Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu
Hiện nay xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh
chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, ở cả cấp độ khu vực và thế giới, cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại
và kinh tế giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc. Trong những năm gần đây Việt Nam
đang từng bước khẳng định vị trí mình trên trường quốc tế. Sự kiện Việt Nam gia
nhập WTO đã đánh dấu một cột mốc quan trọng của ta trong tiến trình hội nhập kinh
tế thế giới với nhiều mặt hàng của nước ta đã được xuất khẩu sang hầu hết các thị
trường trên thế giới, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước. Tuy nhiên bên cạnh
những thuận lợi có được từ hội nhập thì chính nó mang lại không ít khó khăn thử
thách, trên thế giới đang có nhiều biến động, các cuộc khủng hoảng xảy ra ở nhiều
quốc gia. Đứng trước bối cảnh kinh tế chính trị phức tạp như vậy, Việt Nam cần phải
có những đối sách thích hợp và kịp thời song vẫn không quên nhiệm vụ phát triển
kinh tế. Giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam rất coi trọng xuất
khẩu, lấy xuất khẩu làm nền tảng thu ngoại tệ để phát triển nền kinh tế trong nước,
kiến thiết và xây dựng cơ sở hạ tầng. Với ưu thế là một quốc gia ven biển giàu tiềm
năng về thủy sản, có thể nói thủy sản là một mặt hàng xuất khẩu đem lại giá trị kinh
tế lớn, do đó từ lâu thủy sản đã giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu của
nước ta, nhận thức được điều này nhà nước ta đã có những điều chỉnh và đầu tư thích
hợp nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngành.
Tuy nhiên, thực trạng xuất khẩu thủy sản trong những năm vừa qua cho thấy
ngành hàng này vẫn gặp phải không ít khó khăn, thử thách như giá xuất khẩu bị giảm
mạnh, các mặt hàng thủy sản chủ lực: tôm, cá basa, cá tra... bị kiện bán phá giá ở
nhiều quốc gia, các doanh nghiệp không ký kết được hợp đồng xuất khẩu.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng như
hiện nay vấn đề đặt lên hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế. Để
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 1 - SVTH: Trần Minh Trí
tìm hiểu để nắm bắt những cơ hội mới và xây dựng những chiến lược phù hợp
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 2 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
với sự đổi thay của thị trường thì công ty sẽ khó có được những thành công như
mong muốn. Bên cạnh đó cần phải phân tích kỹ các nhân tố tác động đến hoạt động
xuất khẩu. Như vậy, ta mới có thể đánh giá những cơ hội, đe dọa, khắc phục hạn chế
và phát huy thế mạnh nhằm làm gia tăng giá trị kim ngạch và hiệu quả xuất khẩu thủy
sản của công ty.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang
Kisimex giai đoạn từ 2007 – 06/ 2010 từ đó đề ra những giải pháp nhằm mở rộng thị
trường, gia tăng giá trị và hiệu quả xuất khẩu của công ty trong những năm tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh xuất
khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex giai đoạn 2007-
06/2010.
- Phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản tại công ty qua các năm 2007-
06/2010 vào các thị trường truyền thống.
-.Tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa cho việc xuất khẩu
thủy sản của công ty. Từ đó đề ra giải pháp mở rộng thị trường, gia tăng giá trị và
hiệu quả xuất khẩu của công ty.
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Không gian
Luận văn tập trung nghiên cứu trong phạm vi hoạt động xuất khẩu thủy sản của
công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex tại địa bàn tỉnh Kiên Giang.
1.3.2 Thời gian
Luận văn trình bày dựa trên thông tin, số liệu thu thập trong giai đoạn 2007-
06/2010 của công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex.
Luận văn được thực hiện từ 09/09/2010 đến 20/11/2010.
