Tiểu luận "Thử nghiệm ảnh hưởng của Zeolite đến khả năng tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy của lợn con sau cai sữa" - Pdf 71

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay do tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngành chăn nuôi nước ta ngày
càng phát triển mạnh mẽ, áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn
nuôi nhằm nâng cao năng xuất, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, tiêu thụ trong
nước, giúp nền kinh tế nước ta phát triển. Tuy nhiên cùng với sự phát triển
của ngành chăn nuôi thì bệnh tật ngày càng phát triển ngày càng mạnh, vấn đề
ô nhiễm môi trường, vấn đề đảm bảo sức khỏe của của con người là một bài
toán khó cần có câu trả lời. Do vậy vấn đề làm sao trong chăn nuôi vừa có
năng xuất cao, vừa bảo vệ môi trường, vừa giảm thiểu bệnh tật và nâng cao
chất lượng thịt... Được các nhà khoa học, người chăn nuôi tìm tòi và phát
triển.
Zeolite là một loại khoáng tự nhiên có nguồn gốc từ núi lửa và có cấu
trúc tinh thể dạng khung kiên kết. Từ năm 1956 nhà địa chất Cronstede người
Thuỵ Điển phát hiện ra khoáng chất zeolite tự nhiên là loại khoáng muối
acid Silic chứa kim loại kiềm và kiềm thổ. Hiện nay có trên 40 loại Zeolite tự
nhiên, nhưng sử dụng chủ yếu trong chăn nuôi là loại có nguồn gốc từ núi
lửa, có tia hổng, xốp, hình thành từ biến đổi nhiệt dịch đá núi lửa.
Trên Thế Giới việc nghiên cứu ứng dụng Zeolite trong các lĩnh vực
như nông nghiệp, y học, bảo vệ môi trường, lọc hoá dầu, đặc biệt trong lĩnh
vực chăn nuôi đã được tiến hành từ những năm 60. Hầu hết các nghiên cứu về
ảnh hưởng của Zeolite trong chăn nuôi đều khẳng định được tác dụng của
Zeolite khi bổ sung vào khẩu phần thức ăn là giảm hàm lượng N-NH
3
và mùi
thối trong phân (Bernal và Lopez-real, 1993), giảm hàm lượng nguyên tố kim
loại nặng độc hại và làm tăng các nguyên tố vi lượng trong các sản phẩm chăn
nuôi như thịt, trứng, sữa và một chừng mực nào đó làm cải thiện tốc độ sinh
trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Ward và cộng tác viên, 1991). Nước đầu
tiên sử dụng Zeolite trong chăn nuôi là Nhật Bản, rồi các nước Liên Xô cũ,
1

.mSiO
2
.nH
2
O
M là kim loại kiềm (x = 2) hoặc kim loại kiềm thổ (x = 1)
2.1.3. Thành phần hoá học
Thành phần chủ yếu là Silicon Dioxide SiO2, Al
2
O
3
, nước và kim loại
kiềm hoặc kim loại kiềm thổ. Zeolite hàm chứa SiO
2
60 % trở lên (nhiều mỏ ở
Trung Quốc đạt 73 %), hàm chứa hơn 20 loại nguyên tố vi lượng: Cu, Zn, Co,
Ag, Vi, Ni, Se,Cr, Ba, Pb, As, Hg, Cd…
2.1.4. Phân loại
Phân loại Zeolite theo nhiều tiêu chí khác nhau:
 Phân loại theo nguồn gốc: gồm Zeolite tự nhiên và Zeolite tổng hợp
 Theo chiều hướng không gian của các kênh hình thành cấu trúc mao
quản: gồm Zeolite có cấu trúc mao quản 1 chiều, 2 chiều, 3 chiều.
 Theo tỉ lệ Si/Al: Zeolite hàm lượng Si thấp (Si/Al = 1 – 1.5: A, X), hàm
lượng Si trung bình (Si/Al = 2 – 5: Zeolite Y, chabazit...), hàm lượng Si
cao (ZSM - 5)
3

