Tài liệu luận văn: Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX - Pdf 10



GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 1 - SVTH: Trần Minh Trí

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI

“Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản
tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang
KISIMEX.” GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 3 - SVTH: Trần Minh Trí
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng
như hiện nay vấn đề đặt lên hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế.
Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần phải nắm được các nhân tố ảnh hưởng,
mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.
Cách tốt nhất để giải quyết vấn đề trên là thông qua phân tích, nghiên cứu đánh giá
toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ có thông
qua phân tích mới khai thác hết những khả năng tiềm ẩn của doanh nghiệp chưa
được phát hiện. Qua phân tích các hoạt động kinh doanh giúp cho doanh nghiệp
đánh giá mình về mặt mạnh, mặt yếu để củng cố, phát huy hay cần phải khắc phục,
cải tiến. Thêm vào đó có thể giúp cho các doanh nghiệp phát huy mọi tiềm năng và
khai thác tối đa mọi nguồn lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Mặt
khác, còn giúp cho các doanh nghiệp tìm ra các biện pháp xác thực để tăng cường
các hoạt động kinh tế và quản lý doanh nghiệp, nhằm huy động mọi khả năng có thể
để nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, phân tích còn là những căn cứ quan trọng
phục vụ cho việc dự đoán, dự báo xu thế phát triển của nền kinh tế.
Từ đó, các nhà quản trị sẽ đưa ra những quyết định về chiến lược kinh doanh
phù hợp với công ty nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Vì những lý do trên mà đề tài
“ Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên
Giang Kisimex ” được chọn để làm luận văn tốt nghiệp.
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
Tỉnh Kiên Giang là một trong những nơi đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nhiều
nhất trong cả nước, cho nên việc nghiên cứu đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản
là rất cần thiết vì những vấn đề xảy ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu
thủy sản của doanh nghiệp nói riêng và của tỉnh nhà nói chung. Được thành lập và
đi vào hoạt động hơn mười bốn năm qua, công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang đã
có nhiều đóng góp trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Kiên Giang. Tuy nhiên,
cũng như những doanh nghiệp khác trong cả nước, tình hình kinh doanh xuất khẩu

công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex tại địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.3.2 Thời gian
Luận văn trình bày dựa trên thông tin, số liệu thu thập trong giai đoạn 2007-
06/2010 của công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex.
Luận văn được thực hiện từ 09/09/2010 đến 20/11/2010.
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 5 - SVTH: Trần Minh Trí
Công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex kinh doanh trên nhiều lĩnh vực
như xuất nhập khẩu, sản xuất chế biến Nhưng luận văn chỉ nghiên cứu về hoạt
động xuất khẩu thủy sản của công ty sang các thị trường mục tiêu thông qua phân
tích kết quả hoạt động xuất khẩu, doanh thu, sản lượng và giá trị xuất khẩu trong
giai đoạn 2007-06/2010. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 6 - SVTH: Trần Minh Trí
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái niệm và vai trò của thị trường
2.1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện các quyết định của
người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ cũng như của các doanh nghiệp về số lượng,
chất lượng, mẫu mã của hàng hoá. Đó là những mối quan hệ giữa tổng số cung và
tổng số cầu với cơ cấu cung cầu của từng loại hàng hoá cụ thể.
Thị trường là nơi mà người mua và người bán tìm đến với nhau thông qua trao đổi
thăm dò, tiếp xúc để nhận lấy lời giải đáp mà mỗi bên cần biết.
• Các doanh nghiệp thông qua thị trường mà tìm cách giải quyết các vấn đề:
- Phải sản xuất loại hàng gì? Cho ai?

trường. Nó phải dựa trên cơ sở nhận biết nhu cầu xã hội và thế mạnh kinh doanh của
mình mà có phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường.

