1 Ministry of Agriculture & Rural Development
Chương trình hợp tác Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn CHẨN ĐOÁN VÀ KHỐNG CHẾ BỆNH TIÊU CHẢY
Ở LỢN CON TRƯỚC CAI SỮA
Dự án CARD 001/04VIE Phụ lục 4:
Các báo cáo tại trại đối với các đàn ở phía Bắc – tháng 9/2006 Dr Tony Fahy
Ms Karen Moore
3
Trại Đông Mỹ (Thái Bình) – Trại 1 (140 nái) – Trại thử nghiệm
Nhận xét chung về đợt thăm trại lần 3 – tháng 10/2006Các nội dung báo cáo trong tháng 7/2005 như sau:
Chuồng đẻ• Nhiệt độ - 29°C
• Chỉ số nhiệt - 32°C
• Độ ẩm tương đối - 64%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 23.7 °C
Có 23 chuồng đẻ đang có lợn, 3 trong số lợn nái này hiện vẫn đang đẻ. Có 13 chuồng lợn cai
sữa. Có khoảng ½ số vòi uống đã được tháo dỡ, kể cả các vòi mới được lắp đặt vào tháng 7.
Nhìn chung, không có nơi sưởi ấm cho l
ợn con. Một vài chuồng đẻ có các hộp gỗ được coi như
nơi để sưởi ấm cho lợn con, nhưng không có đèn sưởi hoặc phía trên mặt sàn được phủ rơm.
Nhìn chung, không có gì thay đổi so với chuyến kiểm tra lần trước.
Có 100 nái trong chuồng đang chờ phối, trong tổng sô 123 lợn sinh sản của trại này.
Chuồng đẻ
• Nhiệt độ - 35.5°C
• Chỉ số nhiệt - 46.4°C
• Độ
ẩm tương đối - 68.0%
• Nhiệt độ - 33.3°C
• Chỉ số nhiệt - 42.3°C
• Độ ẩm tương đối - 62.4%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 27.1°C
• Tốc độ gió - 0.7 m/giây
Lợn nái
• 20 con đẻ/tháng
• Tiêm phòng vacxin với Litterguard
• Tỷ lệ chết trước cai sữa 10-12%
• Tốc độ nước chảy khoảng 1 L/phút
• Máng ăn không có thức ăn (cho ăn 5 kg/ngày và 6 kg cho các lợn nái cạ
n sữa)
• Nhịp hô hấp 140 lần/nái
Lợn con
• Cai sữa lúc 21 ngày tuổi
• Sử dụng các bóng đèn 174 watt để sưởi ấm
• Lợn con thoải mái
Chuồng đẻ
• Hướng chuồng: Đông - Tây
• Nhiệt độ - 34.1°C
• Chỉ số nhiệt - 44.0°C
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 27.1°C
• Độ ẩm tương đối - 59.7%
•
Tốc độ gió - 0.4 m/giây
• Quạt thông gió bị hỏng
• Hệ thống phun sương trục trặc
Một số chuồng có khu sưởi ấm cho các lợn con. Các cửa sở của 1 bên chuồng đóng kín, do vậ
y
đã cản trở mức độ thông thoáng gió. Trần thấp, chỉ cao khoảng 7 feets.
Có 81 lợn nái đang chờ phối. Rèm được kéo xuống 2 bên chuồng, không khí lưu thông kém.
Phần lớn các lợn nái thuộc mức đánh giá số 2. Lợn nái được cho ăn khoảng 2 kg/nái 2 lần/ngày,
~ 4 kg/nái/ngày Lợn cai sữa/Trưởng thành/Vỗ béo
Có rất nhiều lợn trưởng thành bị ho.
Một máng ăn cho 20-40 lợn.
Rèm che hoàn toàn 1 bên chuồng, không có thông thoáng gió. Có 290 lợn trưởng thành/vỗ béo
và 180 lợn cai sữa.
3-4 chuồng lợn cai sữa ẩm ướt và lạnh. Đó chính là phía chuồng có rèm để mở ra.