Zeolite ZSM - 5 Zeolite X
Theo điều kiện hình thành Zeolite được chia làm 2 loại: Zeolite tự nhiên
và Zeolite tổng hợp.

nguyên tố Si được thay thế bằng nguyên tử Al tạo thành khối tứ diện AlO
4
Do Si hoá trị 4 được thay thế bằng Al hoá trị 3 nên để trung hoà điện cần
có sự kết hợp thêm với cation, thường là kim loại kiềm hoặc kiềm thổ.
Các tứ diện SiO
4
và AlO
4
kết hợp với nhau tạo thành đơn vị cấu trúc sơ
cấp (SBU, secondary building unit).
Các SBU kết hợp với nhau tạo thành đơn vị cấu trúc tinh thể và hệ thồng mao
quản khác nhau.
5
2.1.6. Đặc tính và tác dụng của Zeolite
Zeolite làm thức ăn bổ sung, tăng nhanh hiệu quả sinh trưởng phát triển
của động vật; giảm giá thành thức ăn chăn nuôi, giảm tỉ lệ bệnh trong chăn
nuôi, nâng cao chất lượng thịt, Zeolite có 4 đặc điểm sau:
 Đặc tính vật lý: Có thể dung giải với những nguyên tố hữu ích, hấp phụ
những nguyên tố có hại và ammonium, mùi hôi, đặc biệt có khả năng
khống chế hoạt tính vi khuẩn có hại (khuẩn độc), bảo vệ sức khoẻ động
vật, đồng thời cải thiện, làm sạch môi trường chăn nuôi và sử lý nước
trong nuôi trồng thuỷ sản.
 Về hoá tính: Có khả năng trao đổi và chọn lọc lớn, cũng như có vai trò
chất xúc tác.
 Có tác dụng với các nguyên tố vi lượng hữu ích như trong đường ruột
tăng cường khả năng hấp phụ Ca... Và nhiều loại nguyên tố vi lượng
hữu ích khác trong cơ thể động vật.
 Có tác dụng tăng cường khả năng nghiền, ma sát trong dạ dày động vật,
đặc biệt là đối với gia cầm. Làm giảm tốc độ di chuyển thức ăn trong
đường ống dạ dày và đường ruột do đó tăng khả năng tiêu hoá trong dạ

Về kaolin:
Kaolin là một loại khoáng sét. Nhóm Kaolin bao gồm kaolinit, dickit,
nacrit. Khoáng kaolin là những nhôm silicat ngậm nước và có thành phần xấp
xỉ 2H
2
O.Al
2
O
3
.2SiO
2
. Kaolinit là khoáng kaolin thông dụng nhất. Cấu trúc
của kaolinit bao gồm một lớp tứ diện SiO4 và một lớp bát diện nhôm oxit kết
hợp với nhau thành một lớp cơ sở của kaolin. Trong kaolinit, có sự hình thành
liên kết hydrogen giữa các lớp đồng thời liên kết bên trong một lớp rất bền
vững do vậy mạng tinh thể rắn chắc và ổn định, kích thước tinh thể tương đối
lớn. Khả năng hấp phụ, độ trương nở, độ dẻo, độ co thấp, khả năng trao đổi
cation khá yếu.
Như vậy cả kaolin và zeolite đều là những aluminosilicat tinh thể ngậm
nước nhưng cấu trúc khác nhau. Vấn đề tổng hợp zeolite từ nguồn kaolin rẻ
tiền là khả thi.
2.1.8. Các nghiên cứu và ứng dụng Zeolite trong nước.
Ở Việt Nam cũng đã có những công trình nghiên cứu về Zeolite trong
thời gian vừa qua.
Việt Nam cũng có một số mỏ khoáng Zeolite tự nhiên trữ lượng lớn
được các nhà địa chất phát hiện ở nhiều nơi như: Đèo Bảo Lộc, đèo Rù Rì,
dọc duyên hải từ bắc Tuy Hoà đến nam Nha Trang, khu vực An Xuân – cao
nguyên Vân Hoà. Đức Linh – Bình Thuận, Long Phước - Bà Rịa – Vũng
Tàu... Với trữ lượng khác nhau từ 10 – 75%, trữ lượng và chất lượng chưa
được đánh giá kỹ lưỡng (Đỗ Đình Toát, Phạm Văn An, 1995; Lê Thị Nghinh,