2.1.2 Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
2.1.2.1 Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu là một công cụ hay nói đúng hơn là một hình thức hoạt động giao
lưu thương mại nhằm dung hòa lợi ích của mọi người trên thế giới. Như vậy xuất
khẩu được hiểu trước hết là một hình thức trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
mà thị trường đó là thị trường thế giới nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
hàng hóa của một quốc gia không thể tự đáp ứng cho chính mình, đồng thời phát
huy hết nội lực kinh tế và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia xuất khẩu trong
công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Xuất khẩu là một hình thức thương mại nhằm
thu được doanh lợi từ việc bán hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài.
2.1.2.2. Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp và nền kinh tế
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, máy móc và
những nguyên liệu cần thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
- Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 8 - SVTH: Trần Minh Trí
- Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải
thiện đời sống của nhân dân.
- Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các
nước.
- Đẩy mạnh xuất khẩu được xem là yếu tố quan trọng để kích thích sự tăng
trưởng kinh tế, việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều
ngành hàng mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu gây phản ứng dây chuyền giúp cho
các ngành kinh tế khác phát triển, làm tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát

+ Khối lượng mặt hàng phải lớn để có thể bù đắp được chi phí giao dịch như:
thủ tục hải quan, thuế, điều tra thị trường…
+ Công ty phải thực hiện mọi hoạt động trên các mặt của công tác xuất khẩu
như: khảo sát thị trường, chuẩn bị sản phẩm, tìm khách hàng, chuẩn bị các tài liệu về
sản phẩm, đàm phán, chuẩn bị các hợp đồng hàng hoá, chuẩn bị giấy tờ xuất khẩu,
chuẩn bị giấy tờ về tài chính, vận chuyển hàng; theo dõi để chuẩn bị cho đợt vận
chuyển hàng tiếp theo. Vì vậy, đòi hỏi năng lực ngoại thương và nghiệp vụ của cán
bộ phụ trách phải sâu, có nhiều kinh nghiệm.
b)Xuất khẩu gián tiếp:
Là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua
trung gian (thông qua người thứ ba). Các trung gian mua bán không chiếm hữu hàng
hoá của công ty mà trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngoài.
- Ưu điểm :
+ Nhà trung gian thường có đủ cơ sở vật chất nhất định, cũng như am hiểu về
thị trường. Thông qua họ, công ty sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí và giảm rủi ro.
+ Thông qua mạng lưới phân phối của nhà trung gian, công ty không những
có thể tiết kiệm được chi phí xây dựng kênh phân phối, mà công ty còn có cơ hội
mở rộng thị trường. Đặc biệt ở những thị trường mới.
- Nhược điểm :
+ Kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của nhà trung gian.
+ Không thể trực tiếp liên hệ với khách hàng, dẫn đến việc không thể nhanh
chóng tìm ra sự cố và cách khắc phục .
+Lợi nhuận bị chia sẻ.
-Các trung gian xuất khẩu như: đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và
công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 10 - SVTH: Trần Minh Trí
2.1.2.4 Mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng xuất khẩu
a) Mục tiêu của xuất khẩu:

GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 11 - SVTH: Trần Minh Trí
- Vị trí địa lý…
+ Căn cứ vào yêu cầu và xu hướng phát triển của thị trường:
Đối với chúng ta, đó là nhu cầu của các thị trường nhập khẩu, các thị trường
truyền thống, các thị trường gần.
+ Căn cứ vào hiệu quả kinh tế:
Tức lợi thế tương đối của mặt hàng (nhóm hàng) xuất khẩu.
+ Phương hướng xuất khẩu:
- Tăng nhanh và vững chắc tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất, xuất khẩu đảm bảo cán cân thương
mại ở mức hợp lý.
- Mở rộng, đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh. Hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới.
- Đa dạng, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các mặt hàng xuất khẩu.
2.1.2.5 Chính sách xuất nhập khẩu trong quá trình hội nhập
Để tạo điều kiện thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và
chủ động hội nhập quốc tế việc hoàn thiện, đồng thời tiếp tục đổi mới, bổ sung cơ
chế chính sách xuất nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện thực tế theo hướng sau:
1. Rà soát lại hệ thống luật để điều chỉnh các qui định không còn phù hợp hoặc
chưa rõ, làm sao để phạm vi điều chỉnh luật của Việt Nam phù hợp với các quy định
của WTO với các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế như tối huệ quốc
(MFN) và đối xử quốc gia (NT).
Tiếp tục hoàn thiện các văn bản luật để điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới
phát sinh như: Luật cạnh tranh và chống độc quyền, Luật chống phá giá và chống
trợ cấp, Luật phòng vệ khẩn cấp, Luật chống bán phá giá nội bộ.
Điều chỉnh hoặc ban hành mới các văn bản luật liên quan đến các nghiệp vụ,
lĩnh vực buôn bán hàng hóa và dịch vụ mới phát sinh.
2. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn hàng hóa - dịch vụ xuất nhập khẩu cho phù
hợp với đòi hỏi của thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa - dịch
vụ.

