Trang 1
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
“THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
NGÀNH DU LỊCH Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN QUA .” Trang 2
TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH LÀ TẤT YẾU
KHÁCH QUAN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRUỜNG
1) Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.1) Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là năm, quý).
Giả sử kết quả đầu ra của nền kinh tế của một quốc gia được ký hiệu là Y:
Yo là kết quả đầu ra của năm 0, Yn là kết quả đầu ra của năm n. Khi đó tăng
trưởng của nền kinh tế của năm n so với năm 0 được biểu thị bằng mức tăng
trưởng tuyệt đối hoặc tốc độ tăng trưởng như sau:
Mức tăng trưởng tuyệt đối:
∆ Yn = Y
n
- Y
0
Tốc độ tăng trưởng:
g =
Error!
=
Error!
1.2) Phát triển kinh tế
1.2.1) khái niệm:
Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt kinh
tế- xã hội của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng.
1.2.2) Nội dung chủ yếu của phát triển kinh tế
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dài hạn, Đây là điều kiện tiên quyết để tạo
ra những tiến bộ về kinh tế- xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển thu nhập
theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực
nội sinh của nền kinh tế, sẽ không thể tạo ra sự phát triển kinh tế. Nếu phương thức
tăng trương kinh tế chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, cho vùng này,
mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác
thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khoét sâu vào bất bình đẳng xã hội. Những
phương thức tăng trưởng như vậy, rốt cục, cũng chỉ là kết quả ngắn hạn, không
những không thúc đẩy được phát triển, mà bản thân nó cũng khó có thể tồn tại
được lâu dài.
2) Các chỉ tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 5
2.1) Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân
(GNP)
Các chỉ tiêu GDP và GNP thông qua sử dụng thước đo tiền tệ có thể tổng
hợp được kết quả đầu ra hết sức phong phú và đa dạng về chủng loại, mục đích sử
dụng về chất lượng của nền kinh tế. Nhờ đó cung cấp một công cụ hữu hiệu cho
việc đánh giá sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của một quốc gia.
2.1.1) Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng
hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh thổ
kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định.
Ba phương pháp đo lường tổng sản phẩm thu nhập trong nước:
Thứ nhất, phương pháp sản xuất còn gọi là phương pháp giá trị gia tăng.
Theo phương pháp này GDP tổng hợp giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp trong
nền kinh tế. Giá trị gia tăng được tính bằng cách lấy giá trị tổng sản lượng trừ đi
giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mua ngoài đã được sử dụng hết trong quá
trình sản xuất của doanh nghiệp.
Thứ hai, phương pháp thu nhập đo lường GDP trên cơ sở thu nhập tạo ra
trong quá trình sản xuất hàng hoá chứ không phải là giá trị của bản thân hàng hoá.
GDP= w + i + R +Pr +Te
Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
g =
Error!
=
Error!
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của một giai đoạn:
g =
GDPo
GDPoGDPn
n
−
- 1
2.3) Các chỉ tiêu phát triển kinh tế
Để phản ánh nội dung khác nhau của khái niệm phát triển kinh tế cần phải
có các nhóm chỉ tiêu khác nhau:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh
tế hàng năm hay bình quân năm của một giai đoạn nhất định.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội: chỉ
số cớ cấu kinh tế theo ngành trong GDP; chỉ số cơ cấu về hoạt động ngoại thương;
tỷ lệ dân cư sống trong khu vực thành thị trong tổng số dân; tỷ lệ lao động làm việc
trong các ngành công nghịêp, nông nghiệp và dịch vụ…
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống gồm:
Thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình
quân đầu người.
Các chỉ số về dinh dưỡng: số calo bình quân/ người/ năm.
Trang 7
Các chỉ số về giáo dục: tỷ lệ người biết chữ, số năm đi học bình
Trang 8
quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các
cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”.
(Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa
nhận)
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn
thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara- Edmod
đưa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó
không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do
khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng
trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và
giải trí.”
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt
Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các
chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan
tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh
lam thắng cảnh…”. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên,
truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất
nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế,
du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức
xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch
thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi
của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng
cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu
thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung
ứng.
- Du lịch quốc gia
3.2.4) Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch
- Du lịch miền biển
- Du lịch núi
- Du lịch đô thị
Trang 10
- Du lịch thôn quê
3.2.5) Phân loại theo phương tiện giao thông
- Du lịch xe đạp
- Du lịch ô tô
- Du lịch bằng tàu hoả
- Du lịch bằng tàu thuỷ
- Du lịch máy bay
3.2.6) Phân loại theo loại hình lưu trú
- Khách sạn
- Nhà trọ thanh niên
- Camping
- Bungaloue
- Làng du lịch
3.2.7) Phân loại theo lứa tuổi du lịch
- Du lịch thiếu niên
- Du lịch thanh niên
- Du lịch trung niên
- Du lịch người cao tuổi
3.2.8) Phân loại theo độ dài chuyến đi
- Du lịch ngắn ngày
- Du lịch dài ngày
3.2.9) Phân loại theo hình thức tổ chức
- Du lịch tập thể
5) Vai trò của ngành du lịch đối với tăng trưởng và phát triển kinh
tế của đất nước
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một
hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một
nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước. Về mặt
kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều
nước công nghiệp phát triển. Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Các lợi ích kinh tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ
nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của du lịch.
Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá thông thường còn có
Trang 12
những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh,
chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn…
Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác
là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra
chúng. Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù mà không
thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả của sản phẩm du lịch kia
một cách tuỳ tiện được. Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng
sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng
đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch
sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang
tính liên ngành có quan bệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Khi một khu
vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu
về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng kể. Xuất phát từ nhu cầu này của du khách
mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối
quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong
nền kinh tế quốc dân. Hơn nữa, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có
chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn. Do đó nó đòi hỏi
các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá.
trường. Qua đó chính phủ Trung Quốc có những biện pháp cụ thể để cải tạo và bảo
vệ môi trường. Các cơ chế chính sách về bảo vệ môi trường được thiết lập, tăng
vốn đầu tư bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi người dân bảo vệ môi trường.
Với sự cố gắng của chính phủ, của toàn dân Trung Quốc nạn ô nhiễm môi trường
đã được kiểm soát toạ thuận lợi cho du lịch phát triển một cách bền vững. Chính
phủ Trung Quốc không ngừng tăng vốn đầu tư vào bảo vệ môi trường, từ năm
1996 đến năm 2000, Trung Quốc đã chi 360 tỉ nhân dân tệ. Nhờ đó Trung Quốc
đã xây dựng và bảo vệ hơn 1227 khu bảo tồn thiên nhiên, hàng triệu hecta rừng với
nhiều chủng loại động thực vật phong phú rất phù hợ cho phát triển du lịch sinh
thái- một loại hình du lịch có xu thế tăng trong thời gian gần đây. Để bảo vệ sự
phong phú của sinh vật, Trung Quốc là một trong những nước tham gia ký kết rất
sớm “công ước tính đa dạng sinh vật”. Đồng thời chính phủ Trung Quốc tập trung
sửa đổi và đưa ra luật mở để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ môi trường. Tính
đến nay, đã có 6 bộ luật, hơn 30 đạo luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành,
do đó môi trường Trung Quốc đã được kiểm soát và cải tạo đáng kể.
Trang 14
Môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch mà nó còn ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người, do đó việc bảo vệ môi
trường được nhiều nước quan tâm như Singapo, Nhật Bản… Nhờ đó, du lịch ở
những nước này đã phát triển mạnh, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế nói
chung.
Bởi vị trí, vai trò của du lịch đem lại không chỉ về mặt kinh tế mà còn về
mặt xã hội, văn hoá, môi trường…là rất lớn nên trong những năm qua du lịch đã
được Đảng và nhà nước quan tâm phát triển. Trải qua hơn 40 năm hình thành và
phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và
nhà nước, các cấp, các ngành, sự hưởng ứng của nhân dân, sự giúp đỡ, hỗ trợ quốc
tế và nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc,
nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với du lịch các nước trong khu vực, trở thành
ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Tuy nhiên du
chế hoá thành các luật lệ, biện pháp và chương trình cụ thể. Thường xuyên nghiên
cứu thông tin, kinh nghiệm phát triển du lịch thế giới, tổng kết thực tiễn kịp thời để
phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn về du lịch của các ngành, các địa phương. Trang 16
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN QUA
1) Sự cần thiết phát triển du lịch ở nước ta
Trải qua hai cuộc chiến tranh đất nước ta đã bị tàn phá nặng nề, nền kinh
tế suy sụp, dân ta nghèo khổ, các nước còn e dè trong quan hệ với ta. Trước tình
hình đó nước ta cần phát triển kinh tế, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Đảng
và nhà nước đã nhận thức được tầm quan trọng của mỗi ngành trong đó có ngành
du lịch.
Đảng và nhà nước đã xác định “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp
quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội
hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng
của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và
phát triển kinh tế xã hội của đất nước” (Trích pháp lệnh du lịch 2/1999) và coi
“phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển
kinh tế xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
(Trích chỉ thị 46/CTTW ban bí thư trung ương đảng khoá VII, 10/1994) và “phát
triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” (Trích văn kiện đại hội
đảng khoá IX)
Ảnh hưởng của du lịch đến kinh tế: Du lịch đã đóng góp rất lớn vào sự
phát triển kinh tế của đất nước. Tình đến thời điểm này, hoạt động du lịch đã mang
lại doanh thu hàng tỉ USD và nộp vào ngân sách nhà nước hàng ngàn tỉ đồng.
Hàng năm các ngành cố gắng xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ về cho đất nước
góp phần làm giảm gánh nặng cho nền kinh tế của dất nước, góp phần đưa nền
kinh tế của nước nhà phát triển ổn định và nhanh chóng.
Ảnh hưởng của du lịch đến văn hoá: một trong những chức năng của du
lịch là giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng. Khi đi du lịch, du khách luôn muốn
được xâm nhập vào các hoạt động văn hoá của địa phương qua đó du khách có
thêm những hiểu biết mới. Du lịch còn góp phần cho việc phục hồi và phát triển
văn hóa dân tộc. Nhu cầu về nâng cao nhận thức văn hoá trong chuyến đi của du
khách thúc đẩy các nhà cung ứng chú ý, yểm trợ cho việc khôi phục, duy trì, các di
tích, lễ hội, sản phẩm làng nghề… Du lịch đã góp phần đưa hình ảnh đất nước ta
Trang 18
đến với bạn bè quốc tế đồng thời giúp chúng ta có cái nhìn rộng hơn bên ngoài mà
qua đó ta làm cho cuộc sống tinh thần trở nên phong phú và đầy đủ hơn.
Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường: mục đích chủ yếu của du khách
khi đi du lịch là được tiếp xúc, đắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận một
cách trực giác sự hùng vĩ, trong lành, tươi mát và nên thơ của các cảnh quan thiên
nhiên. Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết sâu sắc hơn về tự nhiên, thấy được giá trị
của thiên nhiên đối với đời sống con người. Điều này có nghĩa là bằng thực tiễn
phong phú, du lịch sẽ góp phần rất tích cực vào sự nghiệp giáo dục môi trường,
một vấn đề toàn thế giới đang hết sức quan tâm.
Nhu cầu du lịch nghỉ ngơi tại những khu vực có nhiều cảnh quan thiên
nhiên đã kích thích việc tôn tạo, bảo vệ môi trường. Để đáp ứng nhu cầu du lịch
phải dành những khoảng đất đai có môi trường ít bị xâm phạm, xây dựng các công
viên bao quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn
nước, không khí nhằm tạo nên môi trường sống phù hợp với nhu cầu của du khách.
Để gia tăng thu nhập từ du khách phải có chính sách maketing, chính sách tu bổ
bảo vệ tự nhiên để điểm du lịch ngày càng hấp dẫn.
Ảnh hưởng của du lịch đến an ninh, chính trị: trước hết cần khẳng định du
lịch là chiếc cầu nối hoà bình giữa các dân tộc trên thế giới. Hoạt động du lịch giúp
cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, hiểu hơn về giá trị văn hoá của đất nước
truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng của mình. Du khảo hết
các làng nghề truyền thống, du khách có thể thấy rõ bản sắc cũng như đặc trưng
của bộ mặt nông thôn Việt Nam. Hiện nay, cả nước đã có hơn 2000 làng nghề thủ
công thuộc 11 nhóm nghề chính như: cói, sơn mài, mây tre đan, gốm sứ, thêu ren,
dệt, gỗ, đá, giấy, tranh dân gian. Đi dọc Việt Nam du khách có thể thấy nhiều vùng
quê mà mật độ làng nghề truyền thống dày đặc rải từ bắc vào nam. Những cái nôi
của làng nghề là Hà Nôi, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thừa Thiên
Huế… Thực tế, hiện nay du khách muốn đến tận làng nghề nhìn cảnh cây đa, bến
nước, sân đình, thăm các di tích của một làng nghề truyền thống Việt Nam, tìm
hiểu các vị tổ làng nghề hoặc các danh nhân văn hoá. Làng nghề truyền thống Việt
Nam chứa đựng tiềm năng dồi dào về du lịch còn bởi vì du khách muốn đến tận
nơi xem các công đoạn nghệ nhân làm ra sản phẩm và cũng muốn tận tay tham gia
làm sản phẩm theo trí tưởng tượng của riêng mình. Tìm hiểu về văn hoá và truyền
thống làng nghề là điều mà du khách trong và ngoài nước quan tâm.
Trang 20
Việt Nam còn có các tài nguyên có giá trị lịch sử, các tài nguyên có giá trị
văn hoá thu hút khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu. Với lịch sử
hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn
hoá phong phú và độc đáo. Không những vậy 54 dân tộc anh em cùng chung sống
trên một mảnh đất, lại có bao phong tục, tập quán, lễ hội khác nhau tạo nên sự đa
dạng cho sản phẩm du lịch Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang xây dựng cơ sở vật chất
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ. Đặc biệt con
người Việt Nam thân thiện, hiếu khách đã tạo sự thoải mái cho du khách.
Chính tất cả những tiềm năng trên là một nền tảng để du lịch Việt Nam
phát triển, hội nhập với các nước trên thế giới. Nhưng vấn đề là chúng ta tận dụng
những tiềm năng đó như thế nào nó phụ thuộc vào cách làm của chúng ta.
3) Thành tựu ngành du lịch nước ta đạt được trong thời gian qua
Nhận thức được vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển của nền
năm 1991 đến 2001, lượt khách quốc tế đã tăng từ 300 ngàn lượt người lên 2,33
triệu lượt người, tăng 7,8 lần. Khách du lịch nội địa tăng từ 1,5 triệu lượt người lên
11,7 triệu lượt người, tăng gấp 8 lần. Thu nhập xã hội từ du lịch tăng nhanh, năm
2001 đạt 20500 tỷ đồng, so với năm 1991 gấp khoảng 9,4 lần. Hoạt dộng du lịch
đã tạo 22 vạn lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp giải quyết được
phần nào nạn thất nghiệp ở nước ta. Theo số liệu mới nhất, trong sáu tháng đầu
năm 2005 ngành du lịch Việt Nam đã đón nhận hơn 1,72 triệu lượt khách du lịch
quốc tế. Ngành du lịch Việt Nam đang rất tin tưởng vào mục tiêu đón 3,2 triệu lượt
khách quốc tế trong năm nay trở thành hiện thực.
Trong 5 năm qua, với nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển
cơ sở hạ tầng lên tới 2141 tỷ đồng đã góp phần không nhỏ khuyến khích các địa
phương thu hút đầu tư du lịch dựa trên lợi thế từng vùng. Nhìn chung, cơ sở hạ
tầng có bước chuyển mạnh mẽ. Hiện nay, cả nước có hơn 5900 cơ sở lưu trú với
hơn 120 nghìn phòng. Phương tiện vận chuyển như đường bộ, đường thuỷ, đường
sắt, đường không được hiện đại hoá. Nhiều khu du lịch, sân gôn, công viên chuyên
đề và cơ sở vui chơi được đưa vào hoạt động và đủ điều kiện đón hàng triệu khách
mỗi năm. Tốc độ tăng trưởng của du lịch đạt bình quân hơn 11%/năm cả về cơ sở
hạ tầng, số lượng du khách.
Bên cạnh việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà
nước, ngành du lịch còn tận dụng các nguồn vốn nước ngoài nhằm huy động thêm
Trang 22
nguồn lực cho sự phát triển của ngành. Năm 2005, nước ta đã có thêm hai dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực khách sạn với tổng số vốn đầu tư
khoảng 1,5 triệu USD, dự án bằng nguồn vốn ODA do EU tài trợ là 11,8 triệu
USD cũng là tín hiệu hứa hẹn cải thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực của
ngành du lịch trong thời gian tới. Do nguồn vốn có hạn nên ngành du lịch ưu tiên
đầu tư phát triển các khu du lịch tổng hợp quốc gia và khu du lịch chuyên đề.
Đồng thời ngành có kế hoạch đẩy mạnh phát triển du lịch đối với các địa bàn du
lịch trọng điểm như: Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Huế…và các tuyến du lịch
du lịch.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự
phát triển thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa đào tạo được đội ngũ nhân viên du
lịch (lái xe, tiếp viên, hướng dẫn viên…) có nghiệp vụ, có văn hoá, biết ngoại ngữ
đủ để đáp ứng yêu cầu của thị trường đang ngày càng tăng. Hoạt động du lịch ngày
càng đa dạng hoá về sản phẩm du lịch, loại hình du lịch và chất lượng các sản
phẩm du lịch. Điều này đòi hỏi đội ngũ lao động phải không ngừng nâng cao trình
độ nghiệp vụ. Những người làm công tác quản lý trong ngành du lịch có trình độ
không đồng đều, một số chưa qua đào tạo về quản lý doanh nghiệp du lịch. Tuy
tiềm năng du lịch rất lớn nhưng hệ thống cơ sở đào tạo du lịch còn quá ít. Điển
hình như ở Hà Nội- một trung tâm văn hoá- chính trị lớn của cả nước cũng chỉ có
vài trường đào tạo du lịch là trung học nghiệp vụ du lịch, khoa du lịch trường đại
học khoa học xã hội và nhân văn, khoa du lịch trường đại học văn hoá, khoa du
lịch viện đại học mở Hà Nội.
Trong khi nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu thì sự sắp
xếp bộ máy cán bộ không hợp lý, rườm rà gây ra lãng phí rất nhiều nhân lực. Do
đó, kiện toàn sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là một đòi hỏi cần phải giải quyết ngay.
So với các nước trên thế giới và các nước trong khu vực như Thái Lan,
Indonesia thì chúng ta đi sau các nước này đến gần hai thập kỷ về lĩnh vực du lịch.
Đầu tư về du lịch của chính phủ tuy đang cải thiện nhưng chưa tương xứng với
tiềm năng du lịch của nước ta. Một năm, chính phủ Thái Lan bỏ ra gần 100 triệu
USD để quảng bá du lịch quốc gia với trên 20 văn phòng đại diện du lịch quốc gia
ở nước ngoài. Còn chúng ta chưa có một văn phòng đại diện nào cả. Chúng ta
thiếu vốn để có thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng một cách nhanh chóng. Chúng ta
thiếu xe tốt, xe mới, thiếu khách sạn vào những tháng cao điểm, chất lượng đường
Trang 24
xá thấp, liên tục xảy ra ách tắc giao thông, lề đường dành cho khách dạo bộ bị
chiếm dụng.
Mặc dù tiềm năng du lịch ở Việt Nam là rất lớn song nếu chúng ta chỉ biết
trường nào thì cử tăng số lượng hội chợ và roadshow lên. Đơn cử như tại hội chợ
ITB được tổ chức thường niên tại Đức, mặc dù ngành du lịch Việt Nam tham gia
khá đều đăn nhưng lượng khách Đức đến Việt Nam trong thời gian qua cũng
chẳng tăng được là bao nhiêu, thậm chí năm 2003, lượng khách du lịch đến từ
nước này còn giảm gần 4% so với năm 2002. Nếu so sánh với các nước khác thì
chiến lược của ta từ logo, đến cách phát động lễ hội, hội chợ…còn thiếu sự sáng
tạo, chiều sâu. Trước thực trạng này chúng ta cần phải có sự học tập sáng tạo công
nghệ quảng bá của nước ngoài, sử dụng loại hình quảng bá mới…để mọi người
biết đến Việt Nam như một điểm đến an toàn, thân thiện, hấp dẫn.
Giải quyết được những hạn chế trên không chỉ là công việc của riêng
ngành du lịch mà đòi hỏi phải có sự giúp sức của các ngành, các cấp. Nó đòi hỏi
nhiều thời gian, tiền của nhưng chúng ta phải làm bởi lợi ích mà du lịch mang lại
còn lớn hơn nhiều. Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước đã quan tâm để
phát triển du lịch bền vững và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
5) Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế của ngành du lịch
Việt Nam
5.1) Nguyên nhân của những thành tựu
Trong thế kỷ XXI, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc với những
bước nhảy vọt chưa từng thấy về khoa học và công nghệ. Kinh tế tri thức sẽ có vai
trò ngày càng nổi bật trong phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hoá là một xu
thế khách quan, ngày càng có nhiều nước tham gia, hoà bình, hợp tác và phát triển
vẫn là một xu thế lớn phản ánh nguyện vọng và đòi hỏi của mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc. Trong bối cảnh đó, nhu cầu du lịch tăng mạnh, du lịch thế giới phát triển
nhanh với xu thế chuyển dần sang khu vực Đông Á- Thái Bình Dương, đặc biệt là
khu vực Đông Nam Á. Đây thực sự là cơ hội tốt cho du lịch Việt Nam phát triển.
Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Đảng và nhà nước đã tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch, phát triển. Đảng và
nhà nước quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao sự nghiệp phát triển du lịch của đất
nước. Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.