Vacxin
M.hyopneumoniae vaccine - 7 & 21 ngày tuổi
FMD - 1 mũi vào lúc 45 ngày tuổi
Dịch tả - Lợn nái – 21 ngày sau cai sữa. Lợn con – 35 ngày tuổi. (Chúng tôi tin rằng đó là
loại vacxin sống nhược độc trong nước sản xuất) Nhận xét
Đánh giá chuồng đẻ vào ngày 19/7/05
• Mái được làm mát
• Chỉ có 3-8 quạt hoạt động
• 30 ô chuồng (16 cũ và 14 mới) có thể sử dụng với 8 chuồng cũ đang có lợn
• Các ngày đẻ cho 1 nái là 9/5/04, 26/9/04, 18/2/05 và 7/7/05
Chuồng đẻ – mới
• Nhiệt độ - 34.4°C
• Chỉ số nhiệt - 44.9°C
• Độ ẩ
m tương đối - 60.1%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 27.9°C Tổng quát
• Chuồng xây theo hướng đông - tây
• Lợn cai sữa không có thức ăn
Báo cáo chẩn đoán
Nhận xét chung
• Thành chuồng bị các rèm che phủ
• Tiêu chảy ở lợn trưởng thành do dịch tả lợn hoặc Salmonella
• Hệ thống thoát nước để mở, có nước (được tháo 2 lần hàng ngày) – là nguồn ti
ềm tàng
làm lây lan bệnh tật 7
Anh Thiết (Hưng Yên) – Trại 3 (100 nái)
• Số lượng lợn bán này không thể đạ tối
đa với 100 lợn nái, mà chỉ có thể đạt tối đa là 152
• Rèm làm chắn gió
• Tốc độ vòi nước rất kém ở chuồng nuôi lợn trưởng thành
8
Anh Hiệp – (Hưng Yên) - Trại 4 (120 nái) – Trại đối chứng
Nhận xét chung về đợt thăm trại lần 4 – tháng 10/2006Các nội dung báo cáo trong tháng 7/2005 như sau:
Chuồng đẻ
• Nhiệt độ - 31°C
• Chỉ số nhiệt - 37.6°C
• Độ ẩm tương đối - 68.0%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 26.3°C
Các rèm che ở thành chuồng được mở. Toàn bộ các dụng cụ không dùng đến ở phía cuối tường
đã được loại bỏ và mở ra.
Phía đầu kia của chuồng bị bịt lại. Có 2 quạt
đứng đang hoạt động. Chuồng nuôi có khu ủ ấm
cho lợn con, nhưng không được che kín phía trên.
Có 13 chuồng đẻ có lợn nái đẻ và 7 chuồng có lợn nái đang chuẩn bị đẻ. Có 4 chuồng đang có
lợn cai sữa.
Lợn con bị tiêu chảy lúc 7 ngày tuổi. Các mẫu đã được thu thập để chẩn đoán. Các lợn con đã
Nhận xét chung
Đối với các lợn cai sữa, chúng tôi khuyên là nên bổ xung Apramycin vào trong nước uống hoặc
thức ăn trong vòng 2 tuần sau cai sữa cho tới khi chúng tôi tìm hiểu được nguyên nhân gây tiêu
chảy. Họ cũng đã tiến hành tiêm các lợn có các triệu chứng với Enrofloxacin. Sau đ
ó, họ đã tiến
hành cho uống.
Quy trình này cũng được áp dụng với tất cả các lợn cai sữa trong chuồng.
9
Bất kỳ một lợn cai sữa nào được đưa vào chuồng cũng đều được phải cung cấp đèn ủ ấm và bổ
xung Apramycin vào thức ăn hoặc nước uống.
Các loại kháng sinh được tìm thấy đã sử dụng tại trại
Loại tiêm
• Gentamycin
• Enrofloxacin
• Tiamulin
• Kanamycin
• Streptomycin
• Penicillin G
• Ivermectin 0.25%
Loại cho uống
• Amoxicillin 100g/kg + Colistin 250MU/kg. Li
ều dùng là 50grams trong 100ml nước uống
hoặc 0.1% trong thức ăn
Báo cáo chẩn đoán 10
Nhận xét
• Hệ thống làm mát được lắp đặt đúng quy cách, nhưng ít khi được sử dụng
• Rèm che 50% độ thông thoáng gió của chuồng
• Không có hệ thống mái phụ
• Cây ở 1 phía đầu chuồng và các dụng cụ chăn nuôi phía kia làm bịt độ thông thoáng gió
• Lợn cai sữa và lợn trưởng thành có mức độ ăn bị hạn chế, nên được cho ăn tự do
• Lợn trưởng thành b
ị ghẻ rất nặng
• Hệ thống nước thải không được che kín, là nguy cơ làm lây lan bệnh tật
• Chuồng lợn nái không nuôi con, có vòi uống tự động, nhưng thành chuồng bị đóng kín
với rèm che
• Chuồng lợn nái không nuôi con, có 1 máng uống nước, nên được sử dụng để dùng cho
vacxin cho uống cho các nái
11
Tràng Duệ (Hải Phòng) – Trại 5 (206 nái, xu hướng sẽ tăng lên 250 nái) – do
nhà nước quản lý – Trại đối chứng
Nhận xét chung về đợt thăm trại lần 1 – tháng 10/2006Các nội dung báo cáo trong tháng 7/2005 như sau:
Điều kiện chuồng nuôi
thập cho các chẩn đoán trong phòng thí nghiệm.
