Tài liệu luận văn: Cơ sở pháp lý về du lịch và vấn đề hợp tác quốc tế về du lịch ở Việt Nam - Pdf 10

Luận văn tốt nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI

“Cơ sở pháp lý về du lịch và vấn
đề hợp tác quốc tế về du lịch ở Việt
Nam.”
Luận văn tốt nghiệp

thúc đẩy ngành du lịch phát triển và hội nhập với thế giới, giúp bạn bè thếgiới
đến với Việt Nam nhiều hơn, thông qua đó mở rộng các mối quan hệ hợp tác
kinh doanh, tận dụng các điều kiện bên ngoài để phát triển kinh tế trong nước
nói chung và ngành Du lịch nói riêng.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu nghiên cứu cơ sở pháp lý về Du lịch và vấn
đề hội nhập quốc tế về Du lịch tại Việt Nam cóý nghĩa rất quan trọng, qua đó
có thể khắc phục được những điểm yếu hiện nay và nắm vững cơ sở nhằm
phát triển du lịch Việt Nam lên tầm cao mới.
Trong khuôn khổ bài Luận văn em đãđề cập tới các nội dung sau:
Lời giới thiệu.
Chương 1: Du lịch và tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế
quốc dân
Chương 2: Cơ sở pháp lý của du lịch tại Việt Nam.
Chương 3: Hợp tác quốc tế về du lịch ở Việt Nam
Kết luận.
Do thời gian và khả năng có hạn, mặc dù em đã cố gắng thu thập tài
liệu, phân tích tổng hợp các thông tin để làm bài luận văn được tốt nhưng
cũng không tránh khỏi các thiếu sót . Em rất mong nhận được các ý kiến đóng
góp quý báu của các thầy côđểđề tài nghiên cứu này thực sự có hiệu quả.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa vàđặc biệt là
thầy giáo TS. Hồ Phong Tưđã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành bài
Luận văn này.
Luận văn tốt nghiệpCHƯƠNG I
DULỊCHVÀTẦMQUANTRỌNGCỦADULỊCH
TRONGNỀNKINHTẾQUỐCDÂN

hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Nhưng theo hai học giả Hoa Kỳ - Mathieson và Wall thì du lịch là sự di
chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ là những
hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra
đểđáp ứng những nhu cầu của họ.
Còn theo nhàđịa lý học Michaud lại cho rằng: Du lịch là tập trung
những hoạt động sản xuất và tiêu thụ phục vụ cho việc đi lại và ngủít nhất
một đêm người nơi ở thường ngày với lý do giải trí, kinh doanh, sức khoẻ, hội
họp, thể thao hoặc tôn giáo.
Như vậy, dưới mỗi góc độ nghiên cứu đều có một cách nhìn nhận khác
nhau về khái niệm Du lịch. Chính vì vậy, trong pháp lệnh Du lịch của Tổng
cục du lịch Việt Nam cũng đưa ra khái niệm: Du lịch là hoạt động của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham
quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất đinh.
1.3. Tầm quan trọng của ngành Du lịch đối với nền kinh tế quốc dân
Dựa vào định nghĩa chúng ta thấy về phương diện kinh tế, Du lịch là
một ngành dịch vụ mà sản phẩm của nó dựa trên và bao gồm sản phẩm có
chất lượng cao của nhiều ngành kinh tế khác nhau.
Vì vậy, Du lịch ngày nay không chỉ là ngành kinh tế mang lại hiệu quả
kinh tế cao mà làđòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác,
tạo ra tích luỹ ban đầu cho nền kinh tế, là phương tiện quan trọng để thực
hiện các chính sách mở cửa, là chiếc cầu nối giữa thế giới bên ngoài và bên
trong.
Du lịch cóảnh hưởng rất rõ nét tới sự phát triển của nền kinh tếđất nước
thông qua việc tiêu dùng của du khách. Vàđể hiểu rõ vai trò của Du lịch trong
Luận văn tốt nghiệpquá trình tái sản xuất xã hội trước hết, ta quan tâm tới việc tiêu dùng của Du
lịch, đó là những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học