Trong công tác quản lý kinh tế, xây dựng kế hoạch mà không dựa vào thị trường để
tính toán và kiểm chứng số cung - cầu thì kế hoạch sẽ không có cơ sở khoa học và
mất phương hướng, mất cân đối. Ngược lại việc tổ chức và mở rộng thị trường mà
thoát ly khỏi sự điều tiết của công cụ kế hoạch hoá thì tất yếu sẽ dẫn đến sự mất cân
đối trong hoạt động kinh doanh. Từ đó ta thấy rằng sự nhận thức phiến diện về thị
trường cũng như sự điều tiết thị trường theo ý muốn chủ quan, duy ý chí trong quản
lý và chỉ đạo kinh tế đều đồng nghĩa với việc đi ngược lại với các hệ thống của quy
luật kinh tế vốn đã có sẵn trong thị trường và hậu quả cuối cùng của nó là sẽ làm cho
nền kinh tế rất khó phát triển.
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 5 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
Trên thị trường các quyết định của người lao động, người tiêu dùng và của các
doanh nghiệp đều tác động đến quan hệ cung cầu thông qua giá cả. Tuy nhiên hiện
nay ở tất cả các nước có nền kinh tế thị trường, tác động đến quan hệ cung cầu theo
cơ chế gián tiếp còn có các quyết định của chính phủ từng nước.
2.1.1.2 Vai trò của thị trường
Thị trường có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Qua thị
trường có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lực sản xuất thông qua hệ thống
giá cả. Trên thị trường giá cả hàng hoá về tư liệu sản xuất, các nguồn lực về tư liệu
sản xuất, sức lao động, luôn luôn biến động nhằm đảm bảo các nguồn lực giới hạn
này được sử dụng để sản xuất đúng hàng hoá, dịch vụ mà xã hội có nhu cầu. Thị
trường là khách quan do đó từng doanh nghiệp không có khả năng làm thay đổi thị
trường. Nó phải dựa trên cơ sở nhận biết nhu cầu xã hội và thế mạnh kinh doanh của
mình mà có phương án kinh doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường.
2.1.2 Khái niệm và vai trò của xuất khẩu
2.1.2.1 Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu là một công cụ hay nói đúng hơn là một hình thức hoạt động giao lưu
thương mại nhằm dung hòa lợi ích của mọi người trên thế giới. Như vậy xuất khẩu
được hiểu trước hết là một hình thức trao đổi hàng hóa, dịch vụ trên thị trường mà thị
trường đó là thị trường thế giới nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hàng
hình thức này các công ty trực tiếp quan hệ với khách hàng và bạn hàng, thực hiện
việc bán hàng hoá ra nước ngoài không qua bất kì một tổ chức trung gian nào. Để
thực hiện hoạt động xuất khẩu này, công ty phải đảm bảo một số điều kiện như: Có
khối lượng hàng hoá lớn, có thị trường ổn định, có năng lực thực hiện xuất khẩu…
- Xuất khẩu trực tiếp có ưu điểm là:
+ Tận dụng được hết tiềm năng, lợi thế để sản xuất hàng xuất khẩu.
+ Giá cả, phương tiện vận chuyển, thời gian giao hàng, phương thức thanh
toán, do hai bên ( mua và bán) chủ động thoả thuận và quyết định.
+ Lợi nhuận thu được không phải chia, do giảm được chi phí trung gian.
+ Có điều kiện thâm nhập, kịp thời tiếp thu được ý kiến trực tiếp từ khách
hàng, nhanh chóng khắc phục được sai sót.
+ Chủ động trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, nhất là trong điều kiện thị
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 7 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
trường biến động.
-Xuất khẩu trực tiếp có nhược điểm là :
+ Đối với việc thâm nhập thị trường mới có nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị
ép giá trong mua bán.
+ Khối lượng mặt hàng phải lớn để có thể bù đắp được chi phí giao dịch như:
thủ tục hải quan, thuế, điều tra thị trường…
+ Công ty phải thực hiện mọi hoạt động trên các mặt của công tác xuất khẩu
như: khảo sát thị trường, chuẩn bị sản phẩm, tìm khách hàng, chuẩn bị các tài liệu về
sản phẩm, đàm phán, chuẩn bị các hợp đồng hàng hoá, chuẩn bị giấy tờ xuất khẩu,
chuẩn bị giấy tờ về tài chính, vận chuyển hàng; theo dõi để chuẩn bị cho đợt vận
chuyển hàng tiếp theo. Vì vậy, đòi hỏi năng lực ngoại thương và nghiệp vụ của cán
bộ phụ trách phải sâu, có nhiều kinh nghiệm.
b)Xuất khẩu gián tiếp:
Là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua
trung gian (thông qua người thứ ba). Các trung gian mua bán không chiếm hữu hàng
hoá của công ty mà trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hoá sang thị trường nước ngoài.
b) Nhiệm vụ xuất khẩu
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu cần hướng vào thực hiện các
nhiệm vụ sau:
+ Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước (đất đai, vốn,
nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất…).
+ Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lượng và
kim ngạch xuất khẩu.
+ Tạo ra những mặt hàng (nhóm hàng) xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi
hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về chất lượng và số lượng, có sức hấp
dẫn và khả năng cạnh tranh cao.
c) Phương hướng phát triển xuất khẩu
+ Căn cứ vào nguồn lực bên trong:
- Dân số lao động
- Tài nguyên thiên nhiên, đất đai nông nghiệp, rừng biển, khoáng sản.
- Cơ sở hạ tầng
- Vị trí địa lý…
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 9 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
+ Căn cứ vào yêu cầu và xu hướng phát triển của thị trường:
Đối với chúng ta, đó là nhu cầu của các thị trường nhập khẩu, các thị trường
truyền thống, các thị trường gần.
+ Căn cứ vào hiệu quả kinh tế:
Tức lợi thế tương đối của mặt hàng (nhóm hàng) xuất khẩu.
+ Phương hướng xuất khẩu:
- Tăng nhanh và vững chắc tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
- Chuyển dịch mạnh cơ cấu sản xuất, xuất khẩu đảm bảo cán cân thương
mại ở mức hợp lý.
- Mở rộng, đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh. Hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới.
- Đa dạng, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các mặt hàng xuất khẩu.
5. Tiếp cận các phương thức kinh doanh mới tại thị trường Việt Nam (thị trường
kỳ hạn và thị trường giao ngay) tiếp cận và phát triển thương mại điện tử, trong đó có
việc tạo dựng khung pháp lý cho hình thức thương mại này.
6. Điều hành lãi suất, tỷ giá hối đoái một cách linh hoạt để vừa đảm bảo sự ổn
định kinh tế - xã hội, vừa có lợi cho xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
7. Chủ động thay đổi căn bản phương thức quản lý nhập khẩu: Mở rộng sử dụng
các công cụ phi thuế (hợp lệ) như các hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, môi
trường…, hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, thuế mùa vụ, thuế chống phá giá,
chống trợ cấp. Cải cách biểu thuế và cải cách công tác thu thuế, bỏ chế độ tính thuế
theo giá tối thiểu.
8. Tích cực sắp xếp lại các doanh nghiệp, các ngành hàng kinh doanh, đặc biệt
là doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả kinh doanh, công bố rõ ràng lộ trình
dỡ bỏ hàng rào bảo hộ, khắc phục những bất hợp lý trong chính sách bảo hộ, cân đối
lại đối tượng bảo hộ theo hướng trước hết chú trọng bảo hộ nông sản.
9. Coi trọng đào tạo cán bộ quản lý, đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp
giỏi, đủ sức thực hiện thắng lợi và có hiệu quả mục tiêu chiến lược xuất nhập khẩu
đặt ra.
