Giải pháp phát triển thị trường dịch vụ CPN của VPT - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong những năm gần đây thị trường dịch vụ bưu chính đang có những
chuyển biến và thay đổi so với trước đây do tác động của việc hội nhập kinh
tế quốc tế, đặc biệt khi mà Việt Nam đã là thành viên của WTO, nhà nước ta
đã mở cửa cho các doanh nghiệp nước ngoài vào kinh doanh do vậy sự cạnh
tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn. Để tồn tại và phát triển trong môi trường kinh
doanh thay đổi, các doanh nghiệp bưu chính cần phải có sự điều chính cho
phù hợp, điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp phải cải tổ lại cơ cấu tổ chức,
cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả, hiện đại hoá, tạo ra các sản
phẩm mới, phát triển thị trường mới hướng tới hiệu quả cao và có thể cạnh
tranh bằng chính sức của mình.
Với vai trò là một ngành dịch vụ thuộc hạ tầng của nền kinh tế quốc
dân, hiệu quả của ngành bưu chính nói chung và của VPT nói riêng góp phần
làm cho nền kinh tế thị trường phát triển, đối với mọi lĩnh vực xã hội ngành
bưu chính một mặt có hiệu quả trực tiếp góp phần nâng cao, cải thiện đời
sống của cán bộ công nhân viên, bảo đảm sự hoạt động bền vững và tăng
trưởng của doanh nghiệp. Một mặt có hiệu quả gián tiếp đối với người sử
dụng dịch vụ, đối với xã hội thể hiện ở lợi ích mang lại cho người sử dụng
dịch vụ và mức độ đóng góp của ngành cho ngân sách nhà nước.
Viettel ra đời khi mà VNPT đã là “người khổng lồ” về nhiều mặt,
Viettel tham gia vào thị trường bưu chính với dịch vụ CPN trong nước và
quốc tế đến nay đã định hình được mạng lưới rộng khắp, nhưng vẫn còn nhiều
bài toán khó về phát triển thị trường và phát triển dịch vụ cần phải làm. Việc
phát triển dịch vụ bưu chính nói chung cũng như dịch vụ CPN nói riêng là
điều kiện tiên quyết đảm bảo sự tồn tại và phát triển của VTP trong môi
trường canh tranh gay gắt, hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất phát từ những yêu
cầu bức thiết đặt ra như trên nên em đã chọn đề tài : “Giải pháp phát triển thị
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trường dịch vụ CPN của VPT” làm chuyên đề tốt nghiệp. Nền kinh tế ngày

loại dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước và dịch vụ chuyển phát nhanh
quốc tế.
Dịch vụ chuyển phát nhanh trong nước là dịch vụ chuyển phát nhanh
được cung cấp tại các bưu cục tỉnh, thành phố giữa người gửi và người nhận
có đủ điều kiện phục vụ theo quy định của VTP.
Dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế là loại dịch vụ chuyển phát nhanh,
quá trình thực hiện chuyển phát được tiến hành giữa người Việt Nam với các
nước khác theo thoả thuận giữa VTP và bưu chính các nước theo quy định
của liên minh bưu chính thế giới.
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Căn cứ theo nội dung vật phẩm, hàng hoá dịch vụ chuyển phát nhanh
có thể phân loại như sau:
Dịch vụ chuyển phát nhanh chứng từ tài liệu…đây là dịch vụ chuyển
phát nhanh các loại giấy tờ, những loại giấy tờ này không bị đánh thuế, và do
đó ít khi phải làm thủ tục hải quan.
Dịch vụ chuyển phát nhanh gói hàng, kiện hàng đây là dịch vụ chuyển
phát nhanh các gói hàng, kiện hàng hay còn gọi là dịch vụ chuyển phát nhanh
các loại bưu kiện. những loại hàng này thường bị đánh thuế.
Dịch vụ chuyển phát nhanh các loại hàng nặng, cồng kềng. đối tượng
tham gia chuyển phát là các loại hàng hoá cồng kềng, hàng hoá đặc biệt.
* Các đặc tính cơ bản của dịch vụ chuyển phát nhanh:
Bưu phẩm chuyển phját nhanh được đặc biệt ưu tiên xử lý từ khi nhận
gửi đến khi phát, để chuyển bưu phẩm tới người nhận trong thời gian ngắn
nhất
Dịch vụ chuyển phát nhanh được phục vụ ngay tại địa chỉ người gửi
(nếu người gửi yêu cầu), phát đến tận tay người nhận, phát theo địa chỉ được
thoả thuận trước. Sau khi phát, phiếu báo phát ví ngày giờ phát và chữ ký của
người nhận sẽ được chuyển lại cho người gửi.
Người gửi có thể rút bưu phẩm, thay đổi họ tên địa chỉ người nhận,

các dịch vụ thuận tiện hơn, chất lượng tốt hơn, vì thế các doanh nghiệp phải
không ngừng phát triển thêm các dịch vụ mới, trong đó có dịch vụ CPN.
Công tác quản lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, các doanh
nghiệp ngày càng phức tạp, nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng nhiều theo
xu hướng phát triển của nền kinh tế. Họ là những đối tượng khách hàng lớn
có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển phát nhanh thường xuyên, với khối lượng
lớn, dẫn đến nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN đối với những đối tượng này ngày
càng tăng lên. Đối với những khách hàng làm quan hệ kinh tế, các quan hệ
giao lưu, trao đổi hàng hoá ngày càng nhiều, nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN
như bưu phẩm, bưu kiện là rất lớn. Như vậy nền kinh tế ngày càng phát triển,
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đời sống người dân ngày càng cao thì nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN ngