chẩn đoán và khống chế bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa - ms3 - Pdf 10


Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ của Dự án Chẩn đoán và khống chế bệnh tiêu chảy
ở lợn con trước cai sữa

CARD Project 001/04VIE MS3: Báo cáo 6 tháng lần thứ hai

10/2005 – 03/2006

1
Mục lục

1. Các thông tin về các đối tác 3
2. Tóm tắt dự án 4
3. Tóm tắt các hoạt động 4
4. Giới thiệu và cơ sở khoa học 4
5. Tiến triển của dự án 5
5.1 Giải trình các thắc mắc của báo cáo 1 5
5.2 Các hoạt động nổi bật 8

The University of Queensland/Victorian Department of
Primary Industry
Những thành viên chính phía
Australia
Dr Darren Trott, Dr Ian Wilkie, Dr Tony Fahy
Ngày bắt đầu
13/4/2005
Ngày kết thúc (ban đầu)
1/2007
Ngày kết thúc (sau khi thay đổi)
4/2007
Thời gian báo cáo
10/2005 – 3/2006
Các đầu mối liên lạc:
Phía Australia: Trưởng dự án
Tên
Dr Darren Trott
Telephone:
617 336 52985
Chức vụ
Giảng viên chính
Fax:
617 336 51355
Cơ quan
Trường Thú y, thuộc trường Đại
học Tổng hợp Queensland
Email:
[email protected]
Phía Australia: Liên lạc về hành chính
Tên

Dự án được xây dựng nên để nâng cao năng suất chăn nuôi tại các nông hộ nhỏ ở
Việt nam thông qua việc tăng cường quản lý thú y, đặc biệt là giai đoạn lợn trước cai
sữa. Ngoài ra, dự án còn thiết lập các test chẩn ddoans nhanh các nguyên nhân gây tiêu
chảy của lợn con trước cai sữa để tăng cường tốc đọ và độ chính xác của các chẩn đoán
trong phòng thí nghiệm. Phần thứ 3 cảu dự án là sản xuất th
ử nghiệm và đánh giá hiệu
lực của 1 loại vaccin E. coli sản xuất tại Việt nam. Trong suốt 6 tháng thực hiện dự án,
các số liệu vẫn đang được tập hợp. Các thử nghiệm ở trại đã cũng đã được đánh giá, xem
xét và những gợi ý cho các bước tiếp theo cũng đã được tiến hành. Có 1 tình huống
không mong đợi để giải quyết vấn đề chế tạo kháng huyế
t thanh chẩn đoán cho loại
fimbriae mới ở Việt nam đã xảy ra. Các kết quả của dự án đã được báo cáo tại Hội nghi
bệnh lợn Quốc tế 2006.

3. Tóm tắt kế hoạch:
Dự án được bắt đầu với 3 mục tiêu chính:

1. Chế tạo và thử nghiệm vacxin sản xuất nội địa

2. Lập kế hoạch chăn nuôi để phòng bệnh tiêu chảy trước cai sữa, sử dụng mô hình cải tiến liên
tục

3. Tăng cường năng lực chẩn đoán bệnh tiêu chảy trước cai sữa Trong suốt 6 tháng thứ 2 thực hiện, các tiến triển của dự án đối vớ
i cả 3 mục tiêu nói trên là rõ
ràng, theo đúng kế hoạch đặt ra, cho dù có 1 vài vấn đề khó khăn đã gặp phải. Loại kháng nguyên
bám dính mới (fimbriae) đã không thể được tinh chế (kể cả ở Viện Thú Y và Australia) từ các
chủng serotyp O8 Việt nam mà đã được xác định là mang 1 loại kháng nguyên bám dính không

đoán và khống chế bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa) đã được
bắt đầu với 3 mục tiêu để giải quyết vấn đề này:

