Tài liệu Nguyễn Trường Tộ - Pdf 10

Nguyễn Trường Tộ Nguyễn Trường Tộ (1830 ? [1] – 1871), còn được gọi là Thầy Lân [2]; là một
danh sĩ, kiến trúc sư [3], và là nhà cải cách xã hội Việt Nam ở thế kỷ 19.
Thân thế và sự nghiệp
Ông sinh trong một gia đình theo đạo Công giáo từ nhiều đời tại làng Bùi
Chu[4], thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Thân phụ là Nguyễn Quốc Thư, một thầy thuốc Đông y, nhưng mất sớm[5].
Những năm học tập
Thuở thiếu thời, Nguyễn Trường Tộ học chữ Hán với cha và các thầy ở trong
vùng: Tú Giai ở Bùi Ngõa, Cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở
Tân Lộc.
Ông thông minh, học giỏi, nên được truyền tụng là "Trạng Tộ" [6]. Thế nhưng,
ông không đỗ đạt gì, có thể vì ông là người Công giáo nên không được đi thi, hoặc là
ông không muốn đi theo con đường khoa cử [7].
Sau khi thôi học, ông mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ
Hán trong Nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An). Tại đây, ông được Giám mục người Pháp tên là Gauthier (tên Việt là Ngô Gia
Hậu, về Xã Đoài nhận nhiệm vụ từ năm 1846) dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có
một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây[8].
Cuối năm 1858, ông đi cùng Giám mục Gauthier vào vào Đà Nẵng tránh nạn
"phân tháp" (sáp nhập hai ba gia đình Công giáo vào trong một làng không Công giáo,
chứ không cho ở tập trung như trước)[9].
Đầu năm 1859, Giám mục Gauthier đưa ông sang Hương Cảng (Hồng
Kông)[10] và một số nơi khác [11]
Làm phiên dịch cho quân Pháp
Đầu tháng 2 năm 1861, sau khi chiến tranh ở Ý và ở Trung Quốc kết thúc, Đô
đốc Léonard Charner được lệnh gom quân ở Trung Quốc đem về Sài Gòn mở rộng
vùng chiếm đóng. Với quyết tâm này, Charner đã thuyết phục được một số giáo sĩ
Pháp đang lánh nạn ở Hồng Kông, trong số đó có Giám mục Gauthier, về Sài Gòn

Trong quãng thời gian đó, năm 1862-1864, bằng sự hiểu biết của mình, ông đã
thiết kế và chỉ đạo việc xây cất tu viện Dòng Thánh Phaolô Sài Gòn (nay ở số 4 đường
Tôn Đức Thắng). Đây là một công trình kiến trúc theo kiểu châu Âu có quy mô và có
giá trị bền vững cho đến tận ngày nay [15].
Thành công ấy đã làm cho tiếng tăm Nguyễn Trường Tộ lan rộng. Khoảng năm
1864, ông được người Anh mời sang dự một hội nghị khoa học ở Anh, nhưng chưa đi
thì đã bị thực dân Pháp ngăn trở, có lẽ vì họ không muốn ông liên lạc với người Anh
[16].
Khoảng cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ đã gửi liên
tiếp ba bản điều trần cho đại thần Trần Tiễn Thành, và hai bản điều trần cho đại thần
Phạm Phú Thứ, để nhờ đưa các vấn đề quan trọng lên vua và Triều đình. Hai văn bản
gửi cho ông Thứ, vì chưa tìm thấy nên không rõ nội dung. Còn ba văn bản gởi cho
ông Thành, thì có thể là các bài: "Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy" (cuối
1864), "Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy" (tháng 2,
1865) và "Khai hoang từ" (tháng 2, 1866)[17].
Sau đó, Nguyễn Trường Tộ được triệu ra Huế để giải quyết vụ tàuLondon. Về
vụ việc này, sách ĐạiNamthực lục kể đại ý như sau: "Trước đây, Hoàng Văn Xưởng
đi Hương Cảng có đặt mua tàuLondon. Không ngờ bị Phô Na (chủ hãng tàu) lừa dối,
tàu đã cũ nát, chưa đi tới nơi thì đã bị sóng gió làm hư hại. Sau khi sửa chữa ở Gia
Định, họ đưa tàu đến cửa Thuận An (Huế) bắt phải mua [18]. Nhưng sau khi đệ trình
lên cách giải quyết, thì không được thi hành nên ông có lẽ chán nản, và xin về Nghệ
An (ngày 10 tháng 4 năm 1866) [19]. Trong bức thư gửi Trần Tiễn Thành (viết từ
Nghệ An đề ngày 15 tháng 6 năm 1866), thì tâm trạng của ông lúc bấy giờ khá u uất.
Một phần vì ông nóng lòng việc canh tân đất nước, một phần vì thấy vua và một số
quan lại bảo thủ hãy còn nghi kỵ mình [20]
Mặc dù vậy, Nguyễn Trường Tộ vẫn không nản chí. Về tới Nghệ An, việc đầu
tiên ông làm là viết thư cho Triều đình để báo tin về việc Giám mục Gauthier nhận lời
đi Pháp để mua các thứ cần thiết về mở trường kỹ thuật ở Huế. Sau đó, ông được lệnh
đi cùng Giám mục Gauthier ra Huế để chuẩn bị đi Pháp. Khi ấy là giữa tháng 8 năm
1866.