2.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình xuất khẩu
2.1.3.1 Khái niệm doanh thu và phân tích doanh thu
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 11 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
+ Doanh thu là gì?
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được ở từng thời điểm nhất định của
kỳ kinh doanh hay ở cuối kỳ kinh doanh do hoạt động kinh doanh đem lại, tùy vào
tính chất của từng loại doanh nghiệp mà sản phẩm hàng hóa có thể do sản xuất kinh
doanh tạo ra hoặc mua của doanh nghiệp khác. Kết quả tiêu thụ sản phẩm thể hiện
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua chỉ tiêu doanh thu.
Doanh thu của doanh nghiệp được tạo ra từ các bộ phận:
• Doanh thu hoạt động kinh doanh
• Doanh thu từ hoạt động tài chính
+ Ở dạng tương đối, được thể hiện bằng tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận có
thể tính theo: giá vốn hàng bán, doanh thu, tài sản…
2.1.4 Xuât khẩu thủy sản là thế mạnh của Việt Nam
2.1.4.1 Tình hình xuât khẩu thủy sản trong những năm vừa qua
Năm 2009, ngành thủy sản xuất khẩu 1,216 triệu tấn sản phẩm, đạt giá trị 4,252
tỷ USD, giảm nhẹ 1,60% về khối lượng và 5,70% về giá trị so với năm 2008. Đây là
lần đầu tiên xuất khẩu thủy sản tăng trưởng âm kể từ những năm 1980.
Suy thoái kinh tế ảnh hưởng mạnh đến sức mua ở các thị trường lớn như EU,
Mỹ, Nhật Bản và Đông Âu khiến các doanh nghiệp phải nỗ lực nhiều hơn để tìm đầu
ra ở những khu vực mới. Do vậy số thị trường xuất khẩu tăng hơn so với năm 2008,
lên đến 163 nước và vùng lãnh thổ. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang ba khối
thị trường chính đều giảm, trong đó Nhật Bản giảm mạnh nhất về giá trị, nhưng thị
phần của các thị trường nhập khẩu chính không biến động lớn.
EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với giá trị 1,096 tỷ USD, giảm
4,20% so với năm 2008, chiếm 25,80% tổng thị phần. Kết quả trên khả quan hơn rất
nhiều so với những dự đoán trước đó, bởi năm 2009 đã có nhiều hiện tượng tiêu cực
ở EU ảnh hưởng đến nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam. Đó là thông tin bôi nhọa mặt
hàng cá tra trên thị trường Tây Ban Nha mà nguyên nhân sâu xa là do cá tra Việt
Nam đang dần chiếm lĩnh vị trí áp đảo về khối lượng, giá bán cạnh tranh so với một
số loài cá tiêu thụ truyền thống ở đây như cá vược sông Nile, cá tuyết…. Dư luận
tương tự cũng diễn ra ở Italia, Đức, Pháp và Đông Âu, chủ yếu xoáy sâu vào một số
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 13 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
thiếu sót về chất lượng như tỷ lệ mạ băng cao, hàm lượng đạm thấp và môi trường
nuôi kém... Trong tình hình đó, Nga vẫn hạn chế số lượng doanh nghiệp Việt Nam
được xuất khẩu cá tra sang nước này, khiến xuất khẩu cá sụt giảm nghiêm trọng và
nhiều doanh nghiệp điêu đứng. Như vậy, ngoài lý do suy giảm sức mua và cạnh
tranh mặt hàng, giá cả, vẫn tồn tại những rào cản khác trong khu vực thị trường này.
(Nguồn: vneconomy.com.vn)
Hình 1: THỊ TRƯỜNG CHÍNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM THỦY SẢN
khẩu thủy sản Việt Nam. Tổng nhập khẩu đạt 201,7 triệu USD, tăng 28,40% so với
năm 2008. Thực tế giá trị nhập khẩu của thị trường này còn lớn hơn nhiều, nếu tính
cả nhập khẩu tiểu ngạch. Dự báo xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc sẽ tiếp tục
tăng do nhu cầu lớn và mặt hàng đa dạng; thuận lợi về địa lý và phương thức thanh
toán biên mậu đã trở nên quen thuộc với các nhà xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên,
tính thất thường của thị trường vẫn khiến nhiều doanh nghiệp phải cảnh giác, bên
cạnh đó cũng cần phải lường trước việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng
không nhất quán.