cân đối lại đối tượng bảo hộ theo hướng trước hết chú trọng bảo hộ nông sản.
9. Coi trọng đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp
giỏi, đủ sức thực hiện thắng lợi và có hiệu quả mục tiêu chiến lược xuất nhập khẩu
đặt ra. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 13 - SVTH: Trần Minh Trí
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình xuất khẩu
2.1.3.1 Khái niệm doanh thu và phân tích doanh thu
+ Doanh thu là gì?
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được ở từng thời điểm nhất định của
kỳ kinh doanh hay ở cuối kỳ kinh doanh do hoạt động kinh doanh đem lại, tùy vào
tính chất của từng loại doanh nghiệp mà sản phẩm hàng hóa có thể do sản xuất kinh
doanh tạo ra hoặc mua của doanh nghiệp khác. Kết quả tiêu thụ sản phẩm thể hiện
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu doanh thu.
Doanh thu của doanh nghiệp được tạo ra từ các bộ phận:
• Doanh thu hoạt động kinh doanh
• Doanh thu từ hoạt động tài chính
• Doanh thu khác
+ Phân tích doanh thu
Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý
luôn quan tâm đến việc tăng doanh thu, do vậy phân tích tình hình biến động doanh
thu sẽ giúp họ có cái nhìn toàn diện về tình hình doanh thu của doanh nghiệp.
Khi phân tích doanh thu có thể xem xét ở nhiều góc độ khác nhau: doanh thu
theo từng nhóm mặt hàng, mặt hàng chủ yếu, doanh thu theo các đơn vị, bộ phận
trực thuộc, doanh thu theo thị trường…
2.1.3.2 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện kết quả kinh doanh.
Vì vậy, khi nói về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả tài chính nói riêng của một
hoạt động xuất nhập khẩu chúng ta không thể không xem xét đến lợi nhuận, lợi

2008, lên đến 163 nước và vùng lãnh thổ. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang ba
khối thị trường chính đều giảm, trong đó Nhật Bản giảm mạnh nhất về giá trị, nhưng
thị phần của các thị trường nhập khẩu chính không biến động lớn.
EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với giá trị 1,096 tỷ USD, giảm
4,20% so với năm 2008, chiếm 25,80% tổng thị phần. Kết quả trên khả quan hơn
rất nhiều so với những dự đoán trước đó, bởi năm 2009 đã có nhiều hiện tượng tiêu
cực ở EU ảnh hưởng đến nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam. Đó là thông tin bôi
nhọa mặt hàng cá tra trên thị trường Tây Ban Nha mà nguyên nhân sâu xa là do cá
tra Việt Nam đang dần chiếm lĩnh vị trí áp đảo về khối lượng, giá bán cạnh tranh GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 15 - SVTH: Trần Minh Trí
Trung Quốc
4,70%
ASEAN
4,80%
Ôxtrâylia
3,10%
Các nước khác
19,70%
Hàn Quốc
7,20%
Nhật Bản
17,80%
Mỹ
16,80%
EU
25,80%
so với một số loài cá tiêu thụ truyền thống ở đây như cá vược sông Nile, cá
tuyết…. Dư luận tương tự cũng diễn ra ở Italia, Đức, Pháp và Đông Âu, chủ yếu

GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 16 - SVTH: Trần Minh Trí
và bạch tuộc, cá biển vốn là những mặt hàng truyền thống được thị trường Nhật
Bản ưa chuộng và nhập khẩu với khối lượng lớn nay giảm nhiều nhất. Riêng xuất
khẩu hàng khô năm 2009 tăng rất mạnh về cả khối lượng và giá trị (87,10% và
51,50%) so với năm 2008.
Bên cạnh hai thị trường trên thì Mỹ cũng là thị trường lớn tiêu thụ thủy sản
của Việt Nam, chiếm 16,80% giá trị xuất khẩu của Việt Nam năm 2009, với giá trị
715,3 triệu USD giảm 5% so với năm 2008. Mỹ cũng là thị trường tiêu thụ cá ngừ
lớn nhất của Việt Nam và năm qua đã đạt được mức tăng trưởng rất khả quan.
Tổng giá trị nhập khẩu đạt 67,3 triệu USD, tăng 23% so với năm 2008. Đây sẽ là
một thị trường tiềm năng về tiêu thụ các sản phẩm cá ngừ như cá đóng hộp và cá
ngừ tươi, đông lạnh cao cấp.
Không thể không nói đến Hàn Quốc, một thị trường có truyền thống tiêu thụ
thủy sản Việt Nam từ nhiều năm qua, với nhiều mặt hàng và các loại phẩm cấp
khác nhau. Hàn Quốc là một trong số ít các thị trường vẫn duy trì tăng nhập khẩu
thủy sản Việt Nam trong suy thoái kinh tế. Tổng nhập khẩu thủy sản của Hàn Quốc
năm 2009 đạt 307,8 triệu USD, tăng nhẹ 2,30%. Các mặt hàng nhập khẩu chính là
tôm, thủy sản khô và cá biển. Tuy vậy, cũng cần lưu ý, từ năm 2008, Hàn Quốc đã
tăng cường kiểm soát chất lượng VSATTP thủy sản nhập khẩu.
Năm 2009 Trung Quốc nổi lên như một thị trường có sức tăng trưởng nhập
khẩu thủy sản Việt Nam. Tổng nhập khẩu đạt 201,7 triệu USD, tăng 28,40% so với
năm 2008. Thực tế giá trị nhập khẩu của thị trường này còn lớn hơn nhiều, nếu tính
cả nhập khẩu tiểu ngạch. Dự báo xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc sẽ tiếp tục
tăng do nhu cầu lớn và mặt hàng đa dạng; thuận lợi về địa lý và phương thức thanh
toán biên mậu đã trở nên quen thuộc với các nhà xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên,
tính thất thường của thị trường vẫn khiến nhiều doanh nghiệp phải cảnh giác, bên
cạnh đó cũng cần phải lường trước việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng
không nhất quán.
2.1.4.2 Sản phẩm xuât khẩu
Năm 2009, các mặt hàng xuất khẩu chính được xếp theo thứ tự về giá trị xuất

Hiện nay có 133 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu cá tra của Việt Nam,
tuy vậy giá bán cá tra sang hầu hết thị trường nhập khẩu lớn đều giảm do cạnh
tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu. Năm 2006, giá xuất khẩu
trung bình đạt 3,05 USD/kg, năm 2009 giảm xuống chỉ còn 2,21 USD/kg. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 18 - SVTH: Trần Minh Trí
Xuất khẩu mực, bạch tuộc, cá ngừ và cá biển khác phải trải qua một năm vất
vả. Các mặt hàng này chịu tác động đồng thời của sự giảm sức mua chung trên thị
trường và sự phụ thuộc vào sản lượng khai thác không ổn định trong năm. Giá trị
xuất khẩu giảm mạnh đến hai con số đối với cá biển và mực, bạch tuộc. Tiêu thụ
tại các thị trường lớn như Nhật Bản, Italia và Tây Ban Nha năm 2009 đều quay đầu
giảm mạnh. Tổng giá trị xuất khẩu mực và bạch tuộc chỉ đạt 274,3 triệu USD,
giảm 13,80%, cá biển đạt 347,5 triệu USD, giảm 16,10% và cá ngừ 180 triệu, giảm
4,10% so với năm 2008.
Ngược lại, 2009 lại là năm thành công đối với xuất khẩu thủy sản khô, tổng
giá trị xuất khẩu đạt 160 triệu, tăng 9,90% so với năm 2008. Hiện nay mặt hàng
này được xuất khẩu sang 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung nhất vẫn là khu
vực châu Á. Hàn Quốc là nhà nhập khẩu lớn nhất, tăng đến 70,80% về giá trị so
với năm 2008, Nhật Bản đứng thứ 2, tăng 51% và các nước ASEAN tăng nhẹ
2,10%. Các nhà nhập khẩu trên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng xuất khẩu.
Nhiều thị trường khác cũng rất có tiềm năng tiêu thụ như Hồng Kông, Đài Loan và
Inđônêxia.
Tóm lại, việc đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đang
thay đổi nhanh của cả người tiêu dùng trong và ngoài nước là rất cần thiết. Nhưng
thời gian qua, tốc độ tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu của Việt Nam còn chậm.
Nếu hoạt động này không được đẩy mạnh trong thời gian tới thì việc tăng kim ngạch
xuất khẩu sẽ khó khăn. Vì vậy các cơ quan quản lý nghiên cứu khoa học công nghệ
và các doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư nghiên cứu thị hiếu và thói quen tiêu
dùng của từng thị trường cũng như các phương thức sản xuất đảm bảo vệ sinh an

