Lời nói đầu
Sau thời gian hơn ba năm, hoạt động của TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh bớc
đầu đợc đánh giá là khá thành công và là sự ghi nhận bớc tiến quan trọng trong
quá trình xây dựng đồng bộ và hoàn thiện thị trờng tài chính Việt nam. Trong hoạt
động của TTCK không thể không nhắc đến các CTCK với vai trò là định chế trung
gian tham gia thị trờng. Các CTCK giúp cho việc lu thông hàng hóa diễn ra suôn
sẻ, tấp nập, làm cho TTCK trở nên sôi động hơn, hoạt động có hiệu quả hơn và
qua đó, một lợng vốn nhàn rỗi đợc đa vào đầu t cho phát triển kinh tế từ những cố
gắng và nỗ lực của các CTCK đã góp phần làm nên một diện mạo của TTCK Việt
nam.
Là một trong những CTCK sớm đi vào hoạt động ngay từ những ngày đầu
của TTCK, với số vốn ban đầu đợc coi là lớn và đã đạt đợc 1 số thành công nhất
định, song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập trong quá trình tác
nghiệp. Công ty đợc đánh giá là hoạt động tơng đối hiệu quả trong nghiệp vụ môi
giới và có nhiều nghiệp vụ phụ trợ từ phía Ngân hàng mẹ.
Trong những năm tới, hàng hóa trên thị trờng sẽ đa dạng và phong phú hơn,
nhu cầu t vấn tái cơ cấu, chuyển đổi, cổ phần hóa, bảo lãnh phát hành và niêm yết
của các doanh nghiệp và nhu cầu đầu t chứng khoán trong dân chúng trên TTCK
sẽ gia tăng. Đây là cơ hội lớn đối với TTCK và các CTCK. Để khẳng định đợc
mình, yêu cầu đặt ra cho CTCK Công thơng là phải tìm ra các giải pháp để đứng
vững trong điều kiện thị trờng kém sôi động hiện thời và có thể thích ứng với tình
hình mới trong tơng lai.
Xuất phát từ ý tởng đó, em đã lựa chọn nghiên cứu để tài nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của CTCK Công thơng.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đa ra đánh giá về thực tế triển khai các
nghiệp vụ tại CTCK Công thơng thời gian qua, phân tích những mặt đợc, những
mặt hạn chế để từ đó đề ra một số giải pháp cho công ty trong qua trình hoàn thiện
và phát triển các nghiệp vụ của mình.
Chơng 1
Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh của
công ty chứng khoán
những động năng cho sản xuất kinh doanh, góp phần tạo nên sự phát triển nhanh
và đồng đều của nền kinh tế. Thị trờng chứng khoán là một định chế rất cơ bản
trong hệ thống thị trờng tài chính, là chất xúc tác quan trọng trong việc huy động
vốn cho đầu t phát triển và thúc đẩy các hoạt động kinh tế .
Thị trờng chứng khoán tạo điều kiện thu hút và kiểm soát vốn đầu t nớc
ngoài. Với nguyên tắc công khai, thị trờng chứng khoán là nơi mà các nhà đầu t n-
ớc ngoài có thể theo dõi và nhận định một cách dễ dàng hoạt động của các ngành,
các doanh nghiệp trong nớc. Hơn nữa, thị trờng chứng khoán thu hút vốn thông
qua mua bán chứng khoán, từ đó tạo môi trờng đầu t thuận lợi cho các nhà đầu t n-
ớc ngoài.
Thị trờng chứng khoán là phơng tiện giúp chính phủ thực hiện các chính
sách kinh tế, tài chính. Bên cạnh việc tăng thu ngân sách từ thuế, Nhà nớc thờng
sử dụng biện pháp phát hành trái phiếu Nhà nớc-một hình thức tín dụng Nhà nớc,
trong đó Nhà nớc vay tiền của công chúng.
