Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Chẩn đoán và khống chế bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa - MS2 " - Pdf 15


Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ của Dự án 001/04VIE: Chẩn đoán và khống chế bệnh tiêu chảy
ở lợn con trước cai sữa MS2: Báo cáo 6 tháng lần thứ nhất
1. Các thông tin chính về các đối tác:
Tên Dự án:
Chẩn đoán và khống chế bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa
Đối tác phía Việt nam
Viện Thú Y (NIVR)
Trưởng dự án phía Việt nam
TS. Trương Văn Dung
Đối tác phía Australia
The University of Queensland/Victorian Department of Primary
Industry
Thành viên chính phía Australia
Dr Darren Trott, Dr Ian Wilkie, Dr. Steve Driesen, Dr Tony Fahy
Ngày bắt đầu
13/4/2005
Ngày kết thúc (ban đầu)

61 7 33651188
Cơ quan
Trường Thú y, thuộc trường Đại
học Tổng hợp Queensland
Email:


PhÝa Vietnam
Tên
TS. Cù Hữu Phú
Telephone:
84 4 8693923
Chức vụ
Trưởng BM Vi trùng
Fax:
84 4 8694082
Cơ quan
NIVR
Email:


2. Tóm tắt Dự án:
Dự án được xây dựng nên để nâng cao năng suất chăn nuôi tại các nông hộ nhỏ ở Việt
nam thông qua việc tăng cường quản lý thú y, đặc biệt là giai đoạn lợn trước cai sữa. Ngoài ra,
dự án còn thiết lập các test chẩn đoán nhanh các nguyên nhân gây tiêu chảy của lợn con trước
cai sữa để tăng cường tốc đọ và độ chính xác của các chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Phần
thứ 3 của dự án là sản xu
ất thử nghiệm và đánh giá hiệu lực của 1 loại vacxin E. coli sản xuất
tại Việt nam. Trong suốt 6 tháng đầu thực hiện dự án, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn thành
công các trại lợn dùng làm thí nghiệm, các thay đổi cần thiết về cách chăn nuôi đã được tiến

như sức khỏe của đàn lợn. Các nhân viên phòng thí nghiệm của Viện Thú Y cũng đã được tập
huấn 1 cách đầy đủ và có thể tự chủ tiến hành các kỹ thuật chẩn đoán, bao gồm cả các kỹ thuật về
vi khuẩn và huyết thanh, ELISA và PCR. Một máy nhân gen tự động mới cũng đã được mua
trong khuôn khổ dự án và hiện nay đã được sử dụng tới mức tối
đa. Nhiều bài giảng tập huấn đã
được đưa tới tay người chăn nuôi, và các thú y cơ sở.

4. Giới thiệu & Cơ sở khoa học của dự án:
Tiêu chảy trong giai đoạn theo mẹ của lợn là 1 trong những bệnh chủ yếu, gây thiệt hại về kinh tế
chô cả chăn nuôi lợn quy mô nhỏ và lớn tại Việt nam. Các nghiên cứu đã được tiến hành trước
đây đã khẳng định rằng sự xuất hiện của 1 loại kháng nguyên bám dinh mới của các chủng vi
khuẩn E. coli gây bệnh Colibacillosis ở Việt nam và bởi vậy bệnh khó có thể khống chế b
ằng các
loại vacxin đang có sẵn trên thị trường. Hơn nữa, các loại vacxin hiện nay ở Việt nam là vacxin
nhập ngoại, có giá thành cao. Bên cạnh đó, có rất nhiệu nguyên nhân gây tiêu chảy trước cai sữa
mà các nguyên nhân đó có thể chưa được biết đến với điều kiện ở Việt nam. Tất cả những nguyên
nhân này đều bị ảnh hưởng với chăn nuôi và chăm sóc trong suốt giai đoạn mang thai và nuôi
con. Dự án 001/04VIE (Chẩn đoán và khống chế bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa) đã được
bắt đầu với 3 mục tiêu để giải quyết vấn đề này:

1. Chế tạo và thử nghiệm vacxin sản xuất nội địa

2. Lập kế hoạch chăn nuôi để phòng bệnh tiêu chảy trước cai s
ữa, sử dụng mô hình cải tiến liên
tục (CIP)

3. Tăng cường năng lực chẩn đoán trong phòng thí nghiệm và trên thực địa bệnh tiêu chảy trước
cai sữa

5. Các tiến triển của dự án:

Chúng tôi đã tham quan 1 số trại lớ
n và tiến hành chỉ định 1 nhóm các trại dùng làm đối chứng và
1 nhóm dùng làm thí nghiệm, nhằm thực hiện nội dung theo dõi số liệu về năng suất chăn nuôi
(thiết bị ghi chép số liệu đã được đặt ở 2 trại), và với mục đích lâu dài là chuyển các trại thí
nghiệm thành các trại mô hình kiểu mẫu để có thể sử dụng cho các mục đích tập huấn. Các thẻ
theo dõi nái đã được thử áp dụng ở các trại để có thể ghi chép được các số liệu 1 cách chính xác
(Phụ lục 3). Các trại đã được các chuyên gia phía Australia kiểm tra (xem phần báo cáo về tình
hình của các trại vào đợt tháng 4) và các mẫu phân đã thu thập được từ các lợn bị tiêu chảy gửi
đến phòng thí nghiệm để xét nghiệm.
c) H
ội thảo về bệnh đường ruột ở lợn. Hội thảo lần đầu tiên về bệnh đường ruột của lợn
đã được giảng cả bằng 2 thứ tiếng: tiếng Anh và tiếng Việt do TS. Tony Fahy và TS. Đỗ Ngọc
Thuý, cho các đối tượng là những người chủ trang trại, các cán bộ nghiên cứu và các thú y cơ sở
tại tỉnh Thái Bình. Đây là cơ hội tốt để có thể đánh giá xem phươ
ng pháp của chúng tôi được thu
nhận như thế nào và chúng tôi cần phải làm gì thêm để cải tiến cho các buổi tập huấn trong tương
lai. Về khía cạnh quy mô chăn nuôi và lợi ích của ngành chăn nuôi lợn ở Việt nam, chúng tôi đã
nhận thấy sự không thống nhất giữa những điều mà người tham gia tập huấn nói là họ đã đạt
được trong chăn nuôi với những điều mà thực tế chúng tôi quan sát được dướ
i trại. Rất nhiều các
khiếm khuyết về kỹ thuật chăn nuôi có thể được khắc phục bằng những thay đổi đơn giản trong
cách quản lý, chăm sóc, nhưng những điều này đã không được thực hiện. Chúng tôi cũng nhận ra
rằng việc trang bị các kiến thức khoa học nói chung về thú y ở mạng lưới thú y cơ sở và và khả
năng của họ để tiến hành các ki
ểm tra độc lập ở trại, giải quyết vấn đề, cũng như đưa ra các tư
vấn, gợi ý về thay đổi cách thức chăn nuôi là rất cần thiết. Cũng từ cuộc hội thảo đầu tiên, chúng
tôi đã hình thành nên khái niệm "Tập huấn cho những cán bộ nòng cốt" cho các buổi hội thảo
trong tương lai, cũng như là việc đề xuất cho 1 dự án CARD mới.
3) Chuyến thăm lần thứ 2 của các nhà khoa học Australia. Các chuyên gia Australia đã tiến hành
kiểm tra, đánh giá các trại trong giai đoạn cao điểm nhất về độ ẩm và nhiệt độ (xem phần phụ lục

một số trở ngại sau đây trong chăn nuôi lợn ở Việt nam, nhưng các trở ngại này hoàn toàn có thể
khắc phục đượ
c thông qua việc áp dụng mô hình chăn nuôi và cải tiến mới.
9 Thiếu các theo dõi về năng suất chăn nuôi được ghi chép 1 cách rõ ràng
9 Không đạt được các mục tiêu về sinh sản
9 Hệ thống thông thoáng gió và làm lạnh rất kém, đã giới hạn khả năng tiêu thụ thức ăn của các
lợn con và các lợn giống
9 Thiếu các ghi chép về tăng trọng trung bình hàng ngày, mức độ chuyển hóa thức ăn trung
bình ngày, và số l
ượng lợn bán ra/nái/năm.
9 Tất cả các lợn, từ con nái đang nuôi con đến các lợn đang vỗ béo đều bị giới hạn lượng thức
ăn cho ăn.
9 Thiếu các số liệu được ghi chép về tỷ lệ chết và tuổi chết.
9 Chương trình tiêm phòng bằng vacxin chưa đúng đối với tất cả các bệnh cần được tiêm phòng
bằng vacxin.
9 Thiếu các chuyên gia thú y hoặc các k
ỹ thuật viên cơ sở có kinh nghiệm để hướng dẫn và tư
vấn cho nông dân.
9 Thiếu các trại mô hình ở mỗi tỉnh để tập huấn cho bà con. Sở Nông nghiệp Bình Định đã
đồng ý chấp thuận sử dụng trại ở Bình Định (trại số 9) cho mục đích nói trên.

Hai vấn đề cuối cùng đề cập tới ở phần trên là không thể thực hiện được trong dự án CARD hiện
tại (001/04VIE), nhưng sẽ là mục tiêu chính trong dự án CARD mới (004/05VIE và 020/05VIE).
Có rất nhiều khả năng là các dự án này sẽ được hòa nhập với dự án 001/04VIE.

5.2 Lợi ích cho các hộ chăn nuôi nhỏ
1) Tăng cường khả năng chẩn đoán các bệnh đường ruột tại Viện Thú Y

2) Xây dựng mô hình trang trại điển hình mà có thể được dùng cho các buổi hội thảo, tập huấn
cho các hộ chăn nuôi trong suốt 2 năm thực hiện dự án.