nay. Việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU sẽ góp phần nâng cao uy tín của
hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
+ Trung Quốc và Hồng Kông: là những thị trường nhập khẩu thuỷ sản trung
bình trên thế giới. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường này chủ yếu vẫn
là mua bán qua biên giới, quy mô của các đơn vị nhập khẩu rất nhỏ nên chỉ phù hợp
với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là thị trường lớn, có tiềm năng song cạnh
tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xu hướng giảm và khả năng tăng hiệu
quả là khó khăn. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 20 - SVTH: Trần Minh Trí
đầu của khu vực châu Á, với đặc điểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho
dân cư bản địa, vừa là thị trường tái chế và tái xuất.
+ Một số thị trường khác:
- Các thị trường khác thuộc châu Á được quan tâm ngày một nhiều hơn, nhất
là Hàn Quốc và Đài Loan. Các thị trường này chủ yếu nhập khẩu cá biển, mực, bạch
tuộc.
- Ôxtrâylia: xuất khẩu sang thị trường này vẫn có sự tăng trưởng tuy nhịp độ
không đều.
-Thị trường Đông Âu: mặc dù kim ngạch xuất khẩu còn chưa cao nhưng đây
cũng là một thị trường xuất khẩu thuỷ sản tiềm năng. Nga cũng đã có những bước
tiến rất dài trong nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số được thu thập từ các tài liệu sau:
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007-06/2010 của công ty cổ
phần thủy sản Kiên Giang Kisimex.
+ Báo cáo xuất nhập khẩu theo thị trường, theo mặt hàng của công ty.
+Thu thập từ tạp chí, sách báo, và các web site thủy sản (www.vasep.com.vn,
www.vietlinh.com.vn, www.mofi.com.vn, và các phương tiện truyền thông khác.

lệ của số tuyệt đối so với chỉ tiêu kì gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.
t
i
=
1−i
i
y
y

Trong đó:
y
i
: Là mức độ cần thiết nghiên cứu (mức độ kỳ báo cáo)
1−i
y
: Là mức độ kỳ trước (mức độ dùng làm cơ sở)
t
i
: Là tốc độ tăng trưởng
+ Phương pháp nghiên cứu marketing: Sử dụng ma trận SWOT để tìm ra điểm
mạnh, điểm yếu bên trong doanh nghiệp, cơ hội và nguy cơ bên ngoài doanh nghiệp
từ đó đề ra phương hướng và biện pháp khắc phục.
+ Phương pháp suy diễn: Để đề ra các giải pháp nhằm giúp cho hoạt động xuất
khẩu của công ty Kisimex ngày càng đạt hiệu quả cao. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 22 - SVTH: Trần Minh Trí
CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỒ PHẦN THỦY SẢN
KIÊN GIANG KISIMEX