Thị trờng chứng khoán còn là công cụ đánh giá hoạt động kinh doanh và
phong vũ biểu của nền kinh tế. Thị trờng chứng khoán phản ánh tình trạng của các
doanh nghiệp và của cả nền kinh tế quốc gia. Các thị giá chứng khoán đợc thể hiện
thờng xuyên trên thị trờng đã phản ánh giá trị phần tài sản Có của doanh nghiệp,
mức độ đầu t, trạng thái kinh tế. Chỉ có những doanh nghiệp làm ăn lành mạnh, có
hiệu quả cao, hứa hẹn triển vọng tơng lai tốt đẹp thì giá trị thị trờng của chứng
khoán công ty mới cao và ngợc lại. Ngoài ra, thị trờng chứng khoán còn là phong
vũ biểu của nền kinh tế, giúp những ngời đầu t và những ngời quản lý có cơ sở
đánh giá thực trạng và dự đoán tơng lai của nền kinh tế.
Rõ ràng, với cách thức hoạt động mềm dẻo linh hoạt của thị trờng chứng
khoán, thị trờng chứng khoán đã phát huy vai trò tích cực và có ý nghĩa quan trọng
đối với nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trờng.
1.1.2. Nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán thờng nhìn vào 3 mục tiêu lớn: hoạt động có hiệu
quả, điều hành công bằng, phát triển ổn định. Để đạt đợc mục tiêu đó, thị trờng
chứng khoán phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
1.1.3. Hàng hoá trên thị trờng chứng khoán.
Trên thị trờng chứng khoán, hàng hoá của thị trờng bao gồm nhiều loại. Nh-
ng xét về mặt lịch sử và theo cách gọi có tính thống nhất, các loại hàng hoá này
đều có tên là chứng khoán. Có thể hiểu khái quát chứng khoán là những chứng th
dới dạng vật chất hoặc điện tử (bút toán ghi sổ) xác nhận quyền sở hữu hợp pháp
của chủ chứng khoán và có thể đợc mua bán, trao đổi, chuyển nhợng trên thị trờng
chứng khoán
Thông thờng chứng khoán gồm 3 loại cơ bản là: Chứng khoán vốn: Cổ
phiếu (Equity securities); Chứng khoán nợ: Trái phiếu (Debt securities); Chứng
khoán phái sinh: Các chứng từ tài chính có nguồn gốc chứng khoán (Derivatives).
Cổ phiếu: Là một chứng th xác nhận quyền sở hữu đối với tài sản và vốn
của công ty cổ phần, do đó nó đợc coi là một tài sản thực sự. Ngời sở hữu cổ phiếu
đợc gọi là cổ đông. Các cổ đông đợc hởng quyền lợi hợp pháp tại công ty cổ phần
tuỳ theo tỉ lệ vốn tham gia vào công ty cổ phần đó.
Trái phiếu: Là một chứng th xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành
đối vớ ngời sở hữu (trái chủ), trong đó cam kết sẽ trả số tiền gốc kèm với tiền lãi
trong một thời hạn nhất định.
Các chứng khoán phái sinh: Trên thị trờng chứng khoán, bên cạnh các
giao dịch mua bán các chứng khoán vốn, chứng khoán nợ, còn có các giao dịch
mua bán các chứng từ tài chính khác nh chứng quyền, chứng khế, quyền lựa
chọn Các chứng từ tài chính nay đ ợc ra đời từ các giao dịch chứng khoán và đợc
quyền chuyển đổi sang chứng khoán qua mua bán. Do đó, ngời ta gọi chúng là các
chứng từ có nguồn gốc tài chính hoặc các chứng khoán phái sinh.
1.1.4. Chủ thể tham gia thị trờng chứng khoán
Trên thị trờng chứng khoán có nhiều loại chủ thể tham gia hoạt động theo
nhiều mục đích khác nhau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu t, chủ thể trung gian
chứng khoán, chủ thể quản lý và giám sát các hoạt động của thị trờng chứng
khoán và các tổ chức có liên quan.