2.1.4.2 Sản phẩm xuât khẩu
Năm 2009, các mặt hàng xuất khẩu chính được xếp theo thứ tự về giá trị xuất
khẩu gồm tôm, cá tra, cá biển, mực và bạch tuộc, cá ngừ, thủy sản khô và các loại
thủy sản khác, trong đó chỉ có tôm và thủy sản khô tăng giá trị xuất khẩu so với năm
2008. Xuất khẩu tôm tăng ít 3% và hàng khô tăng khá hơn, với 9,90%. Các mặt
hàng quan trọng khác đều giảm và giảm mạnh, nhất là mực và bạch tuộc giảm đáng
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 15 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
kể và góp phần làm sụt giảm giá trị xuất khẩu chung của thủy sản Việt Nam là cá
tra.
+ Tôm:
Mặc dù phải đương đầu với những khó khăn chung, nhưng 2009 có thể nói là
năm thành công của mặt hàng tôm, xuất khẩu tăng cả về khối lượng và giá trị, xứng
đáng là mặt hàng thủy sản xuất khẩu số một của Việt Nam. Tổng giá trị xuất khẩu
đạt 1,675 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2008 và chiếm 39,40% tổng giá trị xuất khẩu
thủy sản của Việt Nam. Tổng số có 84 thị trường nhập khẩu tôm Việt Nam, lớn nhất
là Nhật Bản, Mỹ, EU, Hàn Quốc và Trung Quốc, tuy vậy cả Nhật Bản và Mỹ đều
giảm nhập khẩu. Trung Quốc đã thu hút rất mạnh tôm của Việt Nam, chủ yếu là tôm
đông lạnh nguyên liệu và tôm sơ chế. Xuất khẩu tôm tăng 94,30% so với năm 2008
và chiếm trên 50% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc. Xuất khẩu tôm
sang EU cũng tăng 20,20%, góp phần chủ yếu trong việc đạt mức tăng trưởng nhẹ
của mặt hàng này năm 2009. Bên cạnh đó, các thị trường chính là Nhật Bản và Mỹ
Tóm lại, việc đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng đang
thay đổi nhanh của cả người tiêu dùng trong và ngoài nước là rất cần thiết. Nhưng
thời gian qua, tốc độ tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu của Việt Nam còn chậm.
Nếu hoạt động này không được đẩy mạnh trong thời gian tới thì việc tăng kim ngạch
xuất khẩu sẽ khó khăn. Vì vậy các cơ quan quản lý nghiên cứu khoa học công nghệ và
các doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư nghiên cứu thị hiếu và thói quen tiêu dùng
của từng thị trường cũng như các phương thức sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm để có những chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp. Nhập khẩu và tiêu thụ
thuỷ sản ở các nước phát triển sẽ là những loài có giá trị cao và đảm bảo đầy đủ các
yêu cầu về an toàn. Ngược lại, tiêu thụ ở các nước đang phát triển sẽ tập trung vào các
loài có giá trị thấp, đáp ứng nhu cầu về protein của tầng lớp dân nghèo và cung cấp
nguyên liệu đầu vào để chế biến thức ăn nuôi trồng thuỷ sản và gia súc.
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 17 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
2.1.4.3 Thị trường xuất khẩu
Hàng thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở khoảng 163 thị trường trên thế giới, đồng
thời đã hình thành thế chủ động cân đối về thị trường tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm duy
trì tăng trưởng bền vững. Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản thay đổi rõ nét kể từ
năm 2000 đến nay. Mỹ và Nhật Bản trở thành thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu
của Việt Nam, tiếp đó là thị trường EU. Các thị trường châu Á như Đài Loan, Hàn
Quốc có vị trí khá ổn định.
