặc điểm 13
3.2.3.Rủi ro trong hoạt động đầu tư 14
4. Phân loại 14
4.1. Trên phương diện Doanh nghiệp 14
4.1.1. Theo một số nhà kinh tế học 14
4.1.2. Theo khía cạnh bên trong và bên ngoài Doanh nghiệp 15
4.1.3. Theo môi trường hoạt động của Doanh nghiệp 17
4.1.4. Theo phạm vi tác động 18
4.1.5. Theo đặc tính vận động của rủi ro 18
4.2. Trên phương diện đầu tư 19
4.2.1. Theo quá trình ra quyết định đầu tư 19
4.2.2. Rủi ro theo tiến trình lập và thực hiện dự án đầu tư 20
5. Nguồn gốc rủi ro 21
II – QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DỰ ÁN ĐẦU
TƯ CỦA DOANH NGHIỆP
22
1. Sự cần thiết của Quản trị rủi ro đối với Doanh nghiệp 22
2. Vai trò của Quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp 23
3. Nội dung quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp 24
51
I - KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN PHÚ
THÁI
51
1. Quá trình hình thành, phát triển 51
1.1. Lịch sử hình thành 51
1.2. Tên và trụ sở chính 51
1.3. Vốn điều lệ 51
1.4. Lĩnh vực hoạt động 51
1.5. Tầm nhìn, sứ mệnh 52
1.6. Triết lý tập đoàn 52
2. Mục tiêu hoạt động của tập đoàn 52
3. Cơ cấu tổ chức
54
3.1. Sơ đồ tổ chức 54
3.2. Diễn giải chức năng, nhiệm vụ 55
II – TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TẬP ĐOÀN TRONG
GIAI ĐOẠN 2003-2007
65
1. Kết quả hoạt động kinh doanh 65
2. Cơ cấu Vốn và Nguồn vốn 67
III – THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI TẬP ĐOÀN 71
1. Các phòng ban trực tiếp tham gia vào công tác quản trị rủi ro 73
2. Các cán bộ chủ chốt tham gia vào quá trình quản trị rủi ro 73
3. Các phương pháp trong hoạt động quản trị rủi ro được sử dụng 77
4. Đánh giá công tác quản trị rủi ro tại Tập đoàn Phú Thái 77
5. Kết luận
CHƯƠNG III – ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ 78
3 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư 47D
RỦI RO TẠI CÔNG TY CỔ PHẨN TẬP ĐOÀN PHÚ THÁI
1. Các kĩ thuật áp dụng 103
2. Phần mềm phân tích 103
3. Áp dụng phân tích trong dự án “Xây dụng nhà máy chế biến và phân
phối thực phẩm sạch Phú Thái”
103
3.1. Giới thiệu về dự án 103
3.2. Đánh giá sơ bộ về phương pháp lập dự án 104
3.3. Bổ sung đánh giá dự án dựa trên các chỉ tiêu hiệu quả: NPV, IRR 105
3.4. Phân tích độ nhạy dự án 106
3.5. Phân tích kịch bản. 108
3.6. Tính đến trượt giá và lạm phát. 112
IV – MỘT SỐ ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN TRỊ RỦI RO 114
1. Thành lập bộ phận Quản trị rủi ro 114
4 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư 47D
1.1.Cơ cấu tổ chức 114
1.2.Nhiệm vụ 114
2. Ước tính chi phí thực hiện sơ bộ: 115
3. Xây dựng hệ thống quản trị rủi ro 116
3.1. Nội dung 116
3.2. Phương pháp áp dụng 117
3.3. Xây dựng hệ thống đánh giá 117
4. Một số giải pháp đối phó với rủi ro 119
4.1. Đối phó rủi ro trong quá trình đầu tư 120
4.2. Đối phó rủi ro trong lĩnh vực nhân sự 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 125
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Ý nghĩa
PM (Project manager) Nhà quản lý dự án
SPC (Statistical process
Bảng 1.8. Mô phỏng Monte Carlo 39
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh 65
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn vốn 67
BIỂU
Biểu 2.1. Doanh thu thuần giai đoạn 2003-2007 66
Biểu 2.2. Lợi nhuận sau thuế giai đoạn 2003-2007 66
Biểu 2.3. Cơ cấu Nguồn Vốn giai đoạn 2003-2007 68
Biểu 2.4. Tốc độ tăng trưởng Nguồn Vốn giai đoạn 2003-2007 68
Biểu 2.5. Cơ cấu Tài sản giai đoạn 2003-2007 69
Biểu 2.6. Tốc độ tăng trưởng Tài sản giai đoạn 2003-2007 70
LỜI MỞ ĐẦU
Quản trị rủi ro ngày càng trở nên quan trọng trong nhiều hoạt động của nền
kinh tế, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay. Hàng
loại các Doanh nghiệp khổng lồ, các tổ chức tài chính, các Ngân hàng, các quỹ đầu tư
lớn trên thế giới đã lâm vào khủng hoảng, thậm chí phá sản trong thời gian qua. Một
trong những nguyên nhân chủ đạo chính là sự chủ quan và thiếu sót trong quá trình
quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư và kinh doanh. Đây là một bài học đắt giá mà
các Doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng phải trả giá khi coi nhẹ việc quán triệt quản
trị rủi ro trong tổ chức.
