Chuyên đề tốt nghiệp
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây thị trường dịch vụ bưu chính đang có những
chuyển biến và thay đổi so với trước đây do tác động của việc hội nhập kinh
tế quốc tế, đặc biệt khi mà Việt Nam đã là thành viên của WTO, nhà nước ta
đã mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh do vậy sự cạnh
tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn. Để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh
doanh thay đổi, các doanh nghiệp bưu chính cần phải có sự điều chính cho
phù hợp, điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp phải cải tổ lại cơ cấu tổ chức,
cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả, hiện đại hoá, tạo ra các sản
phẩm mới, phát triển thị trường mới hướng tới hiệu quả cao và có thể cạnh
tranh bằng chính sức của mình.
Với vai trò là một ngành dịch vụ thuộc hạ tầng của nền kinh tế quốc
dân, hiệu quả của ngành bưu chính nói chung và của VPT nói riêng góp phần
làm cho nền kinh tế thị trường phát triển, đối với mọi lĩnh vực xã hội ngành
bưu chính một mặt có hiệu quả trực tiếp góp phần nâng cao, cải thiện đời
sống của cán bộ công nhân viên, bảo đảm sự hoạt động bền vững và tăng
trưởng của doanh nghiệp. Một mặt có hiệu quả gián tiếp đối với người sử
dụng dịch vụ, đối với xã hội thể hiện ở lợi ích mang lại cho người sử dụng
dịch vụ và mức độ đóng góp của ngành cho ngân sách nhà nước.
Viettel ra đời khi mà VNPT đã là “người khổng lồ” về nhiều mặt,
Viettel tham gia vào thị trường bưu chính với dịch vụ CPN trong nước và
quốc tế đến nay đã định hình được mạng lưới rộng khắp, nhưng vẫn còn nhiều
bài toán khó về phát triển thị trường và phát triển dịch vụ cần phải làm. Việc
phát triển dịch vụ bưu chính nói chung cũng như dịch vụ CPN nói riêng là
điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại và phát triển của VTP trong môi
trường canh tranh gay gắt, hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất phát từ những yêu
cầu bức thiết đặt ra như trên nên em đã chọn đề tài : “Giải pháp phát triển thị
Hà Thị Loan Lớp KV16
1
Chuyên đề tốt nghiệp
* Phân loại dịch vụ chuyển phát nhanh:
Căn cứ vào vị trí địa lý, dịch vụ chuyển phát nhanh được chia làm hai
loại dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước và dịch vụ chuyển phát nhanh
quốc tế.
Dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước là dịch vụ chuyển phát nhanh
được cung cấp tại các bưu cục tỉnh, thành phố giữa người gửi và người nhận
có đủ điều kiện phục vụ theo quy định của VTP.
Dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế là loại dịch vụ chuyển phát nhanh,
quá trình thực hiện chuyển phát được tiến hành giữa người Việt Nam với các
nước khác theo thoả thuận giữa VTP và bưu chính các nước theo quy định
của liên minh bưu chính thế giới.
Hà Thị Loan Lớp KV16
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Căn cứ theo nội dung vật phẩm, hàng hoá dịch vụ chuyển phát nhanh
có thể phân loại như sau:
Dịch vụ chuyển phát nhanh chứng từ tài liệu…đây là dịch vụ chuyển
phát nhanh các loại giấy tờ, những loại giấy tờ này không bị đánh thuế, và do
đó ít khi phải làm thủ tục hải quan.
Dịch vụ chuyển phát nhanh gói hàng, kiện hàng đây là dịch vụ chuyển
phát nhanh các gói hàng, kiện hàng hay còn gọi là dịch vụ chuyển phát nhanh
các loại bưu kiện. những loại hàng này thường bị đánh thuế.
Dịch vụ chuyển phát nhanh các loại hàng nặng, cồng kềng. đối tượng
tham gia chuyển phát là các loại hàng hoá cồng kềng, hàng hoá đặc biệt.
* Các đặc tính cơ bản của dịch vụ chuyển phát nhanh:
Bưu phẩm chuyển phját nhanh được đặc biệt ưu tiên xử lý từ khi nhận
gửi đến khi phát, để chuyển bưu phẩm tới người nhận trong thời gian ngắn
nhất
Dịch vụ chuyển phát nhanh được phục vụ ngay tại địa chỉ người gửi
(nếu người gửi yêu cầu), phát đến tận tay người nhận, phát theo địa chỉ được
Ngày nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển và nó mang lại lợi
ích cho khách hàng ngày càng nhiều, do vậy nhu cầu sử dụng dịch vụ của
khách hàng ngày càng tăng lên, nhu cầu có xu hướng không dừng lại ở các
dịch vụ bưu chính truyền thống, người tiêu dùng ngày càng yêu cầu phải có
các dịch vụ thuận tiện hơn, chất lượng tốt hơn, vì thế các doanh nghiệp phải
không ngừng phát triển thêm các dịch vụ mới, trong đó có dịch vụ CPN.