1. Chế tạo và thử nghiệm vacxin sản xuất nội địa

2. Lập kế hoạch chăn nuôi để phòng bệnh tiêu chảy trước cai sữa, sử dụng mô hình cải tiến liên
tục (CIP)

3. Tăng cường năng lực chẩn đoán trong phòng thí nghi
ệm bệnh tiêu chảy trước cai sữa

5. Các tiến triển của dự án:
5.1 Giải trình các thắc mắc của báo cáo 1:
1. Việt nam là 1 nước nhiệt đới với các điều kiện khí hậu nóng ẩm, đặc biệt là ở các tỉnh
miền Bắc Việt nam. Tiêu chảy ở lợn trước cai sữa là 1 tổ hợp của rất nhiều các nguyên
nhân gây bệnh. Trong các điều kiện như vậy, 1 số các câu hỏi liên quan đến việc nhận biết
tác nhân gây bệnh chính có sự thay đổi về tính gây bệnh cùng với thời gian và trong các
môi trường khác nhau nên
được cân nhắc, xem xét.

Mục đích của dự án là thiết lập 1 số trại thí nghiệm và đối chứng và giám sát các yếu tố
chăn nuôi và bệnh tiêu chảy ở lợn con theo mẹ qua 1 khoảng thời gian nhất định, gồm cả
các ảnh hưởng về mùa đối với tỷ lệ bệnh. Việc này được tiến hành đồng thời với các đào
tạo kỹ năng trong phòng thí nghiệm để nhận bi
ết các nguyên nhân gây bệnh 1 cách chính
xác. Các số liệu thu thập được qua 1 khoảng thời gian sẽ được phân tích (và sẽ được báo
cáo) trong 6 tháng tiếp theo. 2. Điều đáng chú ý từ báo cáo của các trại phần lớn các trại trong quá trình điều tra là tương

a. Ít nhất là cho tới thời điểm này, các ông đã không nhận biết được 1 chủng
Vietnam nào thuộc serotyp O8 trong số các mẫu thu thập được
b. Huyết thanh chế qua thỏ không đặc hiệu với các chủng 5F-08

Có 1 vài câu hỏi đặt ra ở đây:
(i) Đây là do vấn đề về kỹ thuật hay vấn đề là sự thiếu vắng c
ủa các chủng. Nếu là do
vấn đề thiếu vắng của các chủng thì:
a. Cái gì sẽ liên quan đến kế hoạch số 5 – Chế tạo vacxin và thử hiệu lực?
b. Cái gì là bằng chứng cho việc rằng các chủng O8 có gây thiệt hại đáng kể về
kinh tế?
c. Nếu việc thiếu các chủng O8 là đặc điểm chung thì cái gì sẽ là điểm nhấn cho
vacxin chế tạo trong nước?

Sự thiếu vắng của các chủng 5F-O8 ETEC không bình thường mà được sự đoán là có mang
1loại fimbriae mới vẫn đang trong quá trình được nghiên cứu với 1 thực tế là các chủng vi
khuẩn này là dạng gây bệnh phổ biến thứ 2 tại các trại nuôi tập trung ở phía Bắc Việt nam
trong nghiên cứu đã được TS. Đỗ Ngọc Thúy trình bày trong luận văn của mình (Do et al., J
Med Microbiol. 2006 55:93-9). Chúng tôi cũng đảm bảo chắc chắn rằng các chủng này trong
thực tế
là các chủng độc bởi vì chúng có chứa đầy đủ các yếu tố độc tố đường ruột và gây
bệnh thực nghiệm cho các lợn con mới sinh (Do et al.,
Vet Pathol. 2006 43:150-60). Sự vắng
mặt của chúng trong nghiên cứu này có thể được giải thích là do các chủng vi khuẩn này
không có độc lực mạnh như các chủng ETEC phổ biến trên toàn thế giới có mang F4 và F5
(ví dụ như kháng nguyên fimbriae trên bề mặt của các chủng O8 có đặc tính bám dính kém
hơn vào niêm mạc ruột). Tuy nhiên, nếu các chủng có mang F4 và F5 độc hơn có thể được
phòng bằng vacxin thì nó sẽ tạo ra 1 khoảng trống mà chính các chủng 5F-O8 có thể lấp vào
đó. Chúng tôi cũng đã quan sát thấy hiệ
n tượng này rất nhiều lần đối với các đàn lợn ở