Chủ thể phát hành: Đây là những ngời cần tiền và huy động vốn bằng cách
phát hành chứng khoán và bán cho những ngời đầu t hoặc những ngời kinh doanh
Hiện nay trên thế giới có hai mô hình phổ biến về công ty chứng khoán sau:
Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán: Theo mô hình này, hoạt
động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty chứng khoán độc lập, chuyên
môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không đợc tham
gia vào kinh doanh chứng khoán, đợc áp dụng ở nhiều nớc nh Mỹ, Nhật, Hàn
Quốc, Canada... Mô hình này có u điểm là hạn chế đợc rủi ro cho hệ thống ngân
hàng, tạo điều kiện cho thị trờng chứng khoán phát triển. Tuy nhiên, khả năng san
bằng rủi ro trong kinh doanh bị hạn chế. Trong thời gian gần đây, các nớc áp dụng
mô hình này có xu hớng giảm dần sự hạn chế đối với ngân hàng thơng mại trong
nghiệp vụ chứng khoán.
Mô hình công ty đa năng: Có hai loại công ty đa năng, đó là công ty đa
năng một phần và công ty đa năng hoàn toàn.
Công ty đa năng một phần: ở đây các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán phải thành lập công ty con độc lập.
Công ty đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng thơng mại đợc phép kinh
doanh tổng hợp.
Mô hình này có u điểm là kết hợp đa năng rất cao, do đó mà giảm bớt rủi ro
trong hoạt động kinh doanh chung, có khả năng chịu đựng các biến động của thị
trờng chứng khoán. Tuy nhiên, nếu nh thị trờng có biến động mạnh thì hoạt động
kinh doanh sẽ bị ảnh hởng nếu không tách bạch rõ ràng các nghiệp vụ kinh doanh.
Thờng thờng, các nớc châu Âu, châu úc thờng áp dụng mô hình công ty đa năng.
1.2.1.1. Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức một công ty chứng khoán có thể đợc xây dựng từ đơn giản
đến phức tạp tuỳ theo qui mô của thị trờng, phơng thức kinh doanh của chủ sở
hữu, khách hàng , mặt khác, tuỳ thuộc vào tính chất sở hữu của công ty.
Cơ quan quyền lực cao nhất của công ty chứng khoán là Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị bổ nhiệm ban Giám đốc và Giám đốc điều hành công ty. Giúp
việc cho Hội đồng quản trị có Ban kiểm soát, có nhiệm vụ theo dõi và kiểm soát
tất cả các giao dịch chứng khoán.
Theo thông lệ quốc tế, cơ cấu tổ chức của một công ty chứng khoán gồm
Phòng
quản trị
hành
chính
Phòng
lưu ký,
đăng ký
lưu trữ
dịch, soạn thảo, in ấn, gửi cho khách hàng, nhận tài liệu từ khách hàng, lu trữ các
hợp đồng, chứng từ, lệnh Bộ phận tài chính quản lý tài chính của Công ty thông
qua tài khoản chứng khoán và tiền quản lý việc cho khách hàng vay tiền để đầu t
chứng khoán, thoả thuận với khách hàng trong các giao dịch nhận thế chấp chứng
khoán, bảo đảm việc tuân thủ tỷ lệ vốn cho vay trên tổng giá trị chứng khoán thế
chấp. Bộ phận này thờng thoả thuận với các ngân hàng để vay tiền từ ngân hàng,
cho khách hàng vay và ký kết các văn bản thoả thuận thế chấp có liên quan.
Phòng Marketing: Với chức năng chủ yếu là quan hệ với khách hàng của
công ty, nhận lệnh từ khách hàng sau đó chuyển sang phòng giao dịch để thực
hiện, nghiên cứu phát triển thị trờng.