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc thực hiện quản trị rủi ro còn bộc lộ nhiều điểm yếu
kém hơn, công tác quản trị rủi ro chưa phổ biến, kinh nghiệm quản lý còn nhiều hạn
chế, công cụ ứng dụng phân tích còn chưa mạnh, thậm chí trong hoạt động đầu tư,
nhiều dự án còn chưa đưa quản trị rủi ro vào để thực hiện công tác đánh giá, ra quyết
định.
7 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư 47D
Trong quá trình thực tập tại “Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Phú Thái”, em nhận
thấy rằng: Mặc dù là một trong những Tập đoàn đầu tư và phân phối hàng đầu tại
Việt Nam nhưng công tác quản trị rủi ro trong Tập đoàn còn mới ở giai đoạn tiếp cận
ban đầu, chưa khoa học và hệ thống, chưa tương xứng với tầm vóc, quy mô và vị thế
dẫn đầu của Tập Đoàn. Do vậy, em chọn đề tài “Thực trạng và một số đề xuất hoàn
toàn không biết chắc”.
Biến cố tương lai là biến cố khi đó nhà quản lý không thể hoàn toàn biết chắc 100% rằng
nó có xảy ra hay không và xảy ra với mức độ như thế nào. Nhà quản lý Doanh nghiệp chỉ
có thể dựa trên những cơ sở số liệu thống kê quá khứ và kinh nghiệm thực tiễn mà phân
tích, phán đoán về xác suất và mức độ nghiêm trọng của nó, từ đó đưa ra những biện pháp
quản lý phù hợp
“Rủi ro là khả năng gánh chịu những thiệt hại, mất mát trong khi theo đuổi mục
tiêu phát triển hay cơ hội mà nguyên nhân phát sinh từ những yếu tố không lường
trước hoặc nằm ngoài khả năng kiểm soát”.
Trong khi Doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu phát triển thì cũng là lúc phải đối mặt với
những rủi ro có khả năng gây ra thiệt hại. Những rủi ro này Doanh nghiệp hoàn toàn không
chắc chắn về khả năng xảy ra cũng như nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của nó.
“Rủi ro nội tại trong Doanh nghiệp là khả năng Doanh nghiệp có thể phải gánh
chịu thiệt hại trong khi đang thực hiện hoạt động kinh doanh, theo đuổi mục tiêu phát
triển hoặc những cơ hội mới mà nguyên nhân phát sinh từ chính bên trong hoạt động
và cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp”.
Bất kì bên trong một Doanh nghiệp nào cũng tồn tại những rủi ro nội tại: rủi ro vận
hành, rủi ro nhân sự, rủi ro tổ chức quản lý, rủi ro sai sót cá nhân, rủi ro sản xuất,… Những
rủi ro này xuất phát từ chính những nguyên nhân bên trong Doanh nghiệp và nó ảnh hưởng
không nhỏ đến sự ổn định trong quá trình phát triển của Doanh nghiệp. Điều Doanh nghiệp
cần làm đó là có biện pháp quản lý thật nhanh chóng và hiệu quả. Nâng cao chất lượng
quản lý doanh nghiệp cũng là một phương thức tốt để giảm thiểu rủi ro không đáng có.