8- Xí nghiệp KISIMEX Rạch Sỏi: Chuyên sửa chữa cơ khí và sản xuất bao bì
Phải khẳng định rằng, từ những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, và 4
năm đầu của thế kỷ 21 là giai đoạn thương hiệu Kisimex thực sự phát huy uy lực
trên thương trường, trở thành biểu tượng sáng giá nhất của dòng sản phẩm thủy sản
xuất khẩu ở Kiên Giang. Và sau khi công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Kiên
Giang được thành lập thì Kisimex càng gặt hái được nhiều thành công, sản phẩm
thủy sản mang thương hiệu Kisimex đã có mặt ở hầu hết các thị trường thế giới.
Thương hiệu Kisimex cũng đã được bảo hộ độc quyền trong nước. Mọi thành công
không đi trên con đường bằng phẳng, cơn lốc của nền kinh tế thị trường được đánh
dấu bằng sự ra đời hàng loạt của các doanh nghiệp chế biến thủy sản khác, kéo theo
là sự cạnh tranh trong thu mua nguyên liệu, xuất khẩu và những khó khăn nội tại
thương hiệu Kisimex của công ty đứng trước nguy cơ bị đổ vỡ. Sau đó được sự chấp
thuận của UBND tỉnh Kiên Giang thì công ty xuất nhập khẩu thủy sản Kiên Giang
đã được cổ phần hóa, và đổi tên thành công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang
Kisimex từ tháng 05/2007 cho đến nay.
Để tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị, những lợi thế trước đây của công
ty thì ban lãnh đạo của công ty đã đưa ra những giải pháp những chiến lược đúng
đắn theo từng giai đoạn. Trong đó, vấn đề ưu tiên hàng đầu là nâng cao chất lượng
sản phẩm, đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng phần mềm quản lí chất lượng sản
phẩm hàng hóa tiến đến đa dạng hóa ngành hàng.
Mở đầu là việc công ty đã đầu tư 45 tỷ đồng, nâng cấp sửa chữa và thay thế
dây chuyền sản xuất cấp động ở 3 xí nghiệp là An Hòa, Rạch Giá và Kiên Lương,
rút ngắn thời gian sản xuất, giảm chi phí đầu tư và điều quan trọng là đáp ứng điều
kiện để nâng cao chất lượng hàng hóa. Tiếp theo đó, cuối năm 2007 công ty quyết
định đầu tư thêm hơn 23 tỷ đồng lắp đặt dây chuyền sản xuất cá tra, cá basa xuất
khẩu tại Xí Nghiệp Kiên Giang. Với dây chuyền sản xuất hiện đại chỉ sau thời gian
ngắn sản phẩm của công ty đã nhận được sự tín nhiệm của khách hàng kể cả những
thị trường khó tính như Nhật Bản, EU…các hợp đồng xuất khẩu ngày càng cao.
và môi sinh. GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 25 - SVTH: Trần Minh Trí
+ Tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập ổn định đời sống cho nhân viên.
3.1.2.3 Quyền hạn
+ Được quyền quy định một cách độc lập các hoạt động sản xuất kinh doanh
và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản riêng của công ty.
+ Được quyền ký kết hợp đồng trực tiếp với các công ty quốc doanh, tư nhân
trong và ngoài nước.
+ Được quyền mở rộng và phát triển quy mô hoạt động xuất khẩu hay thu
hẹp.
+ Được quyền giới thiệu các mặt hàng và sản phẩm của mình trong và ngoài
nước theo quy định.
+ Được vay vốn tại các ngân hàng để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu.
3.1.3 Bộ máy quản lý và tình hình nhân sự
3.1.3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
Công ty đã hình thành hơn 14 năm, với đội ngũ cán bộ lãnh đạo dày dạn kinh
nghiệm trong kinh doanh và đội ngũ cán bộ quản lý điều hành đều là những người
có trình độ cao, có khả năng tiếp thu và thực hiện các công việc nhanh chóng, đảm
bảo hoạt động của công ty luôn trôi chảy, bộ máy tổ chức được xây dựng theo sơ đồ
trực tuyến sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status