Phòng quản trị hành chính tổng hợp : Phòng này có nhiệm vụ chủ yếu
là duy trì cơ sở kinh doanh, văn phòng làm việc, trang thiết bị đồ dùng văn phòng
nói chung, duy trì điện nớc, nhà ăn..; tổ chức gặp gỡ, làm việc với các cơ quan hữu
quan, các tổ chức quốc tế, tổ chức kinh doanh khác; ký kết và quản lý các hợp
đồng tuyển dụng lao động, quản lý nhân sự...
Phòng lu ký, đăng ký và lu trữ thông tin: Thực hiện các việc liên quan đến
lu ký, đăng ký chứng khoán và lu giữ thông tin về giao dịch chứng khoán, về tài
khoản của khách hàng...
Trong trờng hợp công ty chứng khoán đợc cấp quản lý tài sản khách hàng,
quản lý danh mục đầu t, công ty chứng khoán có thể thành lập phòng quản lý tài
sản.
Các phòng này đem lại cho công ty những thu nhập to lớn bằng cách đáp
Hiện nay nhiều công ty chứng khoán có vốn lớn đợc phép hoạt động cả ba
lĩnh vực trên.
Công ty dịch vụ đa năng: Những công ty này không bị giới hạn hoạt động
ở một lĩnh vực nào của ngành công nghiệp chứng khoán. Ngoài ba dịch vụ trên, họ
còn cung cấp cho khách hàng dịch vụ đầu t chứng khoán, niêm yết chứng khoán
trên Sở giao dịch chứng khoán, uỷ nhiệm các giao dịch buôn bán cho khách hàng
trên thị trờng OTC. Sự kết hợp giữa sản phẩm và kinh nghiệm của công ty sẽ quyết
định cơ sở cho những dịch vụ mà họ có thể cung cấp cho khách hàng.
Công ty buôn bán chứng khoán: Là công ty đứng ra mua bán chứng khoán
với chi phí do công ty tự chịu. Công ty phải cố gắng bán chứng khoán với giá cao
hơn giá mua vào. Vì vậy loại công ty này hoạt động với t cách là ngời uỷ thác chứ
không phải là đại lý nhận uỷ thác.
Công ty buôn bán chứng khoán không nhận hoa hồng: Loại công ty này
nhận chênh lệch giá qua việc buôn bán chứng khoán, do đó họ còn đợc gọi là nhà
tạo thị trờng, nhất là trên thị trờng giao dịch OTC.
Các công ty chứng khoán là đối tợng quản lý của các nguyên tắc, qui chế do
Uỷ ban chứng khoán ban hành. Các quy chế này chi phối hoạt động của các công
ty này, kiểm soát họ trong quan hệ giữa các công ty chứng khoán với nhau và giữa
công ty chứng khoán với khách hàng của họ.
1.2.1.3. Vai trò của công ty chứng khoán
Khi thực hiện các hoạt động của mình, các công ty chứng khoán cũng tạo ra
sản phẩm vì họ là đại lý hay uỷ thác trong quá trình mua bán chứng khoán, dịch
vụ t vấn đầu t cho các cá nhân đầu t, công ty và cả Chính phủ nữa.
Vai trò huy động vốn: Các công ty chứng khoán là các trung gian tài chính
có vai trò huy động vốn, tức là họ là các kênh chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi có
nhu cầu sử dụng vốn. Các công ty chứng khoán thờng đảm nhận vai trò này qua
các hoạt động về nghiệp vụ ngân hàng đầu t và môi giới chứng khoán.
Vai trò xác định giá cả chứng khoán: Thông qua Sở giao dịch chứng
khoán, thị trờng OTC, các công ty chứng khoán cung cấp một cơ chế giá cả nhằm
giúp nhà đầu t có đợc sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu t
ời bán và ngời mua gặp nhau thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng
khoán hay thị trờng chứng khoán. Lợng hoa hồng từ nghiệp vụ này đợc hởng theo
một tỉ lệ nhất định trên tổng doanh số chứng khoán giao dịch hộ khách hàng và
chính khách hàng phải chịu hậu quả kinh tế của giao dịch đó. Đây chính là hoạt
động mua bán chứng khoán và là nghiệp vụ chủ yếu của các công ty chứng
khoán.