+ Mỹ: là một trong những thị trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt
Nam. Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ ngày một đa dạng,
nhất là tôm đông lạnh, các sản phẩm tươi sống như cá ngừ, cá thu và cua. Cá tra, basa
phi lê đông lạnh là mặt hàng độc đáo của Việt Nam tại thị trường Mỹ. Mặc dù các
doanh nghiệp sẽ còn gặp nhiều sóng gió và biến động trên thị trường này, nhưng Hoa
Kỳ vẫn là thị trường chứa đựng rất nhiều tiềm năng.
+ Nhật Bản: là thị trường đem lại hiệu quả cao cho xuất khẩu thủy sản của Việt
Nam. Các sản phẩm tôm, cá và cá ngừ của Việt Nam đều có doanh số tương đối lớn
trên thị trường Nhật Bản, đặc biệt là mặt hàng tôm Nobashi. Sự thiếu đồng bộ trong
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007-06/2010 của công ty cổ phần
thủy sản Kiên Giang Kisimex.
+ Báo cáo xuất nhập khẩu theo thị trường, theo mặt hàng của công ty.
+Thu thập từ tạp chí, sách báo, và các web site thủy sản (www.vasep.com.vn,
www.vietlinh.com.vn, www.mofi.com.vn,... và các phương tiện truyền thông khác.
+ Phỏng vấn các Anh, Chị ở các Phòng Kinh Doanh, Phòng Kế Toán, Phòng
Nhân Sự,…của công ty Kisimex.
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
+ Phương pháp so sánh: Là phương pháp đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế nhằm rút
ra những kết luận đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Trong những trường hợp đặc biệt có thể so sánh những chỉ tiêu phản ánh những
hiện tượng kinh tế khác loại nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình
phân tích.
- Phương pháp so sánh tuyệt đối: Là hiệu số của hai chỉ tiêu là chỉ tiêu kì phân
tích và chỉ tiêu gốc, chẳng hạn như so sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch hoặc
giữa việc thực hiện kì này và thực hiện kì trước.
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 19 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
∆y = y
1
− y
0
Trong đó:
y
0
: Là chỉ tiêu năm trước
y
1
: Là chỉ tiêu năm sau
∆y : Là phần chênh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
CHƯƠNG 3
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỒ PHẦN THỦY SẢN
KIÊN GIANG KISIMEX
3.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỦY SẢN KIÊN GIANG
KISIMEX
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex được thành lập tháng 10/1996,
với tên gọi là công ty xuất nhập khẩu thủy sản Kiên Giang. Đến tháng 05/2007 được
sự chấp thuận của UBND tỉnh Kiên Giang thì công ty xuất nhập khẩu thủy sản Kiên
Giang đã tiến hành cổ phần hóa và đổi tên mới là công ty cổ phần thủy sản Kiên
Giang Kisimex, với nhiệm vụ chế biến thủy sản xuất khẩu và thu ngoại tệ về cho tỉnh
nhà, góp phần quảng bá thương hiệu thủy sản Kiên Giang.
Trụ sở chính: 39 Đinh Tiên Hoàng, TP.Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.
