Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta đã trải qua thời kỳ dài trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp, mặc dù đây là một cơ chế đã phát huy hiệu quả rất cao khi đất n-
ớc có chiến tranh nhng trong hoà bình thì cơ chế này trở nên lạc hậu kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhận thức rõ điều này tại đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VI 1986, Đảng và nhà nớc ta chủ trơng đổi mới và xác
định đặc điểm của nền kinh tế nớc ta: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Với sự chuyển biến mạnh mẽ của cơ chế quản lý nhà nớc, lúc này
có thể nói công tác kế hoạch trở thành một công cụ quản lý đắc lực của các
doanh nghiệp và các tổ chức khác đem lại hiệu quả cao trong quản lý. Là nhân
tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới trên đất nớc ta
hơn 10 năm qua.
Mặc dù trong những năm gần đây công tác lập kế hoạch đã có sự đổi mới
tuy nhiên sự đổi mới đó vẫn còn nhiều bất cập, cần đợc tiếp tục hoàn thiện từ
nhận thức của ngời làm kế hoạch đến nội dung và phơng pháp xây dựng kế
hoạch, để công tác kế hoạch thực sự trở thành một công cụ đắc lực, có hiệu quả
trong công tác quản lý của doanh nghiệp.
Qua quá trình tìm hiều về mặt lý luận và thực tiễn tại công ty dịch vụ kĩ
thuật dầu khí (PTSC), nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề trên tôi đã chọn đề
tài: Xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2004 của công ty Dịch Vụ Kỹ
Thuật Dầu Khí
Nội dung đề tài gồm 3 chơng:
Chơng I: Cơ sở lý luận về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh trong
doanh nghiệp.
ChơngII: Phân tích thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh
ở công ty Dịch Vụ Kỹ Thuật Dầu Khí 2000-2003
ChơngIII: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cho năm 2004
và các giải pháp thực hiện kế hoạch trong ba quý còn lại của năm 2004 .
chơng 1
Cơ sở lý luận về công tác xây dựng kế hoạch
Đồng thời số lợng các bộ phận kế hoạch, tính chất, đặc điểm, chức năng, thời
hạn, đối tợng khác nhau cũng đợc cân nhắc kỹ. Từ đó mới thấy đợc tính phức
tạp của hoạt động kế hoạch hoá.
Theo cách tiếp cận hiện nay đợc nhiều ngời sử dụng ở Việt Nam thì kế
hoạch là những chỉ tiêu những con số đợc dự kiến, ớc tính trớc trong việc thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó để đạt đợc hiệu quả cao nhất (tức là phù hợp
với yêu cầu về thị trờng, phù hợp với pháp luật và khả năng thực tế của doanh
nghiệp).
Theo quan niệm này thì những chỉ tiêu những con số phải có cơ sở khoa
học, cơ sở thực tế và nó phải đợc thể hiện ở bảng biểu kế hoạch. Những con số
chỉ tiêu này mang tính khả năng và muốn biến chúng thành hiện thực thì phải
áp dụng hệ thống các biện pháp.
Nói tóm lại, kế hoạch thực chất là xác định mục tiêu phấn đấu và dự kiến sử
dụng một cách hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực để đạt mục tiêu với hiệu quả
kinh tế cao. Nếu có một kế hoạch tốt, có chất lợng thì đã đạt đợc 50% mục tiêu
đặt ra.
1.2 Vai trò của xây dựng kế hoạch.
1.2.1 Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp chính là các chỉ tiêu
pháp lệnh mà nhà nớc giao cho, cùng với các chỉ tiêu đó nhà nớc căn cứ cung
cấp nguyên nhiên liệu đầu vào và bao tiêu đầu ra cho doanh nghiệp. Hay nói
cách khác doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh cho chính mình, nhng không có quyền tự chủ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, hoàn toàn thụ động trớc thị trờng không kích thích, sáng tạo,
kìm hãm sản xuất.
1.2.2Trong cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc.
a.Từ những đặc tr ng của nền kinh tế thị tr ờng
Nền kinh tế thị trờng hoạt động dựa trên các quy luật:
-Quy luật giá trị: Tức là trao đổi hàng hoá đợc tiến hành phù hợp với chi phí lao
động xã hội cần thiết để tạo ra nó, thể hiện qua quy luật giá cả biến đổi xoay
mô hình kinh tế mà chúng ta đang hớng tới xây dựng không thể thiếu đợc công
tác kế hoạch.