+
còn lại là 2.25mg/l thấp hơn tiêu chuẩn cho
nước sinh hoạt Việt Nam (3mg/l – TCVN 5502:2003). Tính khả thi của mô
hình này còn ở chỗ cột hấp phụ này thiết kế đơn giản, khoáng dễ kiếm.
Đề tài “Nghiên cứu và chọn lọc các nguồn kaolinite trong nước để
tổng hợp vật liệu chứa zeolite, đồng thời xây dựng qui trình công nghệ bảo
vệ môi trường thủy sản ở VN” do các sinh viên Nguyễn Khánh Diệu Hồng,
10
Phạm Minh Hảo, Nguyễn Xuân Phi sinh viên khoa Công nghệ hóa học
Trường ĐH Bách khoa Hà Nội. Đây là đề tài có tính kế thừa từ những nghiên
cứu của TS Tạ Ngọc Đôn và GS.TSKH Hoàng Trọng Yêm.
Zeolite còn được sử dụng để tách các ion kim loại nặng, amoni, các
hợp chất hữu cơ độc hại trong nước thải và nước sinh hoạt. Sản phẩm đã được
thử nghiệm để làm sạch nước Hồ Văn và cho kết quả tốt. Ngoài ra, đây cũng
là vật liệu dùng trong chế tạo cồn tuyệt đối (do tính chất tách nước chọn lọc
của zeolite), lọc hoá dầu (do tính chất hấp phụ và xúc tác), hoá dược và hoá
chất bảo vệ thực vật.
Trong nuôi tôm cá thâm canh, Zeolite được sử dụng nhằm mục đích
làm giảm TAN (NH
3
và NH
4
+
) trong môi trường. Kết quả cho thấy Zeolite có
tác dụng hấp thụ TAN tốt nhất trong môi trường nước ngọt, 1 g Zeolite có khả
năng làm giảm 0,12 mg TAN. Độ mặn càng cao tác dụng hấp thụ TAN của
Zeolite càng giảm. Zeolite có tác dụng làm tăng hàm lượng Oxy hoà tan. Sau
12 giờ xử lí, Zeolite không còn khả năng hầp thụ TAN [Luận văn cao học của
Nguyễn Lê Hoàng Yến, Lớp Cao học Nuôi trồng Thủy Sản khoá 9, Trường
Đại Học Cần Thơ].

100.000 đồng đến hơn 330.000 đồng/đầu lợn, tiết kiệm được khoảng 4% tổng
lượng thức ăn và điều quan trọng nhất là chất lượng thịt lợn tốt hơn, sạch hơn,
an toàn hơn. Thời gian tới tỉnh Bắc Giang dự kiến sẽ ứng dụng rộng rãi công
nghệ này trong chăn nuôi, trồng trọt bằng việc quy hoạch vùng nguyên liệu
khoáng sét tại chỗ và xây dựng các dây chuyền sản xuất zeolit và các chất phụ
gia chứa zeolit đạt công suất khoảng 3.000 tấn/năm.(Theo tin tức/Việt Nam)
Trong chăn nuôi cũng đã có những nghiên cứu về tác dụng của Zeolite
đối với vật nuôi. Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của Zeolite trong khẩu
phần thức ăn đến năng xuất sinh trưởng, chất lượng thịt và một số chỉ tiêu
sinh lý sinh hoá máu của lợn nuôi thịt trong điều kiện thức ăn và nuôi
dưỡng ở Việt Nam” của các tác giả Trần Quốc Việt, Trịnh Vinh Hiển, Ninh
Thị Len và Hoàng Hương Giang ở Bộ môn Nghiên cứu Dinh dưỡng và Thức
ăn Chăn nuôi. Kết quả cho thấy bổ sung Zeolite trong khẩu phần không có
premix khoáng vô cơ cho lợn thịt lai F2 ở mức 3 – 5 % không làm ảnh hưởng
đến khả năng thu nhận thức ăn, tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn,
12
các chỉ tiêu sinh hoá máu, làm giảm hàm lượng tồn dư một số kim loại nặng
trong thịt nạc. Mức sử dụng 3% cho hiệu quả cao nhất.
Theo ông Lê Bá Lịch - Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam thì Zeolite
vừa dùng làm thức ăn bổ sung khoáng vi lượng nuôi dưỡng gia súc, gia cầm,
nuôi trồng thuỷ sản, vừa làm chất độn chuồng nuôi gia cầm , gia súc, nó hút
mùi hôi thối, diệt khuẩn, vừa làm chất lọc nước, sạch môi trường nuôi trồng
thuỷ sản (Đặc san khoa học kỹ thuật thức ăn chăn nuôi - số 4/2004).
2.1.9. Các nghiên cứu và ứng dụng Zeolite trên Thế giới
Từ năm 1956 Nhà địa chất Cronstede người Thuỵ Điển phát hiện ra
khoáng chất Zeolite. Hiện nay trên Thế giới có hơn 40 loại Zeolite thiên
nhiên. Nước đầu tiên sử dụng Zeolite trong chăn nuôi là Nhật Bản, rồi đến các
nước Liên Xô cũ, Hoa Kỳ, những năm gần đây Trung Quốc sử dụng Zeolite
tự nhiên rất phổ biến trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.
Năm 1982 Gevorkyan và cộng tác viên đã đưa ra khuyến cáo nên bổ