Nếu không tiến hành 1 điều tra mang tính toàn quốc thì sẽ khó có thể xác định được tới mức
độ nào mà loại fimbriae mới có tồn tại ở Việt nam và mức độ thiệt hại về kinh tế của chúng.
Việc nhận biết ra các chủng này ở tất cả các lứa tuổi của lợn trong giai đoạn theo mẹ, đặc
tính dung huyết của chủng và 1 thực tế là chúng sả
n sinh ra cả 3 loại độc tố đường ruột đã
gợi ý rằng chúng có thể phố biến ở Việt nam hơn là chúng tôi nghĩ. Cho tới khi điều này được
xác định rõ ràng thì phương cách tốt nhất là nên kết hợp loại fimbriae này vào với loại
vacxin đa giá chế tạo trong nước. Chúng ta cũng nên ghi nhớ 1 điều rằng loại vacxin này
không chỉ là để phòng riêng cho các chủng O8 mà nó còn bao gồm cả các chủng có mang F4
và F5 phổ biến. Mộ
t lý do chính nữa cho việc sử dụng vacxin sản xuất trong nước là về vấn
đề giá cả. Giá cho 1 liều vacxin sản xuất trong nước thấp hơn rất nhiều so với vacxin
LitterGuard.

4. Một điều đáng chú ý từ các số liệu của các trại là có 1 số vấn đề nổi trội lên như 1 ảnh
hưởng đáng kể đến năng suất chăn nuôi. Bệnh ghẻ và việc hạn chế
lợn nái được ăn dường
như là có ảnh hưởng rõ ràng hơn là tỷ lệ tiêu chảy, ít nhất là trong số các trại điều tra.
Nghiên cứu này đã ủng hộ cho việc xây dựng 1 quy trình chăn nuôi thực tế để cải thiện
năng suất chăn nuôi và sự kết hợp giữa lợi ích và lợi nhuận.

Vấn đề này đã và sẽ được giải thích thỏa đáng trong dự án CARD mớ
i 004/05VIE. Báo cáo 6
tháng đầu tiên sẽ được nộp vào cuối tháng 9/2006 (thực tế, 1 trong những lý do chính trong
việc chậm trễ nộp báo cáo này là do phải đầu tư rất nhiều thời gian và công sức trong việc
xây dựng 1 dự án hợp tác lớn giữa 7 cơ quan nghiên cứu và phải tham gia chương trình tập
huấn cho 6 cán bộ nghiên cứu phía Việt nam)