số lượng lớn vật tư, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành kinh
tế có liên quan, đặc biệt là nông nghiệp, công nghiệp chế biến Bên cạnh đó
các hàng hoá vật tư cho Du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về
chủng loại, hình thức đẹp và hấp dẫn. Điều này có nghĩa là yêu cầu hàng hoá
phải được sản xuất trên một công nghệ cao, trình độ tiên tiến để sản xuất ra
các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của du khách.
So với ngoại thương ngành Du lịch cũng có nhiều ưu thế nổi trội. Du
lịch quốc tế xuất khẩu tại chỗđược nhiều mặt hàng không phải qua nhiều khâu
nên tiết kiệm được lao động, chênh lệch giá giữa người bán và người mua
không quá cao.
Qua đây, ta thấy Du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh
tế của nền kinh tếđất nước. Ngược lại, nó cũng có một sốảnh hưởng tiêu cực,
rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hoá tăng cao, nhiều
khi vượt quá khả năng chi tiêu của người dân địa phương, nhất là của những
người mà thu nhập của họ không liên quan đến Du lịch .
Việt Nam, với chủ trương mở cửa “làm bạn với tất cả các nước” nền
kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng, thu hút sự chúý của các doanh
nghiệp nước ngoài vào hợp tác cùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho hàng
triệu lao động với thu nhập cao, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước tăng trưởng
với nhịp độ cao, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, giá cả
trong nước ổn định.
Du lịch quốc tế còn là phương tiện tuyền truyền và quảng cáo không
mất tiền cho nước ta. Cụ thể, khi khách hàng đến một khu du lịch nào đó,
khách cóđiều kiện làm quen với một số mặt hàng ởđó. Khi trở vềđất nước họ,
khách bắt đầu tìm kiếm những thứđóở thị trường địa phương và nếu không
thấy, khách có thể yêu cầu cơ quan ngoại thương nhập những mặt hàng đó.
Luận văn tốt nghiệpTheo cách này, du lịch quốc tếđã góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của

(12/1986) là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu sự khởi đầu cho một
giai đoạn mới của đất nước. Đó làđường lối đổi mới. Luồng gió này đãđem lại
một nguồn sinh lực mới cho tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội như
kinh tế, văn hoá, giáo dục, quản lý… Với chính sách mở cửa: Việt Nam muốn
là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, du lịch nước ta đã thựuc
sự cóđiều kiện khởi sắc. Có thể nói, đây là mốc thứ ba trong lịch sử phát triển
Du lịch Việt Nam hiện đại. Từ sau Đại hội VI, nền kinh tếđất nước đã bắt đầu
có sự chuyển đổi về cơ bản. Thêm vào đó, năm 1990 được chọn là Năm Du
lịch Việt Nam đã góp phần thúc đẩy một cách đáng kể hoạt động du lịch nước
nhà. Hoạt động kinh doanh du lịch đã mở ra ở nhiều ngành, nhiều cơ quan,
không chỉ trong phạm vi các thành phần kinh tế nhà nước mà còn ở cả những
thành phần kinh tế khác. Trước xu thếđó, du lịch không chỉ còn được coi là
một hoạt động văn hoá xã hội thuần tuý nữa màđãđược khẳng định còn là một
ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Ngày 9 tháng 4 năm 1990, Hội đồng
Bộ trưởng đã ra Nghịđịnh 119 HĐBT về việc thành lập Tổng Công ty Du lịch
Việt Nam. Tên đối ngoại của Tổng Công ty du lịch Việt Nam là
Vietnamtourism. Tổng Công ty có các chi nhánh là các công ty ở TP. Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng. Sự xuất hiện của Tổng Công ty Du lịch Việt Nam
trong hoạt động du lịch quốc tếđã thu hút được sự quan tâm của bè bạn và du
khách năm châu. Kể từđây hoạt động du lịch quốc tế của nước ta mới chính
thức được ghi nhận. Số lượng du khách quốc tế vào Việt Nam năm 1990 là
250.000 lượt, năm 1992 đã lên đến 440.000 lượt. Tốc độ tăng trưởng trung
bình năm khá cao, đạt khoảng trên 30%.
Sau nhiều thử nghiệm, trăn trở tìm mô hình tổ chức quản lý phù hợp
với con đường phát triển kinh tế - xã hội trong cơ chế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, ngày 26 tháng 10 năm 1992, Chính phủđã ra
Nghịđịnh số 05/CP về việc thành lập lại Tổng cục Du lịch như một cơ quan
độc lập ngang Bộ thuộc Chính phủ - quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn
Luận văn tốt nghiệp


Luận văn tốt nghiệpNgày 24/12/199 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khoá VIII đã ra Nghị quyết 02-NQ/HNTW vềđịnh hướng chiến lược phát
triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụđến năm
2000. Trong Nghị quyết chỉ rõ: Một trong những nhiệm vụ nghiên cứu trọng
tâm là nghiên cứu các vấn đề lịch sử, dân tộc tôn giáo, ngôn ngữ, văn học,
nghệ thuật, tư tưởng, triết học… xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc. Dưới góc độ du lịch. Nghị quyết này đã làm phong phú thêm
nguồn tài nguyên du lịch, góp phần thu hút du khách, phát triển du lịch nước
nhà.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng đã dành rất nhiều
thời gian và sự quan tâm tới lĩnh vực du lịch. Để phát triển du lịch Việt Nam
theo quan điểm bền vững, về mặt tài nguyên, Đại hội chỉ rõ cần phải: bảo tồn
và khai thác vẻđẹp cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sửđể phát triển du
lịch.
Một trong những nội dung cơ bản của thời kỳ CNH, HĐH trong những
năm trước mắt Đại hội khẳng định là: phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ…
phục vụ cuộc sống nhân dân. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm
du lịch, Thương mại - dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực.
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụđó, Đại hội xác định cần phải: triển
khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng
du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch to lớn của đất nước theo hướng
du lịch văn hoá, sinh thái môi trường. Xây dựng các chương trình và các điểm
du lịch hấp dẫn về văn hoá, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh. Huy
động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ
tầng ở những khu vực du lịch tập trung ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ
văn hoá và chất lượng phục vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau.
Như chúng ta đều biết tiêu dùng du lịch là loại tiêu dùng cao cấp. Trong

kỳđổi mới Du lịch Việt Nam đãđạt được kết quả rất khả quan. Ngoài việc tăng
Luận văn tốt nghiệptrưởng về số lượng khách du lịch, thu nhập du lịch tăng bình quân trên 60%
năm chiếm khoảng 4% GDP của cả nước.
Năm 2004, năm cóý nghĩa đăc biệt quan trọng đối với du lịch Việt Nam
trong việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2001-2005 và Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứu IX phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều bất ổn, nhưng với sự nỗ lực
của toàn Ngành, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự chỉđạo điều hành của
Chính phủ, sự phối hợp của các Bộ, Ngành vàđịa phương, sự hưởng ứng của
toàn xã hội nên Du lịch Việt Nam vẫn đạt được nhịp độ tăng trưởng cao. Năm
2004, hoạt động du lịch diễn ra sôi động với hàng loạt sự kiện: Năm Du lịch
Điện Biên Phủ, Festival Huế, Liên hoan Văn hoá - Du lịch Đà Nẵng, tháng
Du lịch Hội An "Cảm xúc mùa hè", lễ hội "Nhịp cầu xuyên Á", lễ hội giao
lưu văn hoá du lịch Việt - Nhật, lễ hội "Sắc hoa Đà Lạt"… So với năm 2003
khách du lịch quốc tếđến Việt Nam đạt 2,93 triệu lượt, tăng 20,5%; khách du
lịch nội địa đạt 14,5 triệu lượt, tăng 11,5%; thu nhập du lịch đạt 26.000
tỷđồng, tăng 18,1%. Mười thị trường dẫn đầu khách quốc tếđến Việt Nam vẫn
tiếp tục được duy trìđó là: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,
Australia, Pháp, Campuchia, Anh, Đức.
Hoạt động du lịch sôi động, tăng diện và quy mô, nhưng vẫn đảm bảo
được an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Những việc đã làm, những kết quả bước đầu đãđạt được, những kinh
nghiệm đã tích luỹ là hành trang của Du lịch Việt Nam trên con đường trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn. Năm 2005 du lịch Việt Nam bước sang tuổi 45
đầy sức sống sẽ phải vươn lên mạnh mẽ trên tất cả các mặt phấn đấu. Đểđạt
được mục tiêu đề ra từ 3-3,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế vào năm 2005, từ
6-7 triệu lượt khách quốc tế và 25 triệu lượt khách nội địa vào năm 2010, đem
CHƯƠNG II
MỘTSỐVẤNĐỀVỀ CƠSỞPHÁPLÝTRONGDULỊCH

2.1. Vài nét về tình hình pháp luật về Du lịch trước năm 2005
Ngành Du lịch ở Việt Nam ra đời năm 1960 trên cơ sở Nghịđịnh 26/CP
của Chính phủ. Những năm đầu tiên với mục đích phục vụ chủ yếu cho khách
nội địa đó là những công dân có thành tích trong chiến đấu, học tập, lao động
được đi nghỉ mát, điều dưỡng.
Đến ngày 12/9/1969, ngành Du lịch giao cho Bộ Công an và Văn phòng
Thủ tướng trực tiếp quản lý. Năm 1977 du lịch được giao cho ngành Công an
quản lý.
Do tính chất, nhiệm vụ của đất nước mà du lịch chưa cóđiều kiện để
phát triển.
Năm 1978, BTN Quốc hội ban hành Nghịđịnh 282/NQQ QHK6 thành
lập Tổng cục Du lịch trên cơ sở một Vụ của Bộ Nội vụ trực thuộc Hội đồng
Bộ trưởng. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong quá
trình phát triển của ngành du lịch Việt Nam. Bởi vì sự kiện này đã phản ánh
mức độ nhận thức về tầm quan trọng và vai trò hiệu quả kinh tế - xã hội của
nóđối với sự phát triển của nước nhà.
Chính sự thay đổi về mặt tổ hức này đã mở rộng thẩm quyền và chức
năng của cơ quan quản lý du lịch. Giai đoạn này, bộ máy tổ chức và quản lý
của Tổng cục Du lịch dần được hoàn thiện, ngày 23/1/1979 Hội đồng Bộ
trưởng ra Nghịđịnh 32/CP quy định chức năng và nhiệm vụ của ngành Du
lịch, năm 1981 ban hành Nghịđịnh 137/CP quy định phương hướng phát triển
của ngành. Cũng năm 1981 Du lịch Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ
chức Du lịch thế giới (WTO). Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành cũng được
Luận văn tốt nghiệp

hoặc Sở Thương mại và Du lịch được thành lập thực hiện chức năng quản lý
Nhà nước về du lịch ởđịa phương. Hiện nay trong cả nước có 12 Sở Du lịch
và 49 Sở Thương mại - Du lịch. Tổng cục Du lịch gồm 8 Vụ chức năng, 6 đơn
vị sự nghiệp, 17 doanh nghiệp trực thuộc. Toàn ngành có khoảng gần 1.000
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Mô hình tổ chức quản lý Nhà
nước về du lịch được thể hiện ở sơđồ sau: Mô hình tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch ở Việt Nam hiện nay
Được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, với chính sách mở cửa của
Nhà nước, sự phối hợp hỗ trợ của các cấp ngành, đoàn thể và sự cố gắng nỗ
lực của cán bộ công nhân viên toàn ngành, nên du lịch Việt Nam đãđạt được
các kết quả tiến bộđáng kể.
Khi nói đến cơ sở pháp lý về du lịch - không thể không đề cập đến một
sự kiện quan trọng làm cơ sở thay đổi bộ mặt du lịch ở Việt Nam. Đó là:
tháng 2 năm 1999, UBTV Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Du lịch - Lần đầu
CHÍNHPHỦ

TỔNGCỤCDULỊCH

vốn
đầu tư
nước
ngoài
DN du
lịch
hợp
tác xã
DN du
lịch
công ty
trách
nhiệm
hữu
hạn
DN du
lịch
công ty
cổ
phần
Hộ
kinh
doanh
dịch
vụ du
lịch
DN du
lịch tu
nhân
Luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệpsố45/2000/NĐ-CP ngày 06/9/2000 của Chính phủ quy định về Văn phòng đại
diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài và của doanh nghiệp Du lịch
nước ngoài tại Việt Nam. Đồng thời, Tổng cục Du lịch đã ban hành và phối
hợp ban hành 7 Thông tư và 2 Quyết định hướng dẫn các Nghịđịnh trên. Như
vậy, các mảng hoạt động chính của Du lịch như lữ hành, hướng dẫn Du lịch,
lưu trú, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Du lịch đã có
hướng dẫn cụ thể, tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho hoạt động Du lịch
phát triển.
Công tác phổ biến, quán triệt Pháp lệnh Du lịch và các văn bản hướng
dẫn thi hành cũng được triển khai sâu rộng tới từng đơn vị, địa phương, cơ sở
quản lý, kinh doanh Du lịch thông qua các hội Nghịđịnh phổ biến, quán triệt
văn bản do Tổng cục Du lịch và các Sở quản lý Nhà nước nước về Du lịch tổ
chức để việc thi hành các văn bản Pháp lệnh Du lịch Luật Du lịch về Du lịch
được đầy đủ, thống nhất cho mọi đối tượng liên quan.
* Về quản lý lữ hành:
Trước khi triển khai thực hiện Nghịđịnh 27 về kinh doanh lữ hành,
hướng dẫn Du lịch và Thông tư 04, toàn ngành có 107 doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành quốc tế, trong đó có 97 doanh nghiệp Nhà nước, 7 doanh
nghiệp liên doanh và 3 công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Đến nay, Tổng
cục đã thực hiện cấp, đổi 250 giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế cho các
doanh nghiệp, trong đó có 122 doanh nghiệp Nhà nước, 96 công ty TNHH và
20 công ty cổ phần, 3 doanh nghiệp tư nhân và 9 liên doanh lữ hành (hoạt
động theo giấy phép đâu tư). Các địa phương có nhiều doanh nghiệp lữ hành
quốc tế là Thành phố Hồ Chí Minh (85 doanh nghiêp), Hà Nội (82 doanh
nghiệp), Quảng Ninh (12 doanh nghiệp), Đà Nẵng (12 doanh nghiệp), Hải
Phòng (07 doanh nghiệp). Như vậy, so với thời điểm trước khi ban hành
Nghịđịnh 27, hiện nay số doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tếđã tăng

nay, xu hướng đi Du lịch tự do trên thế giới ngày càng nhiều. Trong những
năm gần đây, lượng khách Du lịch tự do vào Việt Nam ngày càng tăng.
Luận văn tốt nghiệpĐểđáp ứng nhu cầu của đối tượng khách này, một số doanh nghiệp lữ hành
nội địa, đặc biệt ở TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Khánh Hoàđã tổ chức phục
vụđón khách. Tuy nhiên, theo Pháp lệnh Du lịch và Nghịđịnh 27, doanh
nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa không được kinh doanh lữ hành quốc
tế Do đó, có thể nói quy định này là gò bóđối với các doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành nội địa trong khi các doanh nghiệp lữ hành quốc tế lại không
hướng tới việc phục vụđối tượng khách này.
Trong quá trình triển khai các quy định pháp luật về kinh doanh lữ hành
còn bộc lộ một số vấn đề tồn tại dưới đây:
- Về kinh doanh lữ hành nội địa:
Hiện nay, cả nước có hàng nghìn doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội
địa, trong đó hai địa bàn có nhiều doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa
nhất là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Theo Nghịđịnh 27 và Thông tư 04, kinh
doanh lữ hành nội địa là ngành kinh doanh cóđiều kiện không cần giấy phép.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều doanh nghiệp vẫn tiến hành hoạt động
kinh doanh lữ hành nội địa trong khi chưa đáp ứng đủđiều kiện kinh doanh
lữ hành nội địa, đặc biệt làđiều kiện nộp tiền ký quỹ theo quy định. Tình trạng
này là do công tác kiểm tra và xử lý vi phạm các điều kiện về kinh doanh lữ
hành nội địa của nhiều Sở quản lý Nhà nước về Du lịch chưa đựơc triển khai
thường xuyên, nghiêm túc. Công tác phối hợp của Sở quản lý Du lịch địa
phương với Cơ quan đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch đầu tưđịa phương
không cập nhật được số lượng doanh nghiệp đãđăng ký tại cơ quan đăng ký
kinh doanh. Trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành nội địa gần đây đã xuất hiện
nhu cầu cần có hướng dẫn viên trong khi khái niệm hướng dẫn viên theo
Pháp lệnh chỉ bao gồm hướng dẫn viên lữ hành quốc tế. Điều này đòi hỏi có