điều tiết hoạt động của dạ dày ở bò sữa và bò thịt, tác động như chất liên kết
các chất độc để vô hiệu hóa những tác động xấu của thức ăn mốc, cải thiện
mức tăng trọng trung bình hàng ngày cho lợn sữa và gia cầm. Zeoltit có thể
cải thiện chất lượng trứng và tuổi thọ của gà đẻ trứng, cải thiện môi trường
bằng cách giảm mùi hôi, giảm sự thất thoát nitơ và tăng tỷ lệ đạm/lân trong
phân bón.
Hiện tại, các cơ quan Chính phủ Mỹ chưa chấp nhận những tuyên bố
về ích lợi của zeolit trong thức ăn gia súc. Tuy nhiên, nhiều nhà sản xuất và
các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng đã chỉ ra các nghiên cứu lớn cho thấy các
lợi ích khác nhau từ liên kết chất độc đến kiểm soát mùi vị.
Theo kết quả điều tra ở Mỹ, ít nhất zeolit cũng phải có mặt trong khẩu
phần thức ăn của vài trăm nghìn bò sữa và bò thịt. 1 - 2% nguyên liệu khô
nguyên chất trong khẩu phần ăn được dùng để kiểm soát mùi vị và ô nhiễm
môi trường khi nuôi động vật trong chuồng trại. Nếu chứng minh được đồng
thời lợi ích về môi trường và hiệu quả chăn nuôi của Zeolit trong thức ăn, thì
có thể dự báo sự tăng trưởng mạnh mẽ trong sản xuất và kinh doanh zeolit vài
năm tới.
Ngoài ra họ còn ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: Ứng dụng trong
lọc nước, ứng dụng trong cải tạo đất….
2.2. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH LÝ Ở LỢN CON
14
Ở lợn con, do cấu tạo cũng như chức năng của các cơ quan, bộ phận cơ
thể chưa hoàn chỉnh. Do đó môi trường ngoại cảnh có ảnh hưởng rất lớn đến
cơ thể vật nuôi và vật nuôi chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện ngoại cảnh
và cùng với các vi sinh vật có trong đường ruột như E.coli, Salmonella,
protozoa, Rotavius,… Nhân cơ hội này đã nhân lên mạnh trong ruột của lợn
con. Vì vậy, làm mất sự cân bằng giữa vi sinh vật có lợi và vi sinh vật có hại,
khi sức đề kháng của con vật giảm, tạo điều kiện cho vi sinh vật có hại phát
triển mạnh mẽ để gây bệnh. Tuy nhiên tự bản thân nó không gây ra được
bệnh, chỉ khi môi trường thay đổi là các vi sinh vật có hại ở đường ruột nhân