Trong cơ chế này thì vai trò của kế hoạch hoá mới thực sự bộc lộ rõ nét.
Những kết quả đạt đợc sau 10 năm đổi mới càng khẳng định vai trò to lớn của
công tác kế hoạch trong doanh nghiệp.
Với cơ chế thị trờng, thì thị trờng với các nguyên tắc của nó sẽ trực tiếp điều
tiết mọi hoạt động của doanh nghiệp hớng dẫn doanh nghiệp trong định hớng và
thực hiện các phơng án sản xuất kinh doanh tối u để tìm giải pháp cho các vấn
đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, thị trờng sẽ là cơ sở để doanh nghiệp trả lời
các câu hỏi sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? Nhà nớc chỉ
có vai trò điều tiết. Nhu vậy thì kế hoạch không chỉ có vai trò đối với doanh
nghiệp mà còn trong phạm vi nền kinh tế.
-Trong phạm vi nền kinh tế: Kế hoạch hoá là một trong những công cụ điều
tiết chủ yếu của Nhà nớc, giúp nhà nớc xác định chiến lợc,định hớng phát triển
chung làm cơ sở hoạch định các chính sách và giải pháp.
-Trong phạm vi doanh nghiệp, kế hoạch hoá là khâu đầu tiên, bộ phận
không thể thiếu trong công tác quản lý. Nếu không có kế hoạch thì không chỉ
doanh nghiệp mà bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào cũng đều bị mất phơng h-
ớng, nh đi trong rừng mà không có la bàn, không biết đi đâu và đích là đâu.
Hoạt động kế hoạch giúp doanh nghiệp chủ động trong việc huy động, khai
thác, nguồn lực một cách có hiệu quả để hoạch định và thực hiện các mục tiêu
hoạt động,dự báo các khả năng và nguồn lực, thẩm định và lựa chọn các phơng
án phù hợp.
Mặt khác, kế hoạch hoá giúp doanh nghiệp chiến thắng trong cạnh tranh
bằng các kế hoạch nhằm khai thác triệt để các lợi thế so sánh, tận dụng các lợi
thế của doanh nghiệp. Xây dựng kế hoạch cũng là cách mà các doanh nghiệp
sử dụng để hạn chế rủi ro trong kinh doanh thông qua việc xác định những vùng
tơng đối an toàn mà ở đó xác suất rủi ro thấp nhất. Các kế hoạch dự phòng cho
phép doanh nghiệp ứng phó một cách nhanh nhạy với những thay đổi của thị tr-
ờng.
kế hoạch hoá công ty là thực sự cần thiết nhằm hai mục đích: tấn công(tận dụng
các cơ hội để tăng khả năng thành công của doanh nghiệp) và dự phòng(tránh
rủi ro cạm bẫy của thị trờng). Các nhà kinh tế và các chuyên gia khác cũng
khẳng định chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên trong chu trình quản lý
cấp công ty. Thực tế đã cho thấy sự thành công ở các nớc nh Nhật, Đức ... phải
kể đến sự đóng góp của công tác kế hoạch từ trung ơng đến địa phơng, từ bộ
ngành tới các doanh nghiệp kế hoạch chiến lợc,kế hoạch tác nghiệp luôn đợc
tiến hành và hoàn thiện hơn.
Nh vậy, trong điều kiện Việt Nam công tác kế hoạch sẽ luôn tồn tại và đợc
cải tiến cho phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện hoàn cảnh, với từng cấp
để phát triển kinh tế.
Nớc ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc, công tác kế hoạch đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần
phải nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng nh thực tiễn nhằm khắc phục những tồn
tại trong thời gian qua. Trong lĩnh vực này đã tồn tại những ý kiến trái ngợc
nhau về vai trò và sự tồn tại khách quan của nó. Nhng từ lý luận và thực tiễn
đều chứng minh rằng : công tác kế hoạch là công tác không thể thiếu đợc trong
bất cứ hoạt động nào, sự tồn tại của nó là tất yếu khách quan.