5. Có 1 điều đáng chú ý rằng 1 số trang thiết bị đã được cung cấp cho NIVR, gồm cả 1 s

t cả các trại thí nghiệm (xem
tài liệu gửi kèm: Lịch trình tiêm vacxin).
b) Một vài trại lợn đã không tuân thủ các khuyến cáo từ các chuyến thăm trước đó. Chúng
tôi tin tưởng rằng việc chuyển giao kỹ thuật chỉ có thể thực hiện được khi chính các nhà khoa học
phía Việt nam được tập huấn, đào tạo 1 cách đầy đủ để có thể tiến hành các kiểm tra đánh giá tại
trại và khuyến cáo các thay đổi với nhữ
ng người có thẩm quyền phía Việt nam. Đây chính là
động lực chính cho dự án CARD 004/05VIE, bởi vì rất nhiều vấn đề có tính biện chứng trong
thực tế hơn là dấu hiệu của của bệnh tiêu chảy của lợn theo mẹ nói riêng(mà thực tế đây lại chính
là vấn đề lớn nhất!). Nếu nhìn nhận 1 cách lạc quan nhất, trại thí nghiệm ở tỉnh Bình Định là trại
có sự tiến triển rõ ràng nhấ
t và sẽ là trại mô hình lý tưởng nhất cho các chương trình tập huấn
trong tương lai.
2) Hai báo cáo tường được chấp nhận đã báo cáo chi tiết các kết quả của dự án (do TS. DO Ngoc
Thuy, NIVR viết) đã được báo cáo tại Hội nghị bệnh lợn quốc tế lần thứ 19 tại Copenhagen, Đan
mạch, tổ chức vào tháng 7/2006 (xem tài liệu gửi kèm Tóm tắt báo cáo IPVS 1 và 2).
Báo cáo 1 trình bày kết quả của các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về 117 mẫu phân từ 10
trại thí nghi
ệm gửi đến NIVR để chẩn đoán các nguyên nhân gây tiêu chảy của lợn theo mẹ trong
giai đoạn 8 tháng thực hiện dự án. Các kết quả đã khẳng định sự có mặt của nhiều tác nhân gây
bệnh ở tất cả các trại. Có thể tóm tắt như sau:
a) Có rất ít trường hợp là ETEC trong giai đoạn lợn 1-4 ngày tuổi, chứng tỏ rằng ở riêng
các trại này, loại vacxin ETEC nhập nội là có hiệ
u lực.
b) Trong khi đó, các nguyên nhân phổ biến hơn lại là TGEV và rotavirus. Một tỷ lệ cao
của các nguyên nhân này có thể đã phản ánh tình trạng chăm sóc, vệ sinh kém.
c) Cầu trùng và Cryptosporidium là cũng có xuất hiện ở Việt nam. Nguyên nhân về cầu
trùng là hoàn toàn có thể được phòng bằng cách dùng Baycox trong giai đoạn bú sữa.
d) Clostridium perfringens cũng được nhận biết như là 1 tác nhân gây bệnh quan trọng
trong 1 số trường hợp tiêu chảy trước cai sữ

• Những người tham gia tậ
p huấn cần có hướng dẫn về việc sử dụng các trang thiết bị
chuồng nuôi, các mục tiêu phối giống, nhận ra các điểm không hợp lý, tầm quan trọng của
việc thụ tinh nhân tạo đối với chăn nuôi để đạt được năng suất cao.
• Cần có các ghi chép chi tiết và đầy đủ hơn về năng suất chăn nuôi

5) Theo lời mời chính thức của Dr. John Fairbrother, Dr. Thuý đã sang thă
m và làm việc tại
phòng thí nghiệm tại Montreal và tiếp tục các nghiên cứu về các chủng O8 không bình thường và
các chủng ETEC khác phân lập được tại Việt nam từ lợn trước và sau cai sữa.

5.3 Lợi ích của các nông hộ chăn nuôi:
1) Thiết lập và xây dựng khả năng chẩn đoán các bệnh tiêu chảy trước và sau cai sữa của lợn tại
NIVR

2) Xác định 1 cách rõ ràng 2 trại mô hình (1 trại tại Bình Định và 1 trại tại Hải Phòng) để có thể
được dùng cho mục đích tập huấn trong 2 năm của dự án 004/05 VIE

3) Tiếp tục việc tập huấn cho những cán bộ nòng cốt sẽ tham gia tổ chức các buổi hội thảo nhằm
có các ghi chép số liệ
u chính xác và các cải thiện liên tục sẽ được thực hiện 1 cách hoàn hảo
trong dự án 004/05VIE.

5.4 Cơ hội đào tạo:
Không có gì thay đổi so với báo cáo trước. Dự án vẫn đang trong giai đoạn tập trung số liệu. Cơ
hội để tiến hành tinh chế kháng nguyên fimbriae tại phòng thí nghiệm của Dr. Fairbrother cũng
cần có thời gian để chế tạo loại kháng huyết thanh đặc hiệu, phục vụ cho các chẩn đoán chính xác
về loại fimbriae mới này.