Nhà quản lý Doanh nghiệp thường xuyên phải làm việc và ra quyết định trong tình trạng
thiếu thông tin, thiếu tài nguyên, nguồn lực và nguy cơ phải gánh chịu những rủi ro không
lường trước. Do vậy, họ nhận ra rằng việc thiết lập một hệ thống cảnh báo và kiểm soát rủi
ro nội tại trong Doanh nghiệp là vô cùng quan trọng bởi vì những rủi ro nội tại này thường
9 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư 47D
chiếm một tỷ trọng cao trong tổng số rủi ro mà một Doanh nghiệp có thể phải đối mặt
trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời thiệt hại mà nó gây có ảnh
hưởng xuyên suốt toàn hệ thống, gây thiệt hại không nhỏ.
*Dưới góc độ kinh tế học:
Đầu tư (Investment), theo từ điển kinh tế học hiện đại của David W. Pearce- thì : Thuật
ngữ đầu tư được sử dụng một cách phổ biến nhất để mô tả lưu lượng chi tiêu được dùng để
10 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
tăng hay duy trì dung lượng vốn thực tế. Nói một cách chính xác hơn: Đầu tư là một lưu
lượng chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa không phải để tiêu dùng trung gian.
Các dự án đầu tư này có thể có dạng bổ sung vào cả vốn vật chất, vốn nhân lực và hang tồn
kho. Đầu tư là một luồng vốn với khối lượng được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị
hiện tại ròng (NPV) lớn hơn 0 hay tỉ suất lợi tức nội hoàn lớn hơn lãi suất (IRR).
Nói một cách ngắn gọn, đầu tư là sự hi sinh tiêu dùng hiện tại nhằm thu về tiêu dùng lớn
hơn trong tương lai.
*Dưới góc độ tài chính:
Trên phương diện hoạch định tài chính cá nhân, đầu tư là sự hy sinh của một cá nhân
trong việc tiêu dùng hiện tại để tích lũy tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong tương
lai. Trong con mắt của các nhà tư vấn tài chính, đầu tư được hiểu là việc một cá nhân mua
tài sản với mong ước rằng tài sản đã mua được sẽ giữ vững giá trị, sau đó tăng giá và tạo ra
nguồn thu nhập tương ứng với mức độ rủi ro nào đó. Nói một cách ngắn gọn hơn, mục tiêu
tài chính của cá nhân là tích lũy đồng tiền. Sau khi kiếm được tiền, người ta cần cân nhắc
đầu tư đồng tiền đó như thế nào để cho nó nhiều hơn trước.
Một cách khái quát, đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư thu về một
chuỗi các dòng thu nhắm hoàn vốn và sinh lời.
*Dưới góc độ luật pháp:
Theo luật đầu tư 2006, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các họat động đầu tư theo quy định của luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
*Dưới góc độ nghiên cứu của môn học kinh tế đầu tư:
Đầu tư là việc chi dung vốn trong hiện tại để tiến hành các họat động nhằm làm tăng
them hay tạo ra những tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất tạo them việc làm và vì
mục tiêu phát triển.
phẩm không còn đáp ứng với đòi hỏi của thị trường ở hiện tại. Do đó, trong quá trình vận
hành kết quả đầu tư vẫn phải tiếp tục tiến hành điều chỉnh các giải pháp kĩ thuật, tài chính
cho phù hợp với những thay đổi ở hiện tại (bất kì dự án nào cũng đòi hỏi có những điều
chỉnh như vậy).
*Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường phát huy tác dụng ở ngay
nơi nó được thực hiện.
Do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh
hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng.
*Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao:
Đầu tư phảt triển thường có quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư , thời gian vận hành
các kết qủa đàu tư kéo dài…nên đầu tư phát triển có mức độ rủi ro cao. Rủi ro trong đầu tư
phát triển có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan do: nhà đầu tư quản lý
kém, chủ trương đầu tư sai lầm, … , nguyên nhân khách quan do: giá nguyên liệu tăng, bất
ổn của thị trường đầu vào đầu ra, …
12 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
Đầu tư luôn gắn với rủi ro, đã đầu tư là phải chấp nhận rủi ro, cho nên quản trị rủi ro là
một khâu không thể thiếu trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư phát
triển.
3.2. Khái quát về dự án đầu tư
3.2.1.Khái niệm:
Có nhiều cách định nghĩa dự án.Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án :
tĩnh và động
Theo cách hiểu tĩnh thì: dự án là hình tượng về một tình huống, một trạng thái mà
nhà quản trị muốn đạt tới.
Theo cách hiểu động thì: dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ
cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch
tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy: Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác
định; Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới.
các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với
nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không
giống nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì
thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác.
Môi trường hoạt động va chạm: Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng
một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ
chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực , thiết bị ,… Trong quản lý, nhiều trường hợp các
thành viên ban quản lý dự án lại có “hai chủ trương” nên không biết phải thực hiện mệnh
lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh mâu thuẫn nhau. Do đó, môi trường quản lý dự
án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động.
Tính bất định và độ rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và
lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu
tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. Do vậy việc
quản trị rủi ro dự án là một tất yếu khách quan cần thiết. Và đây cũng là chủ đề mà
đề tài sẽ làm rõ dưới đây.
3.2.3.Rủi ro trong hoạt động đầu tư
Rủi ro trong hoạt động đầu tư là sự kiện không có trong kế hoạch có thể xảy ra, nó có
thể tích cực hoặc tiêu cực. Trong quản lý các dự án đầu tư, sự thành công của các dự án
phụ thuộc khá nhiều vào khả năng dự đoán các sự kiện sẽ xảy ra. Khi rủi ro là phần không
thể dự đoán của dự án thì điều quan trọng đối với nhà quản trị là cần kiểm soát được nó
càng nhiều càng tốt và tạo ra khả năng dễ dự đoán nó.
Đối với bất kì một dự án nào, rủi ro luôn là một trong những yếu tố nguy hiểm và cần
phải được kiểm soát cẩn trọng. Việc phát hiện ra những loại rủi ro nào và mức độ nguy
hiểm của nó phụ thuộc rất lớn vào tầm nhìn của Nhà quản lý dự án (Project manager –
PM). Cho nên việc chọn lựa PM cho một dự án là một công việc đòi hỏi phải có sự cân
nhắc cẩn trọng, kỹ càng.
4. Phân loại
14 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
4.1. Trên phương diện Doanh nghiệp
Rủi ro bao gồm: rủi ro bên trong Doanh nghiệp và rủi ro bên ngoài Doanh nghiệp.
15 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
(Hình 1.1. Rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài Doanh nghiệp)
16 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
4.1.3. Theo môi trường hoạt động của Doanh nghiệp
Rủi ro bao gồm:
Rủi ro Chiến lược
Rủi ro Tài chính
Rủi ro Vận hành
Rủi ro Pháp lý
Rủi ro Thiên tai
Rủi ro xã hội
17 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
(Hình 1.2. Các loại rủi ro theo môi trường hoạt động của Doanh nghiệp)
Loại rủi ro Nội dung
1. Rủi ro chiến
lược
Rủi ro về mục tiêu chiến lược, các điều kiện vĩ mô, xu hướng của nền
kinh tế thế giới, khu vực, quốc gia, địa phương, các chính sách chính
trị, luật pháp,…
2. Rủi ro vận hành Rủi ro liên quan đến cơ cấu tổ chức, hệ thống, quy trình, công nghệ
và con người
3. Rủi ro tài chính Rủi ro liên quan đến sức khỏe tình hình tài chính Doanh nghiệp, các
biến động tỷ giá, tiền tệ, lãi suất, tín dụng,
4. Rủi ro Pháp lý Rủi ro liên quan đến pháp luật, tình hình tuân thủ các quy định, …
5. Rủi ro Xã hội Thiệt hại liên quan đến các vấn đề bất ổn trong xã hối
Với một hoạt động đầu tư thường có ba giai đoạn : Tiền đầu tư, đầu tư, vận hành các kết
qủa đầu tư. Hai loại rủi ro đầu có liên quan nhiều đến giai đoạn tiền đầu tư. Loại rủi ro
sau cùng thì có liên quan nhiều đến hai giai đoạn : Đầu tư và Vận hành kết quả đầu tư.