Công tác quản lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, các doanh
nghiệp ngày càng phức tạp, nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng nhiều theo
xu hướng phát triển của nền kinh tế. Họ là những đối tượng khách hàng lớn
có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển phát nhanh thường xuyên, với khối lượng
lớn, dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN đối với những đối tượng này ngày
càng tăng lên. Đối với những khách hàng làm quan hệ kinh tế, các quan hệ
giao lưu, trao đổi hàng hoá ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN
như bưu phẩm, bưu kiện là rất lớn. Như vậy nền kinh tế ngày càng phát triển,
Hà Thị Loan Lớp KV16
5
Chuyên đề tốt nghiệp
đời sống người dân ngày càng cao thì nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN ngày
càng tăng lên.
3.2. Tình hình đáp ứng nhu cầu dịch vụ CPN ở Việt Nam hiện nay.
Dịch vụ CPN là một dịch vụ có chất lượng cao, nó có mặt trên thị
trường chỉ một khoảng thời gian gần đây nhưng nó đã gây dựng được thương
hiệu trên thị trường và đáp ứng được hầu hết các khách hàng có nhu cầu sử
dụng đặc biệt là các trung tâm thành phố phát triển thì dịch vụ CPN đã có
mặt. Các nhà cung ứng dịch vụ CPN nhanh kể cả trong nước và ngoài nước
họ có sự đầu tư cả về quy mô và chất lượng để đáp ứng ngày càng tốt hơn cho
nhu cầu sử dụng của khách hàng.
Hiện nay mạng lưới bưu cục có mở dịch vụ CPN được phát triển rộng
khắp trong cả nước, từ trung tâm thành phố cho đến huyện, xã có nền kinh tế
phát triển, các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài tạo thành mạng lưới
Việt Nam ta thấy thị trường dịch vụ CPN hứa hẹn nhiều triển vọng phát triển,
vì thế trong thời gian tới VTP phải tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh trong
nước và quốc tế, nâng cao chất lượng dịch vụ, áp dụng khoa học kĩ thuật tiên
tiến vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khắc phục những điểm yếu, phát huy
những điểm mạnh, tận dụng cơ hội và khắc phục nguy cơ để nâng cao hiệu
quả kinh doanh, đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng cũng
như góp phần nhỏ của mình vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
II. Nội dung phát triển thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh.
1. Nghiên cứu thị trường, xác định cơ hội phát triển dịch vụ chuyển phát nhanh.
1.1. Nghiên cứu thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh.
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên của bất kỳ nhà kinh doanh
nào hoạt động trong cơ chế thị trường theo phương trâm hướng về thị trường,
coi thị trường là đối tường chủ yếu của các hoạt động tiếp thị.
Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu thị trường là thu thập và xử lý thông
tin về thị trường nhằm xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp. Căn cứ vào kết quả xử lý thông tin thị trường mà doanh nghiệp có cơ
sở khoa học khách quan để đề ra những chính sách tiếp thị thích hợp ( phân
Hà Thị Loan Lớp KV16
7
Chuyên đề tốt nghiệp
đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu, xác định 4 chính sách: sản
phẩm, giá cả, xúc tiến, yểm trợ ) nhằm nâng cao khả năng thích ứng của sản
phẩm với thị trường luôn luôn biến động, bằng cách nào đó doanh nghiệp mới
có thể củng cố, giữ vững thị trường giá cả và mở rộng, chiếm lĩnh thị trường
mới.
* Quá trình nghiên cứu thị trường: có thể chia qua trình nghiên cứu thành 4
giai đoạn sau: Xác định vấn đề cần nghiên cứu - kế hoạch nghiên cứu - thực
hiện nghiên cứu - chuẩn bị và trình bày báo cáo.