5.5 Thông tin đại chúng:

cách chính xác và đầy đủ và bởi vậy có thể tiến hành các thay đổi về quản lý, chăm sóc 1 cách
thích hợp để cải thiện tình hình chăn nuôi và tăng năng suất. Việc này cần có thờ
i gian mới có thể
khắc phục được.
7.2 Cách khắc phục:
Chúng tôi đã thiết kế và xây dựng được 1 bản liệt kê các vấn đề cần phải kiểm tra tại trại mà có
thể được dùng để "tập huấn cho các giáo viên" hoặc có thể được dùng như là các đánh giá chính
về các yếu điểm chính về chăn nuôi tại mỗi trại khi xuống kiểm tra. Sử dụng bản liệt kê này sẽ
cho phép các nhà khoa học đánh giá mức độ thuần thục của mỗi cán bộ
Việt nam khi tham gia
đánh giá. Tuy nhiên, để phương pháp này có thể được thực hiện 1 cách hoàn hảo, thì yêu cầu bức
xúc cho việc đào tạo các nhà khoa học Việt nam ở Australia cần được xúc tiến trong dự án
CARD mới (004/05VIE và 020/05VIE). Các câu hỏi đánh giá tại trại và bản liệt kê sẽ được trình
bày trong báo cáo dự án 6 tháng đầu tiên của dự án 004/05VIE.

10
7.3 Tồn tại:
Không có gì tồn tại tại giai đoạn này của dự án
8. Các việc cần tiến hành tiếp theo:
Các việc cần tiến hành trong 6 tháng tiếp theo của dự án bao gồm:
1) Thử an toàn và hiệu lực của vacxin E. coli sản xuất tại NIVR theo như quy trình
đã xây dựng
2) Chuyển chủng E. coli và tinh chế kháng nguyên bám dính tại phòng thí nghiệm
chuyên khảo về E. coli tại Montreal
3) Kết thúc các theo dõi ở trại thí nghiệm và trại đối chứng
4) Kiểm tra trại và tiến hành các chương trình tập huấn cho các cán bộ khoa học phía
Việt nam (đối với d
ự án 004/05VIE), bởi vậy họ có thể tiếp thu và chuyển giao các
chương trình tập huấn đầu tiên cho dự án 001/04VIE vào tháng 9/2006.
9. Kết luận:

Tổng số 50 36 5

Tên cán bộ phía Việt nam Ngày làm việc ở
VIETNAM
DR. TRUONG VAN DUNG 12
DR. CU HUU PHU 24
DR. DO NGOC THUY 48
Các nhân viên chẩn đoán trong phòng thí
nghiệm
24 2: TRANG THIẾT BỊ VÀ CÁC DỊCH VỤ KHÁC:
Mô tả trang thiết bị và các dịch vụ khác Chi phí
12

Chữ ký của người có trách nhiệm phía
Australian có sự xác nhận Chữ ký xác nhận

14

Tiến triển của dự án so với mục tiêu đặt ra, kế hoạch, hoạt động và
kết quả thu đợc
Tờn d ỏn: Chn oỏn v khng ch bnh tiờu chy ln con theo m
C quan thc hin: Vin Thỳ Y

Tờng thuật Các thông tin yêu cầu
Đánh giá sự thực hiện Các giả định Các thông tin yêu cầu

Cỏc mc tiờu:
1. Ch to v th nghim vacxin
sn xut trong nc
2a. Chng trỡnh phũng chng
bnh tiờu chy cho ln trc cai
sa
1a. Nhn bit v giỏm nh cỏc
thnh phn khỏng nguyờn cn cú

toan v hiu lc ca vacxin ti
N
IVR
Hũan chnh th nghim trờn thc
a
Cỏc theo dừi v cỏc lụ vacxin c
ỏnh giỏ cn thn