Sơ đồ quy trình giao dịch: (1): Mở tài khoản. Một khách hàng có thể mở một hoặc nhiều tài khoản ở
một công ty chứng khoán, gồm có: tài khoản tiền mặt, tài khoản ký quỹ, tài khoản
uỷ thác.
(2): Đặt lệnh: Khi khách hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải đa lệnh
cho ngời đại diện có giấy phép đang giữ tài khoản của mình qua điện thoại, gặp
trực tiếp hoặc bằng th từ. Khi đó công ty chứng khoán sẽ kiểm tra số khách hàng
cần bán hoặc số tiền trên tài khoản đủ thanh toán cho số lợng chứng khoán cần
mua cả về giá trị chứng khoán và các loại phí giao dịch hay không và luôn yêu cầu
khách hàng phải ký quỹ một phần chứng khoán cần bán hoặc một số tiền nhất
định trên tài khoản khách hàng ở công ty heo một tỉ lệ nhất định.
(3): Công ty chứng khoán chuyển lệnh tới thị trờng phù hợp để thực hiện:
Các lệnh mua bán chứng khoán niêm yết chuyển trực tiếp đến sàn giao dịch Sở
giao dịch chứng khoán. Còn đối với các lệnh mua hoặc bán những chứng khoán
không đợc niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán của khách hàng vẫn đợc
chuyển tới phòng thực hiện lệnh.
(4): Xác nhận lệnh cho khách hàng: Sau khi lệnh đợc chuyển tới thị trờng
thích hợp để thực hiện, một báo cáo về việc thực hiện lệnh này đợc lập ra để thông
Khách hàng
đích đầu t kinh doanh thu lợi của chính mình. Đây là nghiệp vụ kinh doanh rất
phức tạp và khó khăn, nó có thể mang lại lợi nhuận cho công ty nhng cũng có thể
gây ra không ít rủi ro. Để thực hiện tốt nghiệp vụ này, các công ty chứng khoán
phải có đội ngũ nhân viên phân tích thị trờng có nghiệp vụ giỏi và nhanh nhạy với
những biến động của thị trờng để đa ra đợc quyết định đầu t chính xác, hợp lý. Các
khoản thu của nghiệp vụ này gồm hai phần chủ yếu là cổ tức và lãi vốn (số chênh
lệch giữa giá mua và giá bán) nhng phần thu lãi vốn sẽ là phần chủ yếu.
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán: Với đội ngũ chuyên gia giỏi
về chứng khoán, am hiểu thị trờng, có tiềm lực tài chính, các công ty chứng khoán
hoạt động rất mạnh mẽ về nghiệp vụ nay. Đây là hoạt động hỗ trợ cho công ty
phát hành hay chủ sở hữu chứng khoán trong việc phân phối chứng khoán thông
qua thoả thuận mua chứng khoán để bán lại.
Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t: Thực chất nghiệp vụ này là nghiệp vụ
t vấn của công ty chứng khoán nhng ở mức độ cao hơn vì trong hoạt động này,
khách hàng sẽ uỷ thác cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu t
theo một chiến lợc hay những nguyên tắc mà đã đợc khách hàng thoả thuận. Thực
hiện nghiệp vụ này cho khách hàng, công ty chứng khoán vừa bảo quản hộ chứng
khoán, vừa đầu t hộ chứng khoán nên công ty chứng khoán nhận đợc khoản phí
quản lý bằng tỉ lệ phần trăm trên tổng số lợi nhuận thu về cho khách hàng.