Tộ về tới Huế. Cùng theo về còn có hai Linh mục, một giáo dân (bác sĩ Hemaiz5) và
một người thợ máy (tất cả đều là người Pháp, và đều do Giám mục Gauthier vận động
được). Sau khi xem xét các thứ mua về cho trường học và các thứ mà Bộ Hàng hải
Pháp gửi tặng, vua Tự Đức cho phép Giám mục Sohier được xây trường học kỹ thuật
trên mảnh đất đã đề nghị (nằm giữa nhà thờ Kim Long và Tòa Giám mục Huế) [23].
Theo tờ tấu của Viện Cơ mật đề ngày 4 tháng 3 năm 1868, thì sau đó các thành viên
trong đoàn đều được nhà vua ban thưởng tiền và lụa
Đi Pháp về, trong thời gian từ cuối tháng 2 cho tới cuối tháng 4 năm 1868,
Nguyễn Trường Tộ đã gởi cho Triều đình, ít nhất là 9 văn bản. Ngoài văn bản đầu tiên
(sau khi về tới Huế), còn nói về việc mở trường và phát triển đất nước, hầu hết các
văn bản khác đều xoay chung quanh vấn đề sứ bộ đi Pháp. Bởi Triều đình vua Tự Đức
lúc bấy giờ chỉ quan tâm tới việc làm sao lấy lại được 6 tỉnh Nam Kỳ đã mất vào tay
Pháp. Sau những cuộc thương thuyết không thành công giữa Trần Tiễn Thành và Đô
đốc Lagrandière tại Sài Gòn cuối tháng 1 năm 1868, vua Tự Đức nhất định cử một
phái bộ sang Pháp để điều đình với chính phủ Pháp. Đối với vấn đề quan trọng này,
quan điểm trước sau như một của Nguyễn Trường Tộ là phải tự lực tự cường để lấy lại
phần đất đã mất, chứ không thể van xin nài nỉ. Tuy nhiên, ông vẫn sẵn sàng đi theo sứ
bộ và đã có những kiến nghị rất cụ thể cho chuyến đi.
Khoảng giữa tháng 3 năm 1868, Nguyễn Trường Tộ được cấp phát ngựa và chi
phí về Nghệ An thăm mẹ già trước lúc lên đường sang Pháp. Tuy nhiên, sau khi trở lại
Huế, ông đổi ý, kiến nghị với Triều đình là không nên sai sứ bộ sang Pháp điều đình
mà chỉ nên gởi sứ bộ vào Sài Gòn thương thuyết.
Việc đi Pháp vì thế phải đình hoãn không thời hạn. Ngày 18 tháng 4 năm 1868,
Bộ Lễ lại cấp phép cho Nguyễn Trường Tộ trở về Nghệ An. Trước đó, ngày 7 tháng 4
năm 1868, Giám mục Gauthier cũng đã lên đường trở về Xã Đoài vì thấy việc mở
trường kỹ thuật không được nói tới nữa [24] .
Về lại Nghệ An, Nguyễn Trường Tộ bắt tay vào việc vận động dân vùng Xuân
Mỹ (Nghệ An) thường xuyên bị úng lụt đến nơi ở mới [25], đồng thời xây cất Nhà
Chung Xã Đoài[26]. Trong những năm này, ông vẫn đều đặn gửi lên triều đình Huế
các bản điều trần về thời sự.