• Vị trí thứ 2 ngang qua đường, ban đầu nuôi giống lợn lai, hiện nay nuôi lợn Móng Cái
• Lợn cai sữa/lợn trưởng thành – tổng số 84 lợn con đã được quan sát thấy. Còn số còn lại ở
đâu? Phải có ít nh
ất khoảng 1200 lợn nữa
• Nhìn chung, trại này có trang thiết bị tốt, nhưng đang dưới công suất sử dụng
Đánh giá trại vào ngày 18/7/05Điều kiện chuồng nuôi vào ~ 9.0 sáng
• Nhiệt độ - 33.1°C
• Chỉ số nhiệt - 40.0°C
• Độ ẩm tương đối - 59.6%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 26.1°C
• Tốc độ gió - 1.5 m/giây
12
Lợn nái
• 40-45 nái đẻ/tháng
• Tỷ lệ tiêu chảy trước cai sữa ~ 5%
• Tốc độ vòi nước uống tốt
• Cho ăn 4.6 kg/nái/ngày
• Nhịp hô hấp 140/nái
Lợn con
• Cai sữa lúc 21 ngày tuổi
Nhận xét
• Tiến hành mổ khám 2 lợn: 1 con bị viêm phổi 55%, lách sưng đỏ, van hồi manh tràng
loét. Lợn thứ 2 có 25% phổi bị việm, van hồi manh tràng loét, mang tràng xoắn.
• Các lợn nái có trong chuồng đang nuôi chỉ tương đương với 100 lợn nái, chứ không phải
206 nái
• Máng ăn cho lợn nái không có thức ăn, cần phải cho ăn tự do với các lợn nái chờ phối,
lợn cai sữa và lợn trưởng thành
• Nên mở rộng hệ thống thông thoáng gió cho chuồng đẻ
• Nên có nước làm mát cho lợn đang mang thai và nuôi con 13
Anh Tính (Hải Phòng) – Trại thực nghiệm (150 nái)
Nhận xét chung về đợt thăm trại lần 1 – tháng 10/2006Các nội dung báo cáo trong tháng 7/2005 như sau:
Điều kiện chuồng nuôi
• Nhiệt độ - 30°C
• Chỉ số nhiệt - 33.4°C
• Độ ẩm tương đối - 60%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 23.7°C Chuồng đẻ
Nhận xét
• Hiện đang dùng vacxin Mycoplasma, 1 mũi vào 28 ngày tuổi. Đáng lẽ, tốt hơn là nên dùng
vào lúc 4 và 21 ngày tuổi.
•
Hiện các lợn nái đang được tiêm vacxin phòng dịch tả (Pfizer), tiêm nhắc lại vào 2 tuần trước
khi cai sữa. Các con con được tiêm vào lúc 3 và 5 tuần tuổi. Các lời khuyên là tốt hơn nên
tiêm vacxin cho lợn nái vào lúc cai sữa để phòng việc kháng thể của con mẹ ảnh hưởng đến
con con. Cho dù điều kiện của chuồng cai sữa (ở trong các cũi dạng dây sắt phía trên sàn),
nên làm chậm lại việc tiêm vacxin cho lợn cho đến 7-9 tuần tuổi.
14
• Trại này, dường như đã chăn nuôi rất tốt, ngoại trừ hiện tượng ho ở lợn trưởng thành và lợn
vỗ béo – có thể được cải thiện bằng cách tăng mức độ thông thoáng gió cho chuồng nuôi,
thay đổi viêm tiêm phòng 2 mũi vacxin Mycoplasma. Chủ trại cũng nên xem xét việc bổ
xung thuốc vào thức ăn cho lợn.