T chc hi tho vi cỏc nụng h
cú c k hoch thc thi rừ
rng
Tin hnh thc hin k hoch ra
ti mt s tri tiờu biu
Tin hnh tp hun chuyn giao
k thut cho cỏc tnh v cỏc vựng
khỏc
Phõn phỏt cỏc ti liu tp hun
Gim t
l cht ca ln trc cai
sa

Hi tho tho lun cỏc iu tra Tỏc nhõn gõy bnh mi cú tớnh
tng t v c tớnh gõy bnh nh
cỏc chng c in trc õy v s
to ra ỏp ng min dch theo cỏch
tng t. Cỏc th nghim ban u
ó cho phộp kt lun nhng gi

thut t cỏc nh khoa hc Australia
ti ngỡ chn nuụi s l khụng
hiu qu do vic thiu núi chung
v trỡnh tp hun cho cỏc thỳ y
viờn v cỏc k nng qun lý sc
kho ho n gia sỳc. Bi vy,
chỳng tụi ó trin khai mụ hỡnh
"tp hun cho cỏc giỏo viờn".
15

2b. Kế hoạch phát triển liên tục
(CIP)
3. Tăng cường khả năng chẩn
đoán bệnh tiêu chảy của lợn
trước cai sữa
Khả năng của các nông hộ và
những người được tập huấn sẽ
nhận được:
- Các nông hộ nhỏ
- Các trại nuôi tập trung quy mô
lớn
-Các nhân viên phòng thí nghiệm
của NIVR
-Xưởng sản xuất vacxin của NIVR

thận
Biên soạn và phổ biến các tài liệu
tập huấn, các giáo trình đã được
đánh giá là thành công đến những
nhân viên phòng thí nghiệm (Cả
phía Australia và Việt nam)

Mức độ có sẵn của các loại thuốc
thử được thông qua và phê chuẩn
Tập huấn cho cán bộ tại cơ sở về
các kỹ thuật chẩn đoán đại thể
Phương pháp phân loại nguyên
nhân chết vào một loại bệnh cụ thể

Các nông hộ sẽ được lợi vì năng
suất chăn nuôi tăng lên.
Khả năng đầy đủ của phòng thí
nghiệm

Kỹ thuật: Sản xuất vacxin quy mô
lớn, có hiệu lực phòng bệnh cao Các số liệu được đánh giá, các
chủng được phân lập và giữ.lại.
Các chủng vacxin được nuôi cấy

N
hư trên

Gây miền dịch qua thỏ để chế tạo
kháng huyết thanh đa giá nhằm
nhận biết các chủng O8 mới đã
không có kết quả là chế tạo được 1
loại kháng huyết thanh đặc hiệu.
16
định các đặc tính

chăn nuôi với giá thành hạ. Vacxin
có thể được xuất khẩu sang 1 số
nước láng giềng như Lào và
Campuchia.

Kiến thức: Các báo cáo từ các trại
và các đánh giá; giám sát sức khoẻ
đàn lợn
Khả năng của Viện nghiên cứu:
các
nhà khoa học được tập huấn để
tiến hành các đánh giá tại trại và
đưa ra các lời khuyên
Lợi ích về tài chính: tạo được các
trại mô hình để thí điểm các thay
đổi trong việc quản lý chuồng trại
để tăng năng suất chăn nuôi và lợi
và kết hợp lại.