• Xác định vấn đề nghiên cứu:
Trong giai đoạn này cần phải xác định mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề
ngắn gọn, rõ rang, chính xác, cung cấp đủ thông tin cần thiết. Cấu trúc của
một báo cáo bao gồm các phần: trang nhan đề, mục lục, lời giới thiệu, tóm tắt
các nội dung thực hiện, phương pháp luận áp dụng trong nghiên cứu, kết quả
nghiên cứu, kết luận và đề xuất, phụ lục.
* Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu thị trường có nội dung rất phong phú,
tuy vậy chúng ta có thể chia nó thành mấy vấn đề sau đây:
• Thăm dò thị trường:
Các nghiên cứu thăm dò thị trường có mục tiêu thu thập và xử lý các
thông tin thị trường về những vấn đề: Khối lượng sản phẩm, dịch vụ cung
cấp trên thị trường ( của doanh nghiệp, của các đối thủ cạnh tranh ); Tình
hình cung cấp trên thị trường các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp quan
tâm; Tìm hiểu chiến lược, các chính sách Marketing của các đối thủ cạnh
tranh, so sánh với chiến lược, các chính sách Marketing của doanh nghiệp;
Phân tích mặt mạnh mặt yếu của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh; Các
sản phẩm thay thế và giá cả của nó; Tìm hiểu môi trường kinh doanh của đơn
vị, tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương…; Thu nhập
Hà Thị Loan Lớp KV16
9
Chuyên đề tốt nghiệp
bình quân trình độ văn hoá, tuổi tác, thị hiếu, thói quên của người tiêu
dùng…
Ví dụ: Tìm hiểu hệ thống phân phối vận chuyển bưu phẩm chuyển phát
nhanh của các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh
nhằm xác định mặt mạnh, mặt yếu trong hệ thống đó. Tìm hiếu các chính
sách Marketing của các công ty lớn như TNT, DHL đang cạnh tranh với bưu
điện để lựa chọn chiến lược cạnh tranh. Tìm hiểu về nhu cầu về dịch vụ
chuyển phát nhanh ở các địa bàn để có quyết định mở dịch vụ này khi có nhu
cầu cao. Tìm hiểu mức độ hiểu biết, mức đọ thoả mãn của khách hàng đối
với dịch vụ chuyển phát nhanh.
• Thử nghiệm thị trường:
Ví dụ: Để phân đoạn thị trường theo mức độ sử dụng, ta phải có số liệu thống
kê về doanh thu, sản lượng của từng khách hàng hàng ngày, hàng tháng, hàng
quý, hàng năm.
• Dự báo thị trường:
Nhằm vạch ra những xu thế phát triển trong tương lai của những yếu
tố thị trường để đề ra những chính sách thích hợp. Một trong những bài toán
quan trong nhất của dự báo thị trường là, dự báo doanh thu, sản lượng của
các sản phẩm, dịch vụ, vì các chỉ tiêu này có vai trò quan trọng quyết định
đến toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp. Ví dụ: dự báo về doanh thu dịch vụ
chuyyển phát nhanh sau 2 năm.
* Thu thập thông tin thị trường: để nghiên cứu thị trường thì vấn đề đầu tiên
là phải thu thập thông tin cần thiết. Có hai phương pháp thu thập thông tin đó
là phương pháp bàn giấy và phương pháp nghiên cứu thị trường.
• Phương pháp bàn giấy:
Người nghiên cứu có thể ngồi tại bàn giấy để tiến hành nghiên cứu, không
phải ra thị trường, muốn vậy người nghiên cứu phải sử dụng những thông tin
Hà Thị Loan Lớp KV16
11
Chuyên đề tốt nghiệp
sẵn có khác nhau, không phải do tự mình điều tra. Thông tin này được gọi là
thông tin thứ cấp, có thể chia thông tin thứ cấp thành hai loại:
Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp: Đó là các số liệu thông tin
thường kì sẵn có ở các bộ phận tài chính, kế toán, thống kê.
Vídụ:số liệu thống kê về sản lượng doanh thu của từng loại nghiệp vụ theo
từng tháng, quý, năm cho ta cơ sở để đánh giá mức độ biến động của các chỉ
tiêu doanh thu, sản lượng của từng loại nghiệp vụ, đánh giá xu thế phát triển
của doanh thu sản lượng và dự báo giá trị của các chỉ tiêu này trong tương
lai.
Nguồn thông tin bên ngoài: Bao gồm nhiều nguồn khác nhau: nguồn
thông tin từ sách báo, các tạp chí kinh tế, thông tin kinh tế, thông tin thị
Thái độ chung của một khách hàng ( một nhóm khách hàng ) đối với
một loại sản phẩm là tổng hợp các đánh giá của họ về những đặc trưng khác
nhau của sản phẩm. Đánh giá thái độ chung đối với một sản phẩm dịch vụ
của một doanh nghiệp như ngành bưu chính có ý nghĩa rất quan trọng, vì thái
độ của khách hàng là nhân tố tác động mạnh mẽ đến hành động mua của họ
đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.
Ví dụ: đánh giá thái độ chung của một nhóm khách hàng đối với dịch vụ
chuyển phát nhanh của 3 đối thủ cạnh tranh là VNPT, VPT, SPT.
• Lập bảng kép:
Đây là một phương pháp phân tích thống kê được dùng nhiều trong
nghiên cứu thị trường. Bảng sau đây ghi kết quả điều tra số người chuyển
phát nhanh theo câu hỏi: Anh ( chị ) tuần qua có gửi chuyển phát nhanh không
Hà Thị Loan Lớp KV16
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Gửi chuyển phát nhanh Số % người gửi
Có 30
Không 70
Tổng 100
Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn về kết quả 30% số người được hỏi có gửi
chuyển phát nhanh và 70% không gửi (ví dụ: những yếu tố gì ảnh hưởng tới
lượng chuyển phát nhanh?) thì bảng này không đủ thông tin, người ta phải
dùng bảng kép để đưa thêm một số biến số mới là mức thu nhập của những
người được hỏi và cụ thể hoá nơi gửi. Ta có bảng sau:
Gửi CPN Thu nhập dưới 50$ Thu nhập trên 50$
Ở nhà Khi đi xa Ở nhà Khi đi xa
Có 0 16% 4% 60%
Không 100% 84% 96% 40%
Tổng 100% 100% 100% 100%
Như vậy bảng kép cho ta thấy mối liên hệ gữa thu nhập, nơi gửi và số
Phát triển thị trường thị trường theo chiều rộng là việc mở rộng thị trường
theo phạm vi địa lý, tăng quy mô sản xuất kinh doanh.
Phát triển thị trường theo chiều sâu là sự nâng cao chất lượng hiệu quả của thị
trường. Có ba hình thức phát triển theo chiều sâu: Thâm nhập thị trường, mở
rộng thị trường, cải tiến hàng hoá.
Phát triển kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu là khi doanh nghiệp có điều kiện
tiềm năng về vốn, cơ sở vật chất và năng lực quản lý có thể phát triển theo
hướng kết hợp phát triển thị trường theo chiều rộng và chiều sâu để mở rộng
quy mô kinh doanh tăng hiệu quả kinh doanh.
Hà Thị Loan Lớp KV16
15
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Lập chiến lược và kế hoạch phát triển thị trường.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại với một vị thế nhất định thì phải luôn
đề ra chiến lược và kế hoạch phát triển thị trường, để lập được chiến lược và
kế hoạch phát triển thị trường đúng đắn các doanh nghiệp cần làm những
công việc sau:
* Phân tích môi trường và các thông tin: Xây dựng chiến lược tối ưu phụ
thuộc rất nhiều vào sự am hiểu các điều kiện môi trường và ngành kinh doanh
mà doanh nghiệp tham gia. Các yếu tố môi trường có một ảnh hưởng sâu rộng
đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình hoạch định và thực thi chiến lược
phát triển thị trường, chiến lược phát triển thị trường cuối cùng phải được
hoạch định trên cơ sở thông tin môi trường đã tập hợp được. Môi trường tổng
quát mà ngành, doanh nghiệp gặp phải có thể chia thành 3 mức độ: môi
trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp, môi trường nội bộ.
Các yếu tố của môi trường vĩ mô gồm: kinh tế, chính trị, pháp luật, văn
hoá, xã hội, tự nhiên và yếu tố công nghệ…
Môi trường tác nghiệp bao gồm: các đối thủ cạnh tranh trong nước và
quốc tế, người mua và người bán trên thị trường, hàng hoá lưu thông trên thị
trường…
bộ phận trình, lãnh đạo tiến hành việc lựa chọn phương án chiến lược.
Lãnh đạo cần tập hợp đội ngũ chuyên gia để đánh giá các chiến lược.
Khi đánh giá chiến lược lãnh đạo phải trả lời được các câu hỏi: Chiến lược đề
ra có hiện thực và hiệu quả không? Chiến lược đề ra có thích hợp với doanh
nghiệp không? Chiến lược có thích hợp về nguồn vốn, vật chất và nguồn nhân
lực hay không? Thực hiện chiến lược có gặp rủi ro không?