+ứng phó với sự bất định và sự thay đổi của cơ chế thị trờng.
Sự bất định và thay đổi làm cho việc lập kế hoạch trở thành tất yếu để ứng
phó với sự thay đổi của cơ chế thị trờng. Giống nh nhà hàng hải không thể chỉ
lập trình một lần rồi quên nó, một ngời quản lý kinh doanh không thể lập một
kế hoạch và dừng lại ở đó. Tơng lai rất ít khi chắc chắn, và tơng lai càng dài thì
các kết quả của quyết định mà ta cần phải xem xét, sẽ càng kém chắc chắn
.Thậm chí khi tơng lai có độ chắc chắn cao thì một số kế hoạch vẫn cần thiết.
Thứ nhất là, các nhà quản lý vẫn tìm cách tốt nhất để đạt đợc mục tiêu. Thứ hai
là sau khi tiến trình đợc xác định cấn phải đa ra các kế hoạch để sao cho mỗi bộ
phận của tổ chức cần phải đóng góp nh thế nào vào công việc phải làm.
+Tập trung sự chú ý của tổ chức vào các mục tiêu.
Do toàn bộ công việc lập kế hoạch là nhằm đạt đợc các mục tiêu của cơ sở
hỏi sự nỗ lực và phối hợp của nhiều nguời và những khoản chi phí lớn. Mọi sự
điều chỉnh kế hoạch đều gây hậu quả về nhiều mặt vì vậy đều khó thực hiện.Có
thể nói kế hoạch là cứng nhắc và thiếu linh hoạt.
-Sự gò bó của các thủ tục hành chính, sự thiếu đồng bộ của môi trờng pháp lý
cũng làm sai lệch kết quả thực hiện và cản trở các hoạt động khác nhau của kế
hoạch hoá.
2. Phân loại kế hoạch cấp doanh nghiệp
2.1.Căn cứ vào tiêu thức thời gian hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp bao
gồm:
2.1.1. Chiến lợc kinh doanh
Nhằm xác định các lĩnh vực hoạt động mà tổ chức sẽ tham gia, xác định
các mục tiêu chính sách giải pháp dài hạn( thờng là 4-5 năm ) về tài chính, đầu
t, nghiên cứu phát triển, con ngời... do cấp quản lý cấp cao lập, mang tính tập
trung cao và linh hoạt.
2.1.2. Kế hoạch trung hạn:
Phác thảo các chơng trình trung hạn để hiện thực hoá các lĩnh vực các
mục tiêu, chính sách, giải pháp đợc hoạch định trong chiến lợc đã chọn. Loại
này đợc lập bởi các chuyên gia quản lý cấp cao và chuyên gia quản lý điều
hành. Loại này ít tập trung và ít uyển chuyển hơn kế hoạch dài hạn. Thời gian
kế hoạch thờng kéo dài từ 3 - 5 năm.
2.1.3.Kế hoạch hàng năm:
Tuỳ theo cách thức tiếp cận của kế hoạch chiến lợc và trung hạn, cách cụ
thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh doanh hằng năm có thể đợc xác định theo chơng
trình hoặc phơng án kế hoạch năm. Kế hoạch năm là sự cụ thể hoá nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh căn cứ vào định hớng mục tiêu chiến lợc và kế hoạch trung
hạn, kết quả nghiên cứu điều chỉnh các căn cứ xây dựng kế hoạch phù hợp với
điều kiện của năm kế hoạch. Là kết quả hoạch định của các chuyên gia quản lý
điều hành và chuyên gia quản lý thực hiện.
2.1.4. Kế hoạch tác nghiệp và các dự án:
Để triển khai các mục tiêu và thực hiện các hoạt động trong tổ chức.