Đánh giá trại vào ngày 18/7/05
Điều kiện chuồng nuôi
• Nhiệt độ - 33.0°C
• Chỉ số nhiệt - 43.9°C
• Độ ẩm tương đối - 69.3% Lợn nái
• Tỷ lệ chết trước cai sữa ~ 1%
• Lợn nái được cho ăn 2 lần/ngày 6-7 kg/nái
Nhận xét chung về đợt thăm trại lần 4 – tháng 10/2006Các nội dung báo cáo trong tháng 7/2005 như sau:
Điều kiện chuồng đẻ
• Nhiệt độ - 32°C
• Chỉ số nhiệt - 37.5°C
• Độ ẩm tương đối - 60%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 25.5°C
Chuồng có thông thoáng gió tốt
10 nái đã đẻ và 5 nái đang đẻ
Có vùng sưởi ấm thích hợp cho lợn con, có đèn sưởi. Tuy nhiên, cũng cần phải có thêm chất
bentonite nhằm thấm nước khi có tiêu chảy.
Lợn con bị tiêu chảy vào khoảng 12 ngày tuổi. Lợn con được điều trị với amoxyl và colistin. Tuy
nhiên, tiêu chảy không thuyên giảm, do vậy cần phải xem xét tới nguyên nhân virus. Các mẫu đã
được NIVR thu thập và phân tích. Chuồng nuôi lợn nái chờ phối
Chuồng có thông thoáng gió tốt. Một số lợn nái có hiện tượng thải dịch. 3 lợn nái đã được lấy
mẫu. Chúng tôi đã khuyến cáo rằng các lợn nên được cho ăn bổ xung vào thức ă
n với 2 grams of
tetracycline/ngày trong 3 tuần. Một số lợn nái có các chỗ bị xày da ở phía gót chân, có thể là do
sàn chuồng quá cứng. Chúng tôi đã khuyến cáo rằng các lợn nên được cho ăn bổ xung vào thức
ăn với 2 grams of tylosin trong 2 tuần
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 25.8°C
Lợn nái
• Lợn nái bị ghẻ
• Lợn con 10 ngày bị tiêu chảy ở 6 đàn
• Nhịp hô hấp là 100 cho 1 nái
• Tiêm vacxin cho các nái phòng xảy thai, đóng dấu, dịch tả lợn, E. coli và Mycoplasma
Lợn con
• Tuổi cai sữ
a 28 ngày
• Lợn con được tiêm vacxin vào lúc 7 và 21 ngày tuổi phòng Mycoplasma
Chuồng đẻ
• Chuồng theo hướng đông - tây
• Nhiệt độ - 32.4°C
• Chỉ số nhiệt - 42.0°C
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 27.8°C
• Độ ẩm tương đối - 72.9%
• Tốc độ gió - 0-0.3 m/giây
• Không có hệ thống làm mát
• 26 chuồng có thể sử dụng, trong đó 15 chuồng có lợn đang nuôi
Nhận xét
• Máng ăn không có thức ăn
• Lợn nái có hiện tượng thải dịch ở âm hộ
• Có nơi sưởi ấm cho lợn con, nhưng thành bên mở, nên phải đóng lại. Đèn và sàn nen phù
hợp với nhau
• Độ thông thoáng gió tốt với 2 bên hông của chuồng được mở
• Nhiệt độ - 29.2°C
• Chỉ số nhiệt - 31.8°C
• Độ ẩm tương đối - 63%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 23.5°C
Thông thoáng gió tốt do các thành bên của chuồng mở
Có 93 nái và lợn hậu bị. Hầu hết ở mức đánh giá số 3. Có hiện tượng bị ghẻ. Chuồng nuôi lợn cai sữa/lợn trưởng thành
Thông thoáng gió t
ốt
Có hiện tượng tiêu chảy và ho ở các lợn cai sữa
Có một số lợn trưởng thành được đánh giá ở mức đọ 3, rất mẫn cảm với ghẻ, ngoài ra các
chuồng này còn bị tiêu chảy nặng.