Quyết định liên ngành số 2418/QĐ-LB ngày 04/12/1993 về quản lý vận
chuyển khách Du lịch giữa Tổng cục Du lịch và Bộ Giao thông vận tải cũng
không còn hiệu lực. Mặc dùĐiều 34 Pháp lệnh Du lịch đã quy định điều kiện
kinh doanh vận chuyển khách Du lịch nhưng chưa được cụ thể hoá bằng các
văn bản hướng dẫn thi hành, do đó vận chuyển khách Du lịch nhưô tô, tàu,
thuyền Các phương tiện này chỉ chịu sựđiều chỉnh chung dưới dạng
Luận văn tốt nghiệpphương tiện vận chuyển hành khách công cộng. Điều này khiến công tác quản
lý hoạt động kinh doanh vận chuyển hành khách Du lịch gặp nhiều khó khăn;
nhiều doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển khách Du lịch không đảm bảo
chất lượng phương tiện vận chuyển khách; đa sốđội ngũ lái xe, điều khiển
phương tiên chưa qua bồi dưỡng nghiệp vụ vận chuyển khách Du lịch; nhiều
đơn vị kinh doanh vận chuyển khách kết hợp cả kinh doanh lữ hành nhưng
không đăng kýđể trốn thuế và nộp tiền ký quỹ.
* Về hướng dẫn Du lịch:
Triển khai Nghịđịnh 27 và thông tư 04, Tổng cục Du lịch đã uỷ quyền
việc cấp thẻ hướng dẫn viên Du lịch cho giám đốc các Sở quản lý Du lịch địa
phương. Tính đến ngày 4/11/2003, các địa phương trong cả nước đã cấp thẻ
vàđổi thẻ cho 1587 hướng dẫn viên, nâng Tổng số hướng dẫn viên trong cả
nước được cấp thẻ là 5194.
Tổng cục Du lịch đã phối hợp với các trường đại học, Bộ Giáo dục -
Đào tạo , Bộ Văn - Thông tin biên soạn và ban hành chương trình khung đào
tạo ngắn hạn nghiệp vụ hướng dẫn Du lịch và chỉđịnh 9 cơ sởđào tạo đại học
mở lớp, trong đó có 5 trường đại học ở Hà Nội, 3 trường đại học ở TP.Hồ Chí
Minh và 1 trường đại học ởĐà Nẵng. Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Bộ
Giáo dục - Đào tạo , Bộ Văn - Thông tin và 6 trường đại học ở Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế, TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ hoàn chỉnh khung chương trình
ngoại ngữ Du lịch. Phối hợp với Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) ban hành

dẫn viên, ban hành quy tắc ứng xử của hướng dẫn viên.v.v
* Về xúc tiến Du lịch, hợp tác quốc tế, đào tạo phát triển nguồn nhân
lực Du lịch:
- Về xúc tiến Du lịch: Hoạt động xúc tiến, quảng bá Du lịch trong một
số năm qua được thực hiện không chỉở cấp độ trung ương mà cảởđịa phương
và doanh nghiệp, đã góp phần quan trọng đưa hình ảnh Việt Nam ngày càng
rõ nét trên các thị trường trọng điểm của Du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, thực
tiễn cũng cho thấy hoạt động xúc tiến , quảng bá của doanh nghiệp Du lịch
chưa có quy định điều chỉnh riêng dẫn đến một số hiện tượng không làm tăng
thêm hình ảnh Việt Nam mà chỉ nhằm mục đích giành giật khách. Điều này
Luận văn tốt nghiệpđòi hỏi cần phải có quy định cụ thểđể quản lý hoạt động xúc tiến, quảng bá
Du lịch. Ngoài ra những vấn đề thuộc về phát triển đầu tư, xây dựng kết cấu
hạ tầng, cơ sở vật chất Du lịch, cũng nhưđào tạo phát triển nhân lực Du lịch,
nghiên cứu khoa học trong Du lịch nói chung, phát triển ngành nghề truyền
thống.v.v là những lĩnh vực liên quan đến thẩm quyền của nhiều cơ quan,
bộ ngành khác, do đó việc chỉ dừnglại ở những chủ trương chung đã khiến
các quy định này không có hiệu lực trên thực tế.
- Về hợp tác quốc tế về Du lịch: Với cơ sở pháp lý là Pháp lệnh Du lịch,
các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Du lịch thời gian qua cóđiều
kiện đựơc tiếp tục mở rộng, đi vào chiều sâu với các hình thức hợp tác ngày
càng đa dạng và phong phú hơn. Các thoả thuận hợp tác đa phương và song
phương được tích cực đàm phán, ký kết và triển khai có hiệu quả, qua đóđã
tranh thủ tục được vốn, công nghệ, kinh nghiệm và nguồn khách, đẩy mạnh
xúc tiến Du lịch và hội nhập kinh tế quốc tế góp phần phát triển, gắn thị
trường Du lịch Việt Nam với thị trường Du lịch khu vực và thế giới. Tuy
nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tếđang có những thay đổi, cần có
những bổ sung, điều chỉnh một số nội dung của Pháp lệnh cho phù hợp với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status