phát triển, điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng lượng cơ thể rất ít, thiếu sắt.
* Hệ thống enzyme tiêu hoá chưa hoàn chỉnh
Ở lợn 15 - 21 ngày hệ thống enzyme chỉ thích ứng cho tiêu hoá sữa
(chimozin, chimotripsin cho tiêu hoá protein sữa, lipaza cho lipid và lactaza
cho lactoz). Bắt đầu từ 3 tuần, hoạt tính enzyme tiêu hoá. Vì vậy, việc cho lợn
con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá
* Hệ thống miễn dịch chưa phát triển
Lợn con sơ sinh nhận từ sữa đầu một lượng kháng thể đặc hiệu (IgG)
có hiệu quả trong 10 ngày đầu. Nhưng sự hấp thụ Immuglobulin của sữa đầu
cũng giảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Do đó tất cả các tác nhân, yếu tố hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ
nhiễm bệnh, tỷ lệ tử vong sau khi sinh. Miễn dịch chủ động được thực hiện
bắt đầu từ 3 tuần tuổi.
* Điều hoà thân nhiệt kém
Hệ thống thần kinh ở lợn con chưa phát triển, chưa có các phản xạ có
điều kiện, khả năng điều tiết nhiệt ở đại não và các trung khu vỏ não là rất
kém. Thân nhiệt ở gia súc non thường cao hơn ở gia súc trưởng thành và hay
biến động. Khả năng giữ nhiệt ở da kém, thường thay đổi theo ngoại cảnh và
khó thích nghi với điều kiện môi trường cho nên rất dễ bị cảm lạnh về mùa
đông. Thân nhiệt ở lợn con dao động từ 39,5 - 40,5
O
C thường cao, còn ở lợn
trưởng thành ổn định ở mức trung bình 38 - 40
O
C.
* Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít
Khi mới sinh, cơ thể lợn con chứa 80% nước và 20% chỉ có lipid, còn
ở 3 tuần có 65% là nước và 12% là lipid. Ngoài chất dự trữ cơ thể là lipid còn
16
có glycogen. Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) khoảng 1000 - 1200

Shigella, Klebsiella, Proteus.
Escherichia (E.coli): vi khuẩn luôn tồn tại trong đường tiêu hoá của
người và gia súc, gia cầm. Đây là loại vi khuẩn phổ biến có mặt ở mọi nơi.
Khi có điều kiện thuận lợi thì trong cơ thể các chủng E.coli trở lên cường độc
gây bệnh cho gia súc, gia cầm.
Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất phức tạp, có đủ ba loại kháng
nguyên. Dựa vào cấu trúc kháng nguyên người ta xác định được 170 kháng
nguyên: 80 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H và một số quyết định kháng
nguyên F.
Bệnh lợn con ỉa phân trắng do serotype O
78
,

K
88
gây ra ở lợn con
thường làm chết lợn ở 1 tuần tuổi và 2 tuần tuổi, do E.coli vào trong cơ thể
gây tiêu chảy và bại huyết.
- Salmonella (Sal)
Ở điều kiện bình thường Salmonella không gây bệnh mà có vai trò góp
phần giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hoá. Khi sức đề kháng của cơ thể
bị giảm sút, vi khuẩn xâm nhập vào một số cơ quan nội tạng và gây bệnh.
Cấu tạo kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp bao gồm 3 loại:
kháng nguyên O, kháng nguyên H, kháng nguyên K.
Salmonella có hai loại độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố.Trong đó nội
độc tố là độc tố nguy hiểm, gây độc thần kinh, hôn mê, co giật, gây phù nề
mảng payer và hoại tử ruột.
- Klebsiella: là vi khuẩn không di động, không hình thành nha bào,
thường sinh giáp mô và sản sinh niêm dịch. Vi khuẩn Klebsiella có ba loại
kháng nguyên: kháng nguyên K, kháng nguyên O dạng S, kháng nguyên O