Chuồng nuôi lợn trưởng thành/lợn vỗ béo
Cho ăn tự do
Nước cung cấp vào các máng trong chuồng không có, lợn uống nước bị nhiễm khuẩn từ các
máng này, thay vì từ vòi
Tốt nhất là các máng uống nên đượ
c che đậy, và nước không nên để chảy tự do từ các vòi uống
Chuồng nuôi lợn vỗ béo
Có 1 máng ăn chung giữa 2 chuồng, với 11 lợn
Tất cả thành chuồng được mở
18
Một chuồng có thành chuồng được che kín bằng các bao tải cố định. Điều này là hoàn toàn
• Áp lực nước tốt, nhưng có khoảng cách xa giữa các chuồng
• Lợn cho ăn 4-5kg/nái/ngày
• Nhịp hô hấp là 50, 60 và 60
• Có biểu hiện ghẻ
Lợn con
• Tuổi cai sữa 21 ngày
• 20% số đàn bị tiêu chảy vào luc 7 ngày tuổi, thay đổi theo mùa
• Lợn con được tiêm vacxin dịch tả lợn (lúc mới sinh và vào lúc 21-24 ngày tuổi),
Mycoplasma vào lúc 7 và 21 ngày tuổi và Salmonella vào lúc 30 ngày tuổi Chuồng đẻ - cũ
• Chuồng theo hướng bắc - nam
• Nhiệt độ - 30.4°C
• Chỉ số nhiệt - 38.0°C
• Nhiệ
t độ bốc hơi nước - 26.3°C
• Độ ẩm tương đối - 74.0%
• Tốc độ gió - 0 m/giây
• 17 chuồng có thể sử dụng, trong đó tất cả đều đang có lợn
• Trần phẳng
19
• Một phía bên chuồng mở một ít
• Có hệ thống làm mát trên mái
• Có rèm có dạng nước bốc hơi
• Rèm ở 2 bên đóng kín
Chuồng đẻ - mới
• Nhiệt độ - 25°C
• Chỉ số nhiệt - 26.5°C
• Độ ẩm tương đối - 81% Chuồng đẻ
Trong số 47 chuồng đẻ có thể sử dụng được, có 35 chuồng đang có lợn với 16/35 lợn đang đẻ.
Chủ trại báo cáo là có khoảng 8 lợn đẻ/tuần, nhưng chúng tôi cho rằng sẽ thiếu s
ự đồng bộ nếu
có cùng 1 lúc 16 lợn đẻ. 12 chuồng đẻ hiện đang có lợn cai sữa cùng với con mẹ.
Chuồng đẻ 1 có 1 bên bị đóng lại 1 phần với 1 khu nuôi mới được xây dựng ở phía bắc chuồng,
Khu mới này có mái bằng tôn, không phù hợp cho nuôi lợn trưởng thành và đã hạn chế không
khí thổi vào chuồng đẻ.
Nhận xét chung
• Chủ trại đã báo cáo về bệnh FMD là nguyên nhân chính làm cản trợ vi
ệc bán lợn. Họ đã
phải buộc bán lợn cho những người chuyên buôn bán thịt lợn. Họ đã không có thể bán
20
đàn giống do quá nhiều lợn, mà phải bán lợn để làm thith. Thay vì bán được với giá
2.40/kg, họ chỉ bán được với giá $1.50 cho những người mua về bán thịt
• Ghẻ tiếp tục là một vấn đề nghiêm trọng, nhưng không một biện pháp nào được can thiệp
để thanh toán bệnh này. Thời gian cho điều trị cũng không đúng. Ivermectin nên được
tiêm vào lúc 1 tuần trước khi đẻ
• Tỷ lệ chết trước cai sữ
a (~10%) và khả năng sản xuất là rất tốt, nhưng cũng cần phải thực
hiện rất nhiều cải tiến hơn nữa
• Việc cho ăn thức ăn bị hạn chế với các đàn
tả lợn (ngày 21)
• Baycox vào lúc 3-4 ngày tuổi
Lợn cai sữa
• Nhiệt độ - 31.0°C
• Chỉ số nhiệt - 34.8°C
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 24.0°C
• Độ
ẩm tương đối - 55.8%
• Tốc độ gió - 0 – 0.5 m/giây
• Nước uống kém
• Có rất nhiểu biểu hiện áp xe
Chuồng đẻ 1
• Chuồng theo hướng bắc/đông – nam/tây
• Nhiệt độ - 28.9°C
• Chỉ số nhiệt - 31.3°C
21
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 22.7°C
• Độ ẩm tương đối - 58.4%
• Tốc độ gió - 1.0-1.5 m/giây
• Một bên chuồng mở, không có rèm che
• Có hệ thống làm mát trên mái, nhưng không hoạt động
• Có tổng cộng 32 nái trong chuồng (chuồng 1 và 2)
Chuồng đẻ 2
• Nhiệt độ - 31.7°C
• Chỉ số nhiệt - 36.3°C
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 24.0°C
• Nhiệt độ - 29.4°C
• Chỉ số nhiệt - 23°C
• Độ ẩm tương đối - 67% Nhận xét
• Trại này tiếp tục có các vấn đề về thông thoáng gió, và người chủ đã không tiến hành một
thay đổi gì cho đến khi những lời hướng dẫn của chúng tôi được đưa ra
• Một lần n
ữa, có hiện tượng thiếu các hướng dẫn về kinh nghiệm chăn nuôi. Đây là nguyên
nhân chính cho ngành chăn nuôi lợn nói chung
Đánh giá trại vào ngày 24/7/05Điều kiện chuồng nuôi 22
• Nhiệt độ - 31.2°C
• Chỉ số nhiệt - 35.4°C
• Độ ẩm tương đối - 53.4%
• Nhiệt độ bốc hơi nước - 24.0°C
• Tốc độ gió - 4.0-4.5 m/giây
Lợn nái
• Cho ăn 6-7 kg/nái/ngày (2-3 lần ăn)
• Nhịp hô hấp là 50, 70 và 120
chảy kém và nhiệt độ trong chuồng cao. Nhịp hô hấp của lợn nái không bị stress do
nóng sẽ là khoảng 30-35 lần/phút. Điển hình là chúng tôi đ
ã phát hiện tất cả lợn nái có
nhịp hô hấp 60-120 lần/phút cho thấy mức độ stress nặng do nóng.