Các số liệu từ các thử nghiệm tại
trại sẽ được thu thập và đánh giá.
N
hư trên

Quá trình miễn dịch sẽ được làm
lại, sử dụng kháng nguyên fimbriae
đã được tinh khiết.
Một cơ hội chưa lường trước đã
đến với các nhân viên NIVR để
nhận được tập huấn về nhận biết 1
loại kháng nguyên mới ở 1 phòng
thí nghiệm khác, làm việc với 1
chuyên gia đứng đầu thế giới về
lĩnh vực này - người cũng rấ
3. Tăng cường khả năng chẩn
đoán bệnh tiêu chảy của lợn
trước cai sữa

nhuận về tài chính; các ghi chép và
các trại sau đó có thể được sử dụng
cho các cuộc hội thảo trong tương
lai để đào tạo cho các hộ chăn nuôi
nhỏ.
Các lợi ích về mặt xã hội: tập huấn,
đào tạo đầy đủ cho phụ nữ trong
việc quản lý trang trại Kỹ thuật và kiến thưc: Cung cấp
các hoá chất cho chẩn đoán nhanh
và các tập huấn phù hợp tại NIVR
cho việc xét nghiệm nhanh và
chính xác 6 nguyên nhân chính gây
tiêu chảy lợn con theo mẹ.
Khả năng của Viện nghiên cứu:
Tăng cường khả năng để tiến hành
các xét nghiệm chính xác tại NIVR
đối với các mẫu nhận được từ các
trại thí nghiệm (mẫu phân và mẫu
tăm bông)
Lợi ích về tài chính:
tăng kiến thức


Phòng thí nghiệm của NIVR đã
biết cách xác định nhanh và chính
xác các nguyên nhân gây tiêu chảy
của lợn theo mẹ tại các trại thí
nghiệm và trại đối chứng. Các số
liệu đang được biên soạn và sẽ
được trình bày ở Hội nghị bệnh lợn
quốc tế t chức tại Copenhagen vào
tháng 7/2006.
CÁC HOẠT ĐỘNG

Tổ chức những cuộc hội thảo đầu
tiên ở Australia và Vietnam (2a)

Tìm các trại phối hợp thực hiện dự
0-2 tháng

0-3 tháng
Chuyến đi khảo sát đầu tiên của
các chuyên gia Australia và cuộc
hội thảo đầu tiên đã hoàn thành.
Các trại thử nghiệm và đối chứng
(5 trại mỗi loại) được lựa chọn ở 1
18
án (1, 2a, 2b)



0-6 tháng
(được sửa đổi trong vòng 0-24
tháng) số tỉnh. Mỗi trại đều được kiểm tra,
đánh giá.
Việc thu thập số liệu về tình hình
bệnh tật đã được bắt đầu tiến hành
tại mỗi trại. Các số liệu đang được
thu thập và việc đánh giá các trại
được các chuyên gia Australia
đánh giá 2 lần trong thờ
i gian báo
cáo (11/2005; 2/2006)
Sau cuộc hội thảo đầu tiên, có 1
điều rõ ràng rằng việc tập huấn cho
các cán bộ cơ sở cần có thêm thời
gian và nguồn lực, không thể chỉ
dựa vào dự án này. Phương thức

ng chn oỏn thớch hp.

Thit lp cỏc chng vaxin. Chuyn
giao cụng ngh sn xut vacxin. 0-8 thỏng

0-12 thỏng
(c sa i trong vũng 0-18
thỏng)
khỏc.
Cỏc hoỏ cht, thuc th cho chn
oỏn ó c thu nhn t
Australia, cỏc nhõn viờn phũng thớ
nghim ó c tp hun y
v cỏch s dng v tt c cỏc k
thut hin ang c ỏp dng ti
N
IVR, t
r
phn chn oỏn vi
khỏng huyt thanh O8F Mỏy PC
RMinistry of Agriculture & Rural Development
Phụ lục 1
Chương trình hợp tác về Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (CARD) Chẩn đoán và khống chế bệnh ỉa chảy ở lợn con theo mẹ Báo cáo điều tra các trại lợn ở Miền Bắc
Tháng 11 năm 2005
Dr Tony Fahy
Ms Karen Moore

21

22

ANH TÍNH (HẢI PHÒNG)