nhưng trầm trọng nhất là ở lợn sơ sinh đến cai sữa [Hoàng Văn Tuấn, Lê Văn
Tạo, Trần thị Hạnh (1998) ].
Sử An Ninh (1993), [Lê Văn Tạo và cộng sự (1993)], [Đào Trọng Đạt,
Phan Thanh Phượng], [Nguyễn Thị Khanh, Nguyễn Thị Vân (1997) ], cho biết ở
nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt là vào vụ Đông Xuân, khi
thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm.
Thực chất tiêu chảy là một hội chứng bệnh lý liên quan đến nhiều yếu tố
là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát. Việc phân
19
biệt rạch ròi nguyên nhân gây tiêu chảy là vấn đề không đơn giản và nó chỉ
mang tính chất tương đối, nhằm mục đích xác định nguyên nhân nào là chính,
xuất hiện trước, nguyên nhân nào là kế phát, xuất hiện sau để có biện pháp
phòng trị hữu hiệu nhất [Nguyễn Bá Hiên (2001)].
Nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả cho thấy dù bất cứ
nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả của nó bao giờ cũng gây nên
viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hoá và cuối cùng là một "quá
trình nhiễm trùng" là vai trò tác động của vi sinh vật [Đào Trọng Đạt, (1996)],
[Hồ Văn Nam, Nguyễn Thị Đào Nguyên, Trương Quang, Chu Đức Thắng,
Phạm Ngọc Thạch, (1997) ].
20
* Do vi khuẩn
Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng một hệ sinh thái, bình
thường thì hệ sinh thái này ở trạng thái cân bằng và có lợi cho cơ thể vật chủ.
Dưới tác động của yếu tố gây bệnh, làm cho trạng thái cân bằng của vi sinh
vật đường ruột bị phá vỡ, dẫn đến tình trạng loạn khuẩn đường ruột và hậu
quả là con vật bị tiêu chảy.
Theo Cù Xuân Dần (1996) cho biết: Khi sức đề kháng của cơ thể bị
giảm sút, vi khuẩn gây thối là nguồn gây bệnh đường ruột. Vi khuẩn gây thối
hoạt động, phân giải các chất đường ruột sinh ra CO
2

C trong thời
gian 15 - 30 phút, đun sôi 100
0
C chết ngay. Các chất sát trùng thông thường
21
như axit phenic, biclorua thuỷ ngân, Fomol, hydropexyt 1‰ có thể diệt vi
khuẩn trong 5 phút. Tuy nhiên, ở môi trường bên ngoài, các chủng E.coli độc
có thể tồn tại đến 4 tháng.
* Các yếu tố gây bệnh của E.coli
- Khả năng bám dính: Đây là yếu tố gây bệnh quan trọng, thực hiện bước
đầu tiên của quá trình gây bệnh. Quá trình bám dính thực hiện nhờ một hay
nhiều yếu tố bám dính, các yếu tố bám dính quan trọng là F4 (K88), F5
(K99), F6 (987p) và F41.
- Khả năng xâm nhập: Chính là quá trình mà chúng vượt qua hàng rào
bảo vệ của lớp mucosa trên bề mặt niêm mạc ruột để xâm nhập vào tế bào
epitel, sinh sản và phát triển trong đó, tránh được các đại thực bào của lớp hạ
niêm mạc.
- Khả năng dung huyết: Một số chủng E.coli có khả năng sản sinh ra men
haemolysin có tác dụng dung giải hồng cầu. Khả năng gây dung huyết là yếu
tố độc lực quan trọng của vi khuẩn E.coli gây bệnh đường tiết niệu và E.coli
phân lập từ cơ quan cảm nhiễm ngoài đường ruột thường có khả năng gây
dung huyết cao hơn E.coli phân lập từ phân (49% so với 8 - 18%). Có 4 kiểu
dung huyết nhưng quan trọng nhất là hai kiểu α và β.
- Yếu tố kháng khuẩn (Colicin V): Để tạo thuận lợi cho quá trình phát
triển của mình và trở thành vi khuẩn chiếm ưu thế trong đường ruột, E.coli
thường sản sinh ra một loại chất kháng khuẩn có khả năng ức chế và tiêu diệt
các loại vi khuẩn khác, đó là Colicin V. E.coli sản sinh Colicin V thông qua
plasmid col. Colicin V được coi là bacteriocin, có tác dụng độc đối với các
loại vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriacae.
Có khoảng 40% các chủng E.coli của người và động vật có đặc tính sản