thơ rằng: "Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ" (Một kiếp
sa chân, muôn kiếp hận / Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm) đoạn thì qua đời. Thọ
41 tuổi".
Nhiều chứng cứ cho thấy ông mất vì bệnh xuất huyết bao tử[27]. Riêng Giám
mục Gauthier cho rằng ông bị đầu độc. Trong một thư đề ngày 1 tháng 11 năm 1871,
vị Giám mục này viết: "Người Giáo hữu ViệtNammà tôi đem theo năm 1867 và người
ta gọi là Kiến trúc sư ( ) đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc"[28].
Sau đó, thân xác ông được an táng tại thôn Bùi Chu. Phần mộ của ông xưa kia
chỉ là một nấm mộ đất thấp. Năm 1943, với sự đóng góp của ông Từ Ngọc Nguyễn
Lân và một số thân sĩ ở Nghệ Tĩnh, một ngôi mộ bằng đá cẩm thạch đã được dựng lên
trên một gò đất cao, giữa một cánh đồng rộng.
Vợ, con
Không biết chắc Nguyễn Trường Tộ đã lập gia đình lúc nào. Có thể là trong
khoảng thời gian ông trở về Nghệ An, sau khi các dự án canh tân của ông gởi vua Tự
Đức bị chống đối nên bị bỏ dở (sau tháng 4 năm 1868). Con ông gồm một trai, một
gái. Người con gái lấy chồng ở một làng kế cận. Người con trai là Nguyễn Trường
Cửu (ông mất khi Trường Cửu mới được 18 tháng), có tư chất thông minh, được học
hành, thường được gọi là "Đồ Cửu". Ông Cửu mất vào khoảng năm 1942, và đã để lại
tác phẩm Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ.
Tác phẩm
Kể từ khi về nước (khoảng 1861) cho đến năm cuối đời (1871), Nguyễn
Trường Tộ đã đều đặn gửi lên vua Tự Đức và triều đình Huế các bản điều trần và phúc
trình về thời sự. Đáng chú ý có:
-Hòa từ (Bàn về hòa) gửi tướng Nguyễn Bá Nghi (1861)
-Tế cấp luận (Bàn về những việc khẩn cấp, tháng 3 - 4 năm 1863, hiện chưa tìm
thấy)
-Giáo môn luận (Bàn về việc tự do tôn giáo, 26 tháng 3 năm 1863)
-Thiên hạ phân họp đại thế luận (Bàn về những thế lớn phân và hợp trong thiên
hạ). Đây là bài "Hòa từ" được sửa chữa lại (1863)
-Điều trần (7 tháng 5 năm 1863)

thiên hạ ("Thiên hạ phân hợp đại thế luận", 1863) và đề xuất "Kế ly gián giữa Anh và
Pháp" (1866). Không hề ảo tưởng về dã tâm của thực dân Pháp, nhưng ông rất sáng
suốt chủ trương tạm hòa hoãn với Pháp, gợi ý với nhà vua về lợi ích lớn của việc "Mở
rộng quan hệ với Pháp và các nước khác" (1871)
Về nội chính:
Ông đề nghị triều đình tinh giản bộ máy chính quyền để đỡ hao tốn công quỹ,
xác định rõ chức năng công việc của từng loại quan lại để khỏi phải có rất nhiều người
ăn lương mà không biết làm gì. Mặt khác, nên có chính sách đối với những nho sinh
để họ không thể dựa vào chút chữ nghĩa, trốn tránh nghĩa vụ đối với nước nhà. Ngoài
ra, muốn cho đội ngũ viên chức giữ được thanh liêm thì phải tạo điều kiện cho họ làm
giàu chính đáng
Về tài chính:
Ông đề nghị sắp đặt lại hệ thống thuế khóa cho thật công bằng hợp lý. Muốn
thế phải đo đạc lại ruộng đất, kê khai nhân khẩu, tăng thuế người giàu và hàng xa xỉ
ngoại nhập, đánh thuế thật nặng vào những tệ nạn như cờ bạc, rượu chè, Ngoài ra,
còn phải khuyến khích nhà giàu bỏ tiền ra cho vay, và vay tiền của nước ngoài
Về kinh tế:
Ông đề nghị chấn hưng "nông, công, thương nghiệp" để làm cho dân giàu nước
thịnh, bằng những hành động cụ thể như: tổ chức khai hoang, bảo vệ rừng, thành lập
các đoàn tàu đem hàng nông sản đi bán, cử người thăm dò tài nguyên, khai thác mỏ,
thành lập các cơ sở sản xuất công nghệ và đào tạo thợ kỹ thuật…Và để nền kinh tế cả
nước có thể giao thông dễ dàng, thì phải chú ý đến việc làm mới và tu bổ đường bộ và
đường thủy
Về học thuật:
Ông đề nghị cải cách "việc học, việc thi" để chọn được nhân tài hữu ích. Không
nên tiếp tục lối học "máy móc, tín điều" kiểu Trung Hoa. Đáng chú ý là việc ông đề
nghị đem các môn khoa học vào trong chương trình học, nhất quyết phải dùng quốc
văn (chữ Nôm) để dạy học và soạn sách, kể cả trong các giấy tờ hành chính
Về ngoại giao:
Ông chủ trương quan hệ mềm mỏng với Pháp, và không chỉ có Pháp mà còn

mạnh. Ngoài ra, ông còn để lại một số di cảo thơ. Nhìn chung thơ ông mang phong
cách trữ tình khoáng đạt, và có thể chia thành hai mảng: những bài "tức cảnh, sinh
tình" và những bài "Ngôn chí, tự tình" [32]
Trích thêm ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng:
Tôi không đi vào khía cạnh "đổi mới tư duy" mà ông kiên trì, tôi chỉ muốn
nhấn mạnh những kiến nghị vì lợi ích của đất nước, mà với tư cách một tín đồ đạo
Thiên Chúa đang bị Triều đình ngược đãi, dân chúng nghi kỵ, ông không ngần ngại
trình bày, hy vọng nhà vua đảo ngược thế cờ, chuyển nguy thành an, chuyển yếu
thành mạnh, chuyển lạc hậu thành tiên tiến cho cả quốc gia, bấy giờ, đứng trước khả
năng sụp đổ không phải khó thấy.
Nguyễn Trường Tộ là một trí thức - theo nghĩa gần với hiện đại. Phân tích kỹ
các “điều trần”, chúng ta dễ dàng phát hiện tính “không tưởng” ở một số chủ trương
của Nguyễn Trường Tộ - Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế của triều Tự
Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực bởi chúng đụng đến
bức tường lạc hậu kinh khủng về học vấn, về khoa học, sự mụ mẫm trong đầu các
quan lại cao cấp, kể cả đấng chí tôn - nhưng ông vẫn không mệt mỏi. Tấm lòng yêu
nước thúc đẩy ông. Ta quý Nguyễn Trường Tộ ở chỗ đó [33]
Và của GS. Nguyễn Hữu Tá:
Ở tuổi 30, Nguyễn Trường Tộ đã có một vốn kiến thức rộng và sâu cả về
phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật. Với tiềm lực chất xám rất
quí như thế, nếu ông được tin dùng, được tạo điều kiện để hoạt động, tình thế có thể sẽ
rất khác. Bi kịch của Nguyễn Trường Tộ, ngẫm ra là một nghịch lý khó tin nhưng có
thật. Yêu nước nhưng không được giúp nước vượt qua đại họa ngoại xâm; thực sự có
tài năng xuất chúng nhưng vấp phải vật cản quá lớn – sự trì trệ bảo thủ, dị ứng với chủ
trương duy tân, tự cường của triều đình Tự Đức và sự nghi ngờ dai dẳng của họ với
những người tin theo Kitô giáo.
Bi kịch lớn lao ấy bình thường ra có thể nhấn sâu những con người nặng lòng
với đất nước vào tình trạng trầm cảm, u uất, bế tắc. Nhưng với Nguyễn Trường Tộ thì
không. Ông đã bộc lộ một phẩm chất đáng tôn trọng: sự kiên trì nhẫn nại – nhẫn nại
đến mức phi thường. Trong vòng 10 năm (1861 – 1871), Nguyễn Trường Tộ liên tục

không quên nguồn gốc
Thiên hạ đại thế luận (trích):
Hiện nay tình hình trong nước rối loạn tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ,
việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề
cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền
tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các
tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ
cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận
đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thao dã,
chính là lúc Thắng, Quảng [35] sẽ thừa cơ nổi dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có
cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục
được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị
cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói: “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho
giặc”. Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không
biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới
nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy.
Than ôi! Dân chúng phụng sự quan trên, đóng thuế nạp tô, để mong được sống yên
thân, thế mà bây giờ lại lấy những thứ nuôi sống người đó để làm hại người, nỡ khiến
dân chúng vấp phải họa binh đao, nỡ tranh giành cái nhỏ mà bỏ cái lớn, cũng như
muốn bảo tồn cành lá mà lại đem đẵn cả cội gốc. Cho nên mới nói: không sợ thế giặc
ngang tàng mà sợ lòng người rời rạc. Lòng người đã rời rạc, đã muốn chóng mất, thì
dù có thành trì bằng kim loại, có ao nước sôi cũng phải bỏ mà chạy, ai ở đó chịu chết
mà giữ cho!


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status