Điện thoại: (84) 77 - 862104/ 872707 Fax: (84) 77- 862677
Email: [email protected]
Website: www.kisimex.com.vn
Tiền thân của công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex là công ty xuất
nhập khẩu thủy sản Kiên Giang được thành lập trên cơ sở là quyết định sáp nhập của
5 đơn vị chế biến thủy sản trong tỉnh của UBND tỉnh Kiên Giang nhằm tăng cường
công tác quản lý, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, tiến tới xây dựng thương hiệu cho sản
phẩm thủy sản của tỉnh. Hệ thống thành viên trong công ty bao gồm:
1- Xí nghiệp KISIMEX Kiên Giang (DL 110): Chuyên sản xuất cá tra
2- Xí nghiệp KISIMEX An Hòa (DL 120): Chuyên sản xuất mực
3- Xí nghiệp KISIMEX Rạch Giá (DL 144): Chuyên sản xuất chả cá, mực
4- Công Ty Cổ Phần CBTS Kiên Lương (DL 166,HK 320): Chuyên sản xuất tôm
5- Công Ty Cổ Phần Thủy Sản Phú Quốc: Chuyên sản xuất mực
6- Công Ty Cổ Phần Thủy Sản Tắc Cậu (KICOIMEX): Chuyên sản xuất chả cá
7- Xí nghiệp KISIMEX Tân Hiệp: Chuyên nuôi trồng và chế biến thức ăn thủy
sản
Từ một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ ngân hàng hơn 150 tỷ đồng và chỉ còn
500 công nhân làm việc cầm chừng. Sau khi chuyển sang hình thức quản lý mới công
GVHD: Nguyễn Thị Diệu - 22 - SVTH: Trần Minh Trí
Phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản tại công ty cổ phần thủy sản Kiên Giang KISIMEX
ty cổ phần thủy sản Kiên Giang Kisimex đã vượt lên, ngày càng làm ăn có hiệu quả,
doanh thu cao hơn năm trước. Công ty đã trở thành đơn vị thu hút nguồn lao động lớn
nhất Kiên Giang, với con số lao động lên đến hơn 3.000 người. Sản phẩm của công ty
hiện có mặt ở 17 thị trường với 130 khách hàng thuộc các nước: Hàn Quốc, Nga,
Nhật, Châu Âu, Châu Úc và Châu Á.
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công ty cổ phần thủy sản Kiên
Giang Kisimex
3.1.2.1 Chức năng
+ Nuôi trồng, thu mua các loại thủy sản.
+ Chế biến thực phẩm thủy sản đông lạnh xuất khẩu.
+ Làm cầu nối giữa sản phẩm và tiêu dùng.
+ Liên kết hợp tác kinh doanh với các tổ chức trong và ngoài nước.
3.1.2.2 Nhiệm vụ
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty
theo quy chế hiện hành. Để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của công ty đã
được quy định.
+ Tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ của công ty.
+ Quản lý khai thác và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả, đảm bảo mở rộng đầu
tư sản xuất, đổi mới trang thiết bị, cân đối giữa nguồn vốn của công ty với xuất khẩu
và nhập khẩu.
+ Thực hiện đầy đủ các trách nhiệm và nhiệm vụ đối với nhà nước.
+ Thực hiện tốt các chính sách chế độ quản lý tài sản, lao động, tiền lương…
đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo đời sống cán bộ công nhân viên trong công ty.
+ Kinh doanh, chế biến thực phẩm xuất khẩu.
+ Nghiên cứu các biện pháp để khuyến khích phát triển sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
THƯỜNG TRỰC
GIÁM ĐỐC
SẢNXUẤT-
CÔNG NGHỆ
BAN TRỢ LÝ,
THƯ KÍ
GIÁM ĐỐC
KINH DOANH
GIÁM ĐỐC
KT.XDCB-
ĐẦU TƯ
GIÁM ĐỐC
TÀI CHÍNH
GIÁM ĐỐC
NHÂN SỰ
P. KINH DOANH
P. CÔNG NGHỆ
P. TỔ CHỨC-
HÀNH CHÍNH
P. KẾ TOÁN
P. KT-XDCB
CTY CP CBTS XNK
KIÊN CƯỜNG
CTY CP CB XNK
THỦY HẢI SẢN
HÙNG CƯỜNG
CTY CP THỦY SẢN
PHÚ QUỐC
CTY CP CHẾ BIẾN