khuẩn sẽ có tính kháng thuốc, có thể là đa kháng hay đơn kháng, tính kháng
thuốc của E.coli ngày càng tăng.
Bùi Thị Tho (2003), cho biết việc sử dụng thuốc trong điều trị ở các địa
phương khác nhau nên dẫn đến tính kháng thuốc ở các địa phương này cũng
rất khác nhau. Vì vậy, để có kết quả cao trong điều trị bệnh, cần phải làm
kháng sinh đồ. Việc làm kháng sinh đồ cho ta kết luận về tính kháng thuốc
của E.coli và lựa chọn thuốc có tác dụng tốt trong điều trị.
+ Salmonella
Vi khuẩn Salmonella lần đầu tiên được phát hiện bởi D.E Salmon và Smith.
23
Theo Đỗ Trung Cứ, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Quang Tuyên (2003), hiện
nay người ta đã phân lập được trên 2300 chủng Salmonella, nhưng chỉ có
khoảng 5% trong số đó là gây bệnh. Salmonella thường gây bệnh cho lợn lứa
tuổi 45 - 90 ngày tuổi. Lợn ở các lứa tuổi khác cũng mắc nhưng ít hơn.
- Các yếu tố gây bệnh của Salmonella: Quá trình gây bệnh của
Salmonella có sự tham gia của độc tố và các yếu tố không phải là độc tố.
Kháng nguyên O, yếu tố bám dính, Khả năng xâm nhập, được coi là các yếu
tố không phải là độc tố, là yếu tố gây bệnh gián tiếp. Một mặt chúng tác động
gây bất lợi cho vật chủ, một mặt chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn tác động
gây bệnh.
Độc tố của Salmonella gồm nội độc tố và ngoại độc tố, trong đó nội độc
tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây bệnh. Nội độc tố (Endotoxin)
thường là Lipoposaccharide (LPS) được giải phóng từ vách tế bào vi khuẩn bị
dung giải.
[Evan D.G, Evan D.J, Gorbach S.L (1973)], khi nghiên cứu về độc tố
đường ruột của Salmonella cho biết, độc tố gồm hai thành phần là độc tố thẩm
xuất nhanh (Rapid permeabity Factor viết tắt là RPF) và độc tố thẩm xuất
chậm (Delaye permeabity Factor viết tắt là DPF). Độc tố RPF giúp
Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô ruột, nó có cấu trúc và thành phần
giống độc tố chịu nhiệt E.coli và được gọi là độc tố chịu nhiệt Salmonella.

Nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra kết luận về vai trò của một số loại
virus trong quá trình gây tiêu chảy như: Rotavius, TGE, Enterovirrus,
Parvovirus, Adenovirus.
Lecce J.M, Kinh M. W, Mock R (1976) , nghiên cứu về virus gây bệnh
đường tiêu hoá đã xác định vai trò của Rotavirus trong hội chứng tiêu chảy ở
lợn. Rotavirus thường gây bệnh tiêu chảy ở lợn, bò và người.
Niconxki. V.V (1986) , đã thống kê được hơn 10 loại virus có tác động
làm tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy.
Theo Lecce J.M, Kinh M. W, Mock R (1976), trong số những mầm bệnh
thường gặp ở lợn trước và sau cai sữa bị bệnh tiêu chảy có rất nhiều loại
virus, 29% phân lợn bị tiêu chảy phân lập được Rotavirus, 11,2% có virus
25

Trích đoạn HIỂU BIẾT VỀ HỆ HÔ HẤP CỦA LỢN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Vài nét về cơ sở thực tập Tình hình chăn nuôi tại công ty TNHH Thiên Phúc Kết quả theo dõi tình hình mắc một số bệnh trên đàn lợn con từ 1– 60 ngày tuổi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status