Đối với các nhà đầu t thì việc uỷ thác đầu t này đem lại cho họ rất nhiều lợi
ích nh giảm rủi ro, đảm bảo ổn định lợi nhuận, giảm chi phí giao dịch và nghiên
cứu, hiệu quả đầu t đợc đảm bảo hơn so với tự đầu t, đặc biệt là đối với ngời đầu t
ít có kiến thức về chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Nghiệp vụ lu ký chứng khoán: Đây là nghiệp vụ uỷ thác của khách hàng
thực hiện các quyền của mình đối với chứng khoán. Thực hiện nghiệp vụ này
khách hàng sẽ đa số chứng khoán họ cần thu gỡ hộ đến công ty và ký hợp đồng
với công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán có trách nhiệm bảo quản, lu giữ
anh toàn cho các chứng khoán này. Công ty chứng khoán thu đợc khoản phí
nghiệp vụ gần nh không bị rủi ro, có điều kiện mở rộng các nghiệp vụ khác để thu
hoa hồng, tăng thêm nguồn lợi, bảo quản chứng khoán nh vật thế chấp cho một
công ty có bảo đảm, trái phiếu giao dịch...Có nhiều loại quản lý: Khách hàng có
thể ký gửi tuỳ chọn, ký gửi cố định hoặc ký gửi từng phần.
Giao dịch trái phiếu theo hợp đồng chuộc lại trái phiếu: Hợp đồng chuộc
lại trái phiếu từ vòng đầu t tại một thời điểm trong tơng lai sẽ đợc hai bên ký kết
tại thời điểm giao dịch hiện tại. Có nhiều loại chuộc lại: Chuộc lại chung qui định
rõ khối lợng giao dịch, đơn vị mua bán, lãi suất cố định; Chuộc lại theo qui mô lớn
qui định khối lợng giao dịch lớn, đơn vị giao dịch .
Ký gửi đầu t trái phiếu số lợng nhỏ để tiết kiệm thuế: Loại ký gửi này có u
điểm lớn về thuế, điều kiện mở tài khoản đơn giản. ở đây, ngời đầu t phải giữ trái
phiếu trong một thời gian từ một năm đến hết hạn, thờng là trái phiếu Chính phủ,
trái phiếu địa phơng.
Ngoài ra, công ty chứng khoán còn có nhiều hoạt động khác mang tính chất
đặc biệt nh huy động vốn ngắn hạn...
Hiện nay, luật chứng khoán ở nhiều nớc cho phép các công ty chứng khoán
có thể thực hiện một, hai hay tất cả các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán. Số vốn
điều lệ tối thiểu của công ty phải bằng số vốn điều lệ tơng ứng với mỗi nghiệp vụ
chứng khoán mà công ty đợc phép kinh doanh.
1.2.3. Nguyên tắc hoạt động và đạo đức nghề nghiệp.
Các công ty chứng khoán đã đợc cấp giấy phép kinh doanh hoạt động theo
các nguyên tắc bắt buộc: Giao dịch trung thực và công bằng,vì lợi ích của khách
hàng; kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm. Phải có hợp đồng
với khách hàng trớc khi thực hiện dịch vụ, không tiến hành các hoạt động có thể
làm cho khách hàng và công chúng hiểu sai về giá cả, giá trị và bản chất của
chứng khoán hoặc các hoạt động gây thiệt hại cho khách hàng. Bảo vệ tài sản của
khách hàng bằng cách tách biệt tài sản của khách hàng với tài sản của mình. Đảm
bảo nguồn vốn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
Tổ chức và thực hiện công tác kiểm soát nội bộ, tổ chức và thực hiện hạch toán và
quản lý tài chính theo qui định của pháp luật. Đảm bảo có đủ nhân viên kinh
doanh chứng khoán có kỹ năng đã qua đào tạo và đợc giám sát kỹ lỡng, không đợc
bán chứng khoán mình không sỡ hữu hoặc không có lệnh bán của khách hàng, trừ
dịch vụ giữa nhân viên với khách hàng, giữa công ty với khách hàng đều phải đợc
viết bằng văn bản và phải đợc quy định đầy đủ, chi tiết. Sau khi thực hiện giao
dịch cho khách hàng, nhân viên phải nhanh chóng xác nhận các đặc điểm chính
của giao dịch nh: ngày giờ giao dịch, loại chứng khoán giao dịch, giá cả và số lợng
chứng khoán giao dịch. Bên cạnh đó, các thông tin liên quan tới công ty niêm yết
đều phải công khai, rõ ràng minh bạch.