Khi phân tích lựa chọn chiến lược có thể sử dụng 2 phương pháp:
Phương pháp trực tiếp so sánh các phương án chiến lược, phương pháp cho
Hà Thị Loan Lớp KV16
17
Chuyên đề tốt nghiệp
điểm từng phần và so sánh tổng số điểm của từng phương án để quyết định
lựa chọn.
4. Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển thị trường.
Xây dựng chiến lược mới chỉ hoàn thành một phần công việc, còn công
việc quan trọng và quyết định chính là tổ chức thực hiện chiến lược. Khi triển
khai và tổ chức thực hịên chiến lược phát triển thị trường lãnh đạo phải quán
triệt đầy đủ, sâu sắc tư tưởng và nội dung chủ yếu của chiến lược đến cán bộ
chủ chốt phải thực hiện. Phải có kế hoạch chi tiết, cụ thể về phân công và
phối hợp trong triển khai và thực hiện chiến lược, đồng thời quy định rõ thời
gian hoàn thành các nhiệm vụ được giao cho từng bộ phận.
Chiến lược triển khai và đi vào thực tế thông qua các chủ trương, chính
sách và kế hoạch phát triển thị trường. Việc cụ thể hoá các mục tiêu chiến
lược thành các quyết định thường ngày đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo cao.
Một mặt chúng ta phải bám sát chiến lược để triển khai thực hiện, mặt khác
cần tổng kết, đánh giá kịp thời khi thực hiện chiến lược để có sự điều chỉnh
phù hợp với thực tiễn.
5. Kiểm tra, đánh giá thực hiện chiến lược phát triển thị trường.
Để bảo đảm việc triển khai có hiệu quả , lãnh đạo cần phải xác định rõ
nội dung kiểm tra, định lượng kết quả đạt được, so sánh các kết quả với chiến
tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, khi thu nhập tăng lên đồng
nghĩa với sự tăng lên của nhu cầu tiêu dùng nói chung và sự tăng lên của nhu
cầu sử dụng dịch vụ CPN nối riêng. Cơ cấu tiêu dùng sẽ thay đổi theo hướng
tăng tỷ trọng tiêu dùng các dịch vụ xa xỉ khi thu nhập cá nhân tăng lên. dịch
vụ CPN là loại hình dịch vụ có chất lượng cao nên giá cước cũng cao hơn các
dịch vụ truyền thống khác, vì thế khi thu nhạp cá nhân tăng lên thì nhu cầu sử
dụng dịch vụ CPN cũng tăng theo.
Hà Thị Loan Lớp KV16
19
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Giá cước dịch vụ CPN.
Giá cả là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến nhu cầu sử
dụng dịch vụ, giá cả là một trong những yếu tố được khách hàng quan tâm
hàng đầu để đưa ra quyết định có tiêu dùng dịch vụ hay không, nó thể hiện chi
phí mà người tiêu dùng bỏ ra để đổi lấy một hàng hoá hay dịch vụ nào đó, nó
là tiêu chí được người tiêu dùng đem ra để so sánh với chất lượng sản phẩm
hàng hoá hay dịch vụ, so sánh với giá cả của cùng sản phẩm hay dịch vụ của
hãng khác…để đưa ra quyết định có nên tiêu dùng sản phẩm hàng hoá, dịch
vụ đó hay không. Vì vậy giá cước của dịch vụ CPN phải được điều chỉnh cho
phù hợp với chất lượng dịch vụ, với thị trường, với dịch vụ của đối thủ cạnh
tranh, nếu như có sự điều chính giá hợp lý thì sản lượng dịch vụ sẽ tăng cao,
nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN sẽ tăng.
Giá cước dịch vụ CPN đắt hơn nhiều so với các dịch vụ bưu chính
truyền thống khác ví dụ như “bưu phẩm bảo đảm”, “thư thư thường chẳng
hạn”. Cước phí này dùng để trang trải các khoản chi phí cho phiếu gửi, phong
bì, bao gói, công vận chuyển nhanh nhất, phát bưu phẩm đến tận nhà và giao
tận tay người nhận…giá cước dịch vụ chuyển phát nhanh phụ thuộc vào hai
yếu tố: khối lượng bưu phẩm và đoạn đường vận chuyển dài hay ngắn. Tuy
nhiên có những lúc khách hàng đặt mục tiêu nhanh chóng, chất lượng và hiệu
quả lên hàng đầu chứ không phải do chuyện tiền nhiều hay ít, do vậy điều
2.1. Các chính sách phát triển vĩ mô của nhà nước về phát triển cơ sở hạ
tầng, quy hoạch đô thị.
Để thực hiện việc cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh thì công việc
mà nhà cung cấp cần phải làm là xây dựng hợp lý các điểm phục vụ, tạo cơ sở
vật chất cần thiết để đáp ứng các yêu cầu dặt ra.
Để đưa ra được quyết định trên thì nhà cung cấp phải dựa trên các
chính sách vĩ mô của nhà nước về phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch đô thị
Hà Thị Loan Lớp KV16
21
Chuyên đề tốt nghiệp
để từ đó chủ động lập kế hoạch phân bổ điểm phục vụ của mình một cách hợp
lý, tránh tình trạng di chuyển.
Nếu các nhà cung cấp có kế hoạch đầu tư xây dựng phù hợp với chính
sách của nhà nước thì tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ
chuyển phát nhanh. Trong trường hợp nào đó nếu chính sách cơ sở hạ tầng,
quy hoạch đô thị của nhà nước đưa ra lại có bất lợi cho các địa điểm cung cấp
hiện có của họ buộc nhà cung cấp phải điều chỉnh và sẽ ảnh hưởng tới dịch vụ
chuyển dịch vụ chuyển phát nhanh.
2.2. Khả năng về vốn đầu tư cho phát triển mạng lưới vận chuyển, nâng cấp
cơ sở hạ tầng của nhà cung cấp dịch vụ.
Yếu tố vốn đầu tư ảnh hưởng lớn tới mức độ bao phủ của mạng lưới
dịch vụ.Các nhà cung cấp dịch vụ muốn mở thêm địa điểm mới hay nâng cấp
lại thì trước tiên đòi hỏi phải có vốn để bỏ ra trang trải cho các khoản chi phí
đó nếu vốn đầu tư của nhà cung cấp là tương đối lớn để xây dựng phát triển
mạng lưới vận chuyển của mình thì cung dịch vụ chuyển phát nhanh của họ sẽ
lớn, mạng lưới dịch vụ bao gồm: tổ chức mạng lưới cung cấp các dịch vụ
chuyển phát nhanh cho khách hàng, mạng Bưu cục phục vụ , bán kính và
doanh số phục vụ, thời gian phục vụ của các Bưu cục được bố trí tại mỗi vùng
miền khác nhau; tổ chức mạng vận chuyển để vận chuyển… nếu các đại lý,
điểm phục vụ được phân bố ở nhiều vùng, miền khác nhau trong nước thậm
nguồn vốn vững chắc thì nó là cơ sở để tạo lập nên các yếu tố khác.
Chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cung ứng
dịch vụ của các hãng, vì thế các nhà cung cấp dịch vụ phải kiểm soát được
các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ chuyển phát nhanh
Hà Thị Loan Lớp KV16
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương II: Thực trạng phát triển dịch vụ chuyển
phát nhanh của VPT.
I. Giới thiệu về công ty bưu chính Viettel.
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Giới thiệu về Công ty Bưu chính Viettel (Viettel post)
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Bưu chính Viettel là đơn vị
thành viên của Tổng Công ty Viễn thông Quân đội trực thuộc Bộ Quốc
Phòng, tiền thân là trung tâm Bưu chính Viettel được thành lập ngày
01/10/1997, Công ty Bưu chính ra đời với nhiệm vụ phát triển kinh tế, giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động.
Công ty Bưu chính Viettel hiện là nhà cung cấp dịch vụ Bưu chính
đứng thứ 2 tại Việt Nam, sau VNPT.
Tên công ty: CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN
BƯU CHÍNH VIETTEL
Tên gọi tắt: CÔNG TY BƯU CHÍNH VIETTEL
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0104000347
Do sở kế hoạch đầu tư TP Hà Nội cấp ngày: 25/01/2006, cấp thay đổi lần
2 ngày 07/08/2007.
Trụ sở chính của công ty đặt tại: số 1–Giang văn minh– Ba đình- Hà Nội
Điện thoại: (04)2660306 Fax: 069.822046
Email: Website: www.viettel.com.vn
Chủ sở hữu là: TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI
Công ty bưu chính viettel là một công ty kinh doanh dịch vụ, các dịch vụ
chính công cộng khác để cung cấp dịch vụ bưu chính: bưu phẩm (trừ thư tín),
bưu kiện và chuyển tiền trên phạm vi toàn quốc.
Hà Thị Loan Lớp KV16
25