LỢN CON
CHUỒNG ĐẺ
BÁO CÁO CHẨN ĐOÁN
NHẬN XÉTNHƠN HOÀ (BÌNH ĐỊNH)

LỊCH TIÊM PHÒNG VACXIN CHO NÁI
LỢN CON
CHUỒNG ĐẺ 1
CHUỒNG ĐẺ 2
BÁO CÁO CHẨN ĐOÁN
NHẬN XÉTĐỊNH DUNG (BÌNH ĐỊNH)

NÁI
LỢN CON
CHUỒNG ĐẺ
BÁO CÁO CHẨN ĐOÁN
NHẬN XÉT 23
Trại Đông Mỹ (Thái Bình)



Báo cáo chẩn đoán

Tỷ lệ chết trước cai sữa trung bình là 18% từ tháng 6: 36% tỷ lệ chết xảy ra ở tuần đầu sau khi sinh,
60% tỷ lệ chết là do còi yếu, ỉa chảy và phơi nhiễm vào ngày 10 – 21. Không có giải thích về nguyên
nhân chết gây có thể có

Bảy mẫu được chuyển đén Viện thú y đẻ làm xét nghiệm vào tháng 10. Rotavirus được xác định ở
một lợn 11 ngày tuổi. Không có nguyên nhân gây bệnh nào đáng kể được xác định ở 6 mẫu còn lại.
Có vẻ
như yếu tố gây chết lợn giai đoạn 10 -21 ngày tuổi không có mặt trong mẫu.
24
Nhận xét
Những khuyến cáo nào về chăn nuôi không được thực hiện. Những vấn đề chính cần chỉ ra là:
• Thông gió không đầy đủ cho chuồng đẻ
• Cho lợn nái ăn không đủ (các máng ăn trống không)
• Các lợn nái quá nóng qua biểu hiện chỉ số nhiệt và tần số hô hấp cao
• Tỷ lệ chết trước cai sữa cao có thể là phản ánh của phương pháp chăn nuôi. Việc phân loại tỷ lệ
chết này cần được nghiên cứu thêm.
Đề nghị

Chúng tôi sẽ cân nhắc việc loại bỏ trại này ra khỏi dự án trừ khi họ thực hiện những khuyến cáo về
chăn nuôi do chúng tôi đưa ra
Trại Anh Đệ

Tình hình chung
• Lợn cai sữa không só thức ăn
• Lợn cai sữa ỉa chảy do E.coli O149 K88
• Điều trị lợn cai sữa với Bacillus subtilus

Báo cáo chẩn đoán

Tỷ lệ chết trước cai sữa trung bình là 8% nhưng số liệu không đầy đủ cho tháng 8 và tháng 10

Nhận xét

Có thể làm nhiều việc cho trại này nhưng đây chỉ là trại đối chứng không phải là trại thí nghiệm của
dự án. Chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra chương trình tiêm vacxin cho lợn cai sữa phụ thuộc vào độ mẫn
cảm của các chủng E.coli K88 phân lập được và thành công với việc khống chế chúng với việc bổ
sung thuốc vào nước uống và có thể kết hợp sưởi ấm. Tràng Duệ (Hải phòng)Trại 3 (dao động từ 206 đến 250 nái), kiểm tra chuồng đẻ ngày 1/12/2005
• 16 nái đẻ/tháng (số lượng này không ổn định)

Lợn con
• Cai sữa vào 21 ngày tuổi nhưng lúc đầu cai sữa tại chuồng đẻ không có sưởi ấm thêm nên
chúng bị lạnh.
• Vùng sưởi được che chắn không hoàn toàn bằng các bao tải nên có gió lùa. Không có miếng
lót sàn thực sự. Đèn sưởi bật nhưng lợn con vẫn bị lanh
• Một số đàn ở dãy chuồng cũ bị ỉa chảy. Lấy mẫu xét nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status