Sau đây là danh sách những khuyến cáo mà chúng tôi hiện đang sử dụng ở Ôxtrâylia:
• Lợn phải được tiếp cận với thức ăn ít nhất là hàng ngày và khẩu phần ăn phải đầy đủ
dinh dưỡng để duy trì sức khoẻ và đáp ứng những nhu cầu về duy trì, phát triển,
mang thai và tiết sữa.
•
Khi chỉ số thể trạng của 1 lợn giảm xuống dưới 2,5 (trong phạm vi tỷ lệ từ 1-5, phụ
lục 1) thì phải có biện pháp can thiệp.
• Tất cả lợn (trừ lợn con) phải được duy trì ở chỉ số thể trạng từ 2 trở lên.
• Thức ăn phải được cung cấp đầy đủ để đề phòng việc cạnh tranh quá mức hoặc bị t
ổn
thương.
• Lợn nái chửa nên được cho ăn đủ số lượng hoặc thức ăn có hàm lượng xơ cao để thoả
mãn cơn đói. Lượng thức ăn cung cấp cho lợn nái cạn sữa cần cân bằng về dinh
dưỡng, phù hợp với nhu cầu sinh lý của lợn nái (nhu cầu này biến đổi trong suốt quá
trình mang thai), vừa để đảm bảo no và lợn nái không bị tăng trọng quá mức.
• Chỉ số thể trạng của lợn nái giống vào lúc đẻ phải là 3,5 – 4.
• Chỉ số thể trạng của lợn nái giống vào lúc cai sữa phải từ 3 trở lên.
• Chỉ số thể trạng được đưa ra như là một cách để đánh giá sự đầy đủ về dinh dưỡng,
cùng với việc quản lý chăm sóc sức khoẻ và năng suất. Hướng dẫn đ
ánh giá chỉ số
thể trạng của lợn được trình bày ở phần phụ lục 2.
• Phải cung cấp sẵn sàng đầy đủ lượng nước uống hoặc những thức ăn lỏng khác để đáp
ứng nhu cầu sinh lý của lợn ở mọi thời điểm.
• Nước cung cấp cho lợn phải sạch, dễ uống và ở nhiệt độ vừa phả
i cho lợn uống.
• Việc phân bố thiết bị cung cấp nước ở mỗi nhóm chuồng, thiết kế và tốc độ nước chảy
9 7
10 8
11-15 9
16-20 10
21-28 10.5
25
Phụ lục 2 – Chỉ số thể trạng của lợn nái Chỉ số Xương chậu,
gốc đuôi
Thắt lưng Xương
sống
Xương sườn
1
Xương chậu
rất lồi. Lõm
sâu quanh gốc
đuôi.
Vùng thắt lưng
rất hẹp. Gờ
xương sống
nằm ngang nhô
ra sắc nhọn.
Hông rất hõm.
Lồi ra và
sắc nhọn
suốt chiều
dài của
Xương chậu
được phủ kín
Mép của gờ
xương sống
nằm ngang
được bao phủ
và tròn
Có thể nhìn
thấy trên bả
vai. Phần
sau được
bao phủ đôi
chút
Được che kín
nhưng vẫn có
thể cảm giác
được
4
Chỉ cảm thấy
xương chậu
khi ấn mạnh.
Không lõm
quanh đuôi.
Chỉ khi ấn
mạnh mới cảm
thấy mép của
gờ xương sống
Không thể
cảm thấy
xương sườn.