Ưu tiên khách hàng: Nhân viên phải đợc xử lý các lệnh của khách hàng
một cách công bằng và theo thứ tự thời gian nhận đợc chúng, đảm bảo rằng trong
mọi trờng hợp các lệnh của khách hàng phải đợc u tiên hơn so với lệnh của chính
công ty mình.
Xung đột về lợi ích: Trờng hợp nhân viên có một lợi ích trong một giao
dịch với khách hàng hoặc có mối quan hệ sẽ làm nảy sinh xung đột về lợi ích, họ
phải tự giác không làm t vấn cho khách hàng hoặc thực hiện các giao dịch đó trừ
khi đã công khai hoá cho khách hàng biết đợc lợi ích đó và đợc khách hàng chấp
nhận trớc khi tiến hành vụ giao dịch và nhân viên cũng đảm bảo rằng họ đã làm
mọi việc để khách hàng đợc đối xử công bằng
Tuân thủ các qui định: Nhân viên phải chấp hành pháp luật, thực hiện và
duy trì các biện pháp thích hợp để đảm bảo việc chấp hành pháp luật, các nguyên
tắc của cơ quan có thẩm quyền.
Quy định về đạo đức nghề nghiệp mang tính định tính cao và đòi hỏi các cá
nhân phải có ý thức tự giác thực hiện cùng với các quy tắc về hoạt động đảm bảo
lợi ích của công chúng đầu t và thị trờng hoạt động lành mạnh.
1.3. Hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán và các
nhân tố ảnh hởng
1.3.1. Đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều phải đặt ra những mục tiêu
cụ thể. Để đạt đợc mục tiêu đó trớc hết doanh nghiệp phải xác định cho mình
chiến lợc kinh doanh phù hợp với sự biến động của thị trờng. Đồng thời phải tiến
hành đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Vậy hiệu quả kinh doanh là gì?
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
hưu sở chủ Vốn
nhuận Lợi
1.3.1.2. Chỉ tiêu định tính.
Chỉ tiêu định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh là những chỉ tiêu không
thể lợng hoá đợc bằng con số. Chỉ tiêu này thờng đợc đánh giá bởi thị trờng, các
nhà phân tích, đặc biệt là khách hàng. ở công ty chứng khoán chỉ tiêu định tính đ-
ợc nói đến là vị thế và uy tín của công ty trên thị trờng. Điều này thể hiện ở định
hớng hoạt động của công ty có phù hợp với tình hình thị trờng, điều kiện thực tế
của chính doanh nghiệp cũng nh yêu cầu của khách hàng hay không, chất lợng
nhân sự trong công ty, vị trí địa lý của trụ sở công ty có thuận lợi về giao thông, có
ở trung tâm hay không, đặc biệt là có chiến lợc marketing phù hợp, từ đó công ty
tạo ra đợc cách thức để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng ...
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng cạnh tranh khốc liệt thì các chỉ tiêu
định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty càng có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng. Khi một công ty đạt đợc những tiêu chuẩn định tính cũng đồng
nghĩa với việc tình hình kinh doanh của công ty rất có hiệu quả, có vị thế cạnh
tranh cao trên thị trờng và đạt đợc các tiêu chuẩn định lợng.
Chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lợng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Chỉ tiêu định lợng là tiền đề, là cơ sở để đạt đợc chỉ tiêu định tính, ngợc lại chỉ tiêu
định tính tác động trở lại để hoạt động kinh doanh của công ty thêm hiệu quả.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh chứng khoán.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế gắn liền với hoạt động của
một công ty. Trong nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một công ty nào cũng luôn quan
tâm đến hiệu quả kinh doanh vì nó quyết định sự sống còn của công ty. Hoạt động
kinh doanh của công ty lại chịu chi phối bởi rất nhiều các yếu tố cả bên trong lẫn
bên ngoài công ty và chính vì thế hiệu quả kinh doanh của công ty cũng bị ảnh h-
ởng bởi các nhân tố này.
Là một mắt xích quan trọng của thị trờng, những biến đổi của thị trờng đều
tác động đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Nó có thể tạo cho công ty những
nguy cơ hoặc cơ hội kinh doanh. Thị trờng chịu sự tác động của các chính sách
ờng đa dạng và phong phú, nó sẽ tạo ra cho các nhà đầu t và các công ty có điều
kiện để đầu t, để có sự lựa chọn phù hợp nhất. Tuy nhiên, với một hệ thống bao
gồm nhiều loại hàng hoá sẽ phát sinh những khó khăn đối với các nhà đầu t khi tự
quyết định sự lựa chọn của mình. Vì vậy, nhất thiết nhà đầu t sẽ cần đến công ty
chứng khoán. Bên cạnh đó, khi thị trờng chứng khoán phát triển sẽ xuất hiện nhiều
loại rủi ro khó lờng trớc, do đó công chúng cũng nh công ty chứng khoán sẽ gặp
nhiều khó khăn hơn trong hoạt động kinh doanh. Mặt khác, khi thị trờng chứng
khoán phát triển, công ty chứng khoán muốn tồn tại, phát triển và cạnh tranh đợc
với các công ty chứng khoán khác thì công ty không những buộc phải có những
thay đổi cho phù hợp với thị trờng mà còn phải tiếp tục hoạt động kinh doanh hiệu
quả hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ phía khách hàng và từ phía bản thân
công ty.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật công nghệ ảnh hởng mạnh mẽ
đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Sản phẩm của công ty chứng khoán là các
dịch vụ cho kinh doanh nên yếu tố cạnh tranh sẽ thể hiện ở mức độ thực hiện dịch
vụ nhanh chóng, thoả mãn nhu cầu khách hàng. Muốn vậy, công ty phải áp dụng
kỹ thuật công nghệ phù hợp, từ đó nâng cao đợc năng suất, chất lợng và giảm đợc
chi phí trên một đơn vị sản phẩm. Nhờ đó mà tăng khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng, tăng vòng quay vốn lu động, tăng lợi nhuận.
Không phải ngẫu nhiên mà trong cùng một môi trờng kinh doanh, cùng
chịu một chế độ quản lý mà kết quả kinh doanh của các công ty lại khác nhau. Mà
chính bởi có sự khác nhau về các nhân tố nội tại giữa các công ty. Nhân tố nội tại
chính là cơ sở vật chất, mục tiêu phát triển, uy tín của công ty, mạng lới khách
hàng, khả năng của ban lãnh đạo, trình độ của cán bộ công nhân viên..., tất cả các
yếu tố này đều tác động đến hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán. Vì
vậy, để có thể đẩy mạnh và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các công ty
phải biết tận dụng những thế mạnh cũng nh hạn chế những điểm yếu của công ty
mình.
Một doanh nghiệp có nguồn vốn lớn thờng là những doanh nghiệp có qui
mô lớn, phạm vi hoạt động rộng. Và cũng chính vì thế, hiệu quả kinh doanh phụ
điều hành, các tổ chức tham gia thị trờng và công chúng đầu t làm quen với một