4.2.2. Rủi ro theo tiến trình lập và thực hiện dự án đầu tư
Đối với tiến trình lập và thực hiện dự án đầu tư, rủi ro có thể bao gồm: rủi ro ở pha lập
dự án (rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài), rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn
lực, rủi ro liên quan đến triển khai thực hiện dự án.
*Rủi ro ở pha lập dự án :
- Rủi ro bên trong bao gồm 4 rủi ro:
+ Xác định mục tiêu không chính xác
+ Mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu không phù hợp
+ Rủi ro kỹ thuật (rủi ro nghiên cứu và đưa vào sản xuất không hợp với nhau),
rủi ro công nghiệp hóa (việc sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường không đem lại hiệu
quả)
+ Rủi ro do chưa nắm vững được quy trình phát triển và theo dõi dự án
- Rủi ro bên ngoài : 2 rủi ro :
+ Sự lạc hậu về thương mại (đánh giá sai về nhu cầu thị trường, thị trường phát
triển quá nhanh)
+ Rủi ro pháp chế : văn bản mới ảnh hưởng đến đầu vào và đầu ra của dự án;
các đạo luật chồng chéo, chưa rõ ràng,
*Rủi ro liên quan đến dự báo sử dụng nguồn lực :
Nội dung dự báo nguồn lực dự án bao gồm : Xác định các nguồn lực cần huy động,
khả năng thực tế của các nguồn lực đó.
- Xác định các nguồn lực bao gồm các vấn đề :
+ Sử dụng lao động
+ Sử dụng trang thiết bị bảo hộ lao động, ô nhiễm môi trường
+ Thiếu hiểu biết về các nguồn lực
+ Sự không tương hợp giữa các nguồn lực được huy động
- Khả năng thực tế của các nguồn lực :
+ Công suất của máy móc thiết bị
(Hình 1.4. Nguồn gốc rủi ro)
II – QUẢN TRỊ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA
DOANH NGHIỆP
22 Đoàn Duy Thành - Kinh tế đầu tư
47D
1. Sự cần thiết của Quản trị rủi ro đối với Doanh nghiệp
Quản lý rủi ro ngày nay được coi như là một bộ phận không thể tách rời đối với hoạt động
quản lý trong doanh nghiệp. Chiến lược của doanh nghiệp sẽ được xem là không đầy đủ
nếu thiếu đi nhiệm vụ quản lý rủi ro. Những rủi ro không lường trước sẽ làm cho doanh
nghiệp bị bất ngờ và dẫn đến thiệt hại, ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp nếu
Doanh nghiệp không có biện pháp đối phó hiệu quả.
Đặc biệt trong tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay, công tác quản trị rủi ro lại
càng phải được đề cao và quan tâm hơn nữa. Một trong những tác nhân quan trọng dẫn đến
khủng hoảng kinh tế năm 2008 chính là sự chủ quan, thiếu nhạy bén và thiếu hiệu quả
trong hoạt động quản trị rủi ro của hàng loạt các Doanh nghiệp, Ngân hàng, các Quỹ đầu tư
và các tập đoàn Tài chính lớn trên thế giới. Xuất phát từ chính những bài học đắt giá như
vậy, nhiệm vụ xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro phù hợp trong Doanh nghiệp là một
yêu cầu cấp bách và hết sức cần thiết.
2. Vai trò của Quản trị rủi ro trong Doanh nghiệp
Quản trị rủi ro là một bộ phận trong hệ thống quản trị của Doanh nghiệp, có vai trò trực
tiếp bảo vệ Doanh nghiệp trước những biến cố không lường trước, đồng thời bổ trợ cho các
hoạt động quản trị khác của Doanh nghiệp.
Hệ thống quản trị của Doanh nghiệp bao gồm các lĩnh vực chủ yếu sau:
Quản trị chiến lược: mục tiêu, tổ chức, mô hình, định hướng, chiến lược,…
Quản trị nhân sự: tuyển dụng, bố trí nhân sự, ….
Quản trị Tài chính: quá trình kiểm toán, kế toán, các hoạt động tài chính,…
Quản trị vận hành, sản xuất: quá trình vận hành, máy móc, trang thiết bị, chất lượng,
thu mua nguyên vật liệu đầu vào, hàng hoá,…
Quản trị đầu ra: Phân phối, marketing, tiêu thụ,…
Quản trị thông tin: hệ thống mạng, văn bản,…