Kế Hoạch tác nghiệp
(quý tháng)
Nguồn: Phòng tổ chức nhân sự
Hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp
Trong hệ thống kế hoạch hoá của doanh nghiệp thì kế hoạch hàng năm giữ
một vị trí vai trò đặc biệt quan trọng.Nó là sự cụ thể hoá nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh có căn cứ vào định hớng mục tiêu chiến lợc. Bên cạnh đó các bộ phận kế
hoạch cũng có mối quan hệ khăng khít, ràng buộc với nhau, trong đó kế hoạch
sản xuất - tiêu thụ là một trong những bộ phận trung tâm của kế hoạch năm,nó
thuộc loại kế hoạch mục tiêu. Các bộ phận kế hoạch khác nh vật t kĩ thuật, lao
động tiền lơng, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kĩ thuật , giá thành sản
phẩm...là những kế hoạch điều kiện.
II. phơng pháp luận về xây dựng kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
1. Những yêu cầu và các nhân tố ảnh hởng đến công tác xây dựng kế hoạch
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1. Những yêu cầu đối với công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
Thứ nhất :Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cần quán triệt
yêu cầu hiệu quả. Doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trờng thì hiệu
quả kinh doanh phải là tiêu chuẩn hàng đầu cho việc xây dựng , lựa chọn và
quyết định phơng thức kinh doanh. Loại trừ một số doanh nghiệp hoạt động
công ích (phải đề cao hiệu quả kinh tế - xã hội) thì phần lớn các doanh nghiệp
còn lại tiêu chuẩn hiệu quả là hiệu quả kinh tế mà biểu hiện rõ nhất là chỉ tiêu
lợi nhuận. Tuy nhiên cũng cần lu ý, lợi nhuận trong xây dựng lựa chọn phơng
án sản xuất kinh doanh là "lợi nhuận kinh tế tức là lợi nhuận dựa trên tính toán
chi phí cơ hội của phơng pháp lựa chọn , không chỉ đơn thuần là lợi nhuận kế
toán. Mặt khác mục tiêu lợi nhuận còn đợc phân biệt theo thời gian.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Xây dựng kế hoạch theo phơng thức hạch toán kinh doanh đảm bảo
kinh doanh nhằm nắm chắc cơ hội , tránh các sự rủi ro, cạm bẫy của thị trờng.
+Kế hoạch đầy tham vọng phải đợc hoạch định trên cơ sở khai thác các khả
năng và nguồn lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp có tính đến sự thay
đổi của chúng dới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ.
Thứ t: Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
phải quán triệt yêu cầu kết hợp các mục tiêu chiến lợc với các mục tiêu tình
thế. Nói cách khác hệ thống mục tiêu kế hoạch phải đợc hoạch định và điều
chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay đổi của môi trờng và điều kiện kinh doanh.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Thực hiện phơng châm lợi dụng mọi cơ hội kinh doanh, lấy ngắn nuôi dài, coi
lợi ích trớc mắt là phơng tiện để đạt lợi ích cơ bản cao hơn trong tơng lai.
+Phơng án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải hoạch định theo hớng
kết hợp chuyên môn hoá với kinh doanh tổng hợp. Mỗi doanh nghiệp vừa phải
xác định hớng đi cơ bản, ổn định của mình, vừa phải đáp ứng nhu cầu muôn
hình, muôn vẻ của thị trờng.
+Xác định phơng hớng, bớc đi và giải pháp trong hình thành cơ cấu lao động tối
u, đổi mới kỹ thuật công nghệ.
Thứ năm:Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phải quán triệt
yêu cầu kết hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong doanh nghiệp. Điều đó
sẽ tạo ra động lực phát triển, là cơ sở bảo đảm thực hiện có hiệu quả các phơng
án sản xuất kinh doanh.
Yêu cầu này đòi hỏi:
+Hoạch định lựa chọn và điều chỉnh các phơng án kinh doanh phải quán triệt
yêu cầu toàn diện và hệ thống. Cân đối giữa lợi ích cục bộ và lợi ích của nền
kinh tế quốc dân.
+Xử lý các quan hệ tài chính giữa Nhà nớc với doanh nghiệp và với các phơng
án phân phối trong nội bộ doanh nghiệp.
+Trong giải quyết các mối quan hệ hợp tác liên doanh và liên kết kinh tế phải
trên nguyên tắc:Bình đẳng,tôn trọng lẫn nhau, và cùng có lợi.
1.2 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của
tạo nhiều.
Tiếp đến cần phải kể đến sự hạn hẹp về tài chính. Tiềm lực tài chính yếu sẽ
cản trở sự triển khai các kế hoạch, hơn nữa nó cũng giới hạn việc lựa chọn
những phơng án tối u.
Cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung của doanh nghiệp cũng là nguồn lực hạn
chế. Đó là khả năng hạn chế về máy móc thiết bị, công nghệ, nhà xởng kho
tàng...Thực tiễn ở các doanh nghiệp ở nớc ta hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
còn rất yếu và thiếu. Điều đó đã cản trở việc xây dựng và lựa chọn những kế
hoạch sản xuất tối u nhất...
1.2.3 Hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp
Mục tiêu đợc hiểu theo sự cam kết cụ thể đối với thực hiện một kết quả có
thể đo lờng trong khoảng thời gian đã định. Các mục tiêu đợc xác định càng cụ
thể càng tốt trên phơng diện: số lợng, các điều kiện cụ thể hay những dữ liệu có
thể đo lờng đợc và đợc thể hiện trong những khoảng thời gian nhất định. Dới
đây là 3 câu hỏi để kiểm tra và điều chỉnh một mục tiêu:
+Mục tiêu đã đề cập đến kết quả hoàn thành nh thế nào?
+Mục tiêu này xác định khi nào thì kết quả chờ đợi đợc hoàn thành?
+Có thể đo lờng đợc kết quả chờ đợi không?
Mục tiêu hữu ích của doanh nghiệp phải thoả mãn cả 3 câu hỏi này, nếu
mục tiêu không thoả mãn bất kỳ câu hỏi nào cũng gây khó khăn cho quá trình
lập kế hoạch.
1.2.4 Quá trình tổ chức thông tin, thống kê, kế toán.
Nhà kinh tế học ngời Anh Roney cho rằng:muốn chiến thắng trong cạnh
tranh một mặt công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trờng trớc hết phải nắm
đợc thông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lợc và kế hoạch đầy
tham vọng.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp ta
đánh giá so sánh và lựa chọn phơng án...Thông tin giúp bộ phận lãnh đạo của
doanh nghiệp có đợc các quyết định đúng đắn, kịp thời.
Thống kê và kế toán là hai công cụ đặc biệt có ý nghĩa đối với công tác
thể tập hợp theo các mức giá để định hớng mục tiêu kinh doanh phù hợp với sự
phân đoạn của doanh nghiệp đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với các yếu tố hỗ
trợ.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì thị trờng cũng lại rất đặc biệt
cũng nh đặc trng về sản phẩm của nó. Do đó, việc nghiên cứu nhu cầu thị trờng
là rất quan trọng trong công tác xây dựng kế hoạch hàng năm của công ty.
2.3.Căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm của công
ty.
Một bản kế hoạch muốn có tính khả thi cao thì cần phải dựa vào kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ đã qua và dự báo khả năng trong t-
ơng lai và tơng ứng với những nguồn lực hiện có của Công ty. Trọng tâm nghiên
cứu cần tập trung vào các chỉ tiêu chất lợng của hoạt động sản xuất kinh doanh,
điển hình là các mặt sau:
+ Khả năng hiện có của doanh nghiệp về trang thiết bị, máy móc, con ngời.
Với máy móc cần phân tích số lợng năng suất và hệ số sử dụng, nắm vững số l-
ợng, chất lợng lao động hiện có của Công ty nhằm có kế hoạch phù hợp.
+ Khả năng kinh doanh có thể đợc hình thành thông qua áp dụng các biện
pháp khai thác các tiềm năng của doanh nghiệp hoặc đi thuê liên doanh liên
kết.
+ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về vị trí uy tín sản phẩm , công
nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý... nó cho biết mặt mạnh và yếu của doanh
nghiệp
2.4.Căn cứ vào nguồn lực của công ty và tinh thần làm việc của cán bộ công
nhân viên trong toàn công ty .
Nguồn lực của công ty tạo cho công ty thế và lực để có những hợp đồng
trên thị trờng qua đó hoàn thành đợc nhiệm vụ mà công ty đề ra. Kết hợp với
nguồn lực phải có tinh thần làm việc của cán bộ công nhân viên có tinh thần
trách nhiệm cao với công việc hoàn thành dợc công việc đặt ra trong tuần trong
tháng để hoàn thành kế hoạch trong năm.
3. Các phơng pháp lập kế hoạch.
khi nó đợc đa ra thị trờng cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trờng. Trừ
một số sản phẩm hàng hoá thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày, hàng hoá có
tính chất thời trang, mau hỏng hoặc sản phẩm có tính thời vụ...Còn lại , nói
chung chu kỳ sống của sản phẩm đợc đặc trng bởi 4 giai đoạn chủ yếu (4 pha):
triển khai (thâm nhập), tăng trởng, bão hoà và suy thoái. Tơng ứng với mỗi giai
đoạn là các vấn đề và cơ hội kinh doanh. Doanh nghiệp cần nhận biết đặc điểm
của từng giai đoạn để quyết định khối lợng sản xuất, vì mỗi giai đoạn của chu
kỳ sống có mức độ tiêu thụ trên thị trờng khác nhau.
3.4 Phơng pháp đờng cong kinh nghiệm.
Thực chất của phơng pháp này là phân tích đối thủ cạnh tranh trong vùng ngành
nghề trên cơ sở mối quan hệ giữa việc giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm và
việc tăng số lợng sản phẩm, từ đó tiến hành lập kế hoạch
Hình 2: Trình tự các bớc xây dựng kế hoạch.
B ớc 1 : Nhận thức cơ hội kinh doanh
Đây là điểm bắt đầu của việc lập kế hoạch. Trong bớc này doanh nghiệp
phải thực hiện một loạt các phân tích và dự báo nhận biết các cơ hội dựa trên sự
Nhận thức cơ hội
Kinh doanh
Xác định mục tiêu
Kinh doanh
Xem xét các tiền
đề
Hoạch định các
phương án
Đánh giá so sánh
các phương án
Lựa chọn phương
án
Lập các kế hoạch
bổ trợ
B ớc 8: Lợng hoá các phơng án kinh doanh thông qua việc lập ngân quỹ.
Ngân quỹ chung của doanh nghiệp biểu hiện toàn bộ thu nhập và chi phí với
lợi nhuận hoặc số d tổng hợp...Chẳng hạn: chi phí tác nghiệp cần thiết cho kế
hoạch sản xuất, chi phí máy móc, thiết bị, vật t lao động...
chơng 2
Phân tích thực trạng xây dung và thực hiện
kế hoạch kinh doanh ở công ty
dịch vụ kĩ thuật dầu khí giai đoạn 2000-2003
I. Giới thiệu về công ty.
1 Quá trình hình thành và phát triển.
Trớc năm 1975, Liên đoàn Địa chất 36 là đơn vị trực thuộc Tổng Cục Địa
chất, có nhiệm vụ tổ chức triển khai việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại Đồng
bằng Bắc bộ và vịnh Bắc bộ thuộc Miền Bắc Việt Nam với sự giúp đỡ của các
chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc,... Việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí
chủ yếu dùng các phơng pháp Địa chấn, Điện, Trọng lực và khoan nhằm xác
định các cấu tạo địa chất có triển vọng chứa dầu khí.
Từ năm 1975 đến nay, nhằm thống nhất quản lý và điều hành công tác tìm
kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam. Tháng 9/1975, Đoàn Địa vật
lý đợc thành lập trên cơ sở sáp nhập Đoàn 36Đ, Đoàn 36T và Đoàn 36F. Năm
1980, Đoàn Địa vật lý đợc đổi tên thành Công ty Địa vật lý. Năm 1989, Công ty
Địa vật lý đợc đổi tên thành Công ty Địa vật lý và Dịch vụ Dầu khí. Năm 1993,
Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam quyết định sáp nhập Công ty Dịch vụ Dầu khí
vào Công ty Địa vật lý và Dịch vụ dầu khí.
Ngày 16/2/1996, Bộ trởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có quyết định
số 199/BT thành lập Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí là đơn vị thành viên trực
thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với chức năng thực hiện công tác dịch
vụ kỹ thuật dầu khí phục vụ cho việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại
Việt Nam và nớc ngoài.
1. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí là một doanh nghiệp Nhà nớc hạch toán
độc lập, có t cách pháp nhân, có con dấu riêng, đợc mở tài khoản tại Kho