5.5 Quản lý dự án:
Việc quản lý các hoạt động của dự án được chia sẻ giữa 1 bên là Bộ môn Vi trùng, Viện Thú Y, 1
bên là Phòng công nghiệp cơ bản bang Victoria và Trường Đại học Tổng hợp bang Queensland.
Văn Phòng điều phối các dự án nghiên cứu, thuộc Trường Tài nguyên và thức ăn, trường Tổng
hợp Queensland, là nơi có nhiều năm kinh nghiệm trong việc quản lý các dự án nghiên cứu nông
nghiệp quốc tế, cùng là cơ quan chịu trách nhiệm cho việc quản lý dự
án này.
6. Báo cáo về 1 số vấn đề có liên quan
6.1 Môi trường
Trong chuyến kiểm tra và đánh giá trại lần đầu tiên, các chuyên gia đã đặt nhiều sự chú ý đến các
chất thải từ trại lợn (ví dụ, chúng tôi đã quan sát thấy việc sử dụng các hệ thống nước thải mở từ
chuồng có thể sẽ là mối nguy cơ rất lớn cho bệnh dịch xảy ra). Bởi vì các thay đổi về cách thức
quản lý chỉ được bắt đầu sau khi các trại đã
được tiến hành đánh giá, tăng chuyển hoá thức ăn,
giảm dịch bệnh và tăng năng suất chăn nuôi, tất cả đều có ảnh hưởng tích cực đối với môi trường.
Phần lớn các lợn con bị tiêu chảy vẫn đang được điều trị bằng kháng sinh, mà trong rất nhiều
trường hợp là điều trị không đúng bởi vì chỉ có 1 số lượng nhỏ các lợ
n bị bệnh do E. coli (tiêu
chảy sơ sinh 1-4 ngày và 2-3 tuần tuổi) và xuất huyết ruột do C. perfringens được chẩn đoán
trong số các mẫu từ các trại thí nghiệm và đối chứng được gửi đến chẩn đoán ở Viện Thú Y. Các
chuyên gia đã gợi ý việc điều trị bằng Baycox lúc lợn con 3-4 ngày, thay vì dùng thuốc lúc 7
ngày sẽ có tác dụng làm giảm ảnh hưởng của bệnh do cầu trùng gây ra. Việc cải thiện các đi
ều
kiện của chuồng nuôi và thiết kế chuồng sưởi ấm cho lợn con dường như cũng đã có tác dụng đối
với bệnh dịch TGE và rotavirus có tính chất địa phương. Việc sử dụng không đúng các loại kháng
sinh dường như cũng đã thúc đẩy hình thành tính kháng thuốc, bởi vậy việc thực hiện kế hoạch
quản lý của chúng tôi có thể cũng dẫn đến kết quả
là giảm sự phụ thuộc vào thuốc kháng sinh.
Trong các cuộc hội thảo ở các nông hộ chăn nuôi nhỏ định tiến hành vào năm 2006, vấn đề bảo
tồn môi trường sẽ được chú trọng ở 1 góc nhìn thiết thực và cụ thể hơn bằng cách kết hợp việc sử

3) Chuẩn bị các cuộc hội thảo cho các hộ chăn nuôi nhỏ và các chuyến đi thực địa sẽ
được thực hiệ
n trong năm 2006, dựa trên mô hình chăn nuôi và cải tiến liên tục đã
được xây dựng nên cho các trại chăn nuôi quy mô lớn
4) Công bố về kết quả của dự án trên các phương tiện thông tin đại chúng
5) Tham gia tư vấn với các đại diện của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để
tận dụng hệ thống mạng lưới đang có để chuyển giao các kết quả của dự án
(Trung tâm khuyến nông quốc gia)
9. Kết luận
Tại giai đoạn này của dự án, tất cả các mục tiêu ban đầu đều đã đạt được. Chúng tôi cũng
đã nhận ra 1 trở ngại lớn để có thể thực hiện kế hoạch của dự án 1 cách đầy đủ (trang bị các kiến
thức phù hợp cho các cán bộ thú y cơ sở). Ngân quỹ hiện tại của dự án không đủ để có thể chi trả
hết các chi phí phát sinh cho việc tập huấn 1 cách nhuầ
n nhuyễn 1 số các cán bộ khoa học trẻ có
tiềm năng, tuy nhiên các chi phí này sẽ có thể được đáp ứng trong các dự án CARD mới. Việc
tiến hành kết hợp cả 3 dự án nhằm vào việc cải thiện tình hình chăn nuôi và lợi ích của các hộ
chăn nuôi lợn nhỏ đã tạo ra những cơ hội tuyệt vời. Các chuyên gia phía Australia, gồm những
người có chuyên môn sâu và nhiều kinh nghiệm (các chuyên gia đứng đầu về thú y và chăn nuôi)
để
có thể truyền đạt lại các kinh nghiệm cho phía các nhà khoa học Việt nam, từ đó mà họ có thể
tự làm chủ trong việc thực hành mô hình chăn nuôi mới (mô hình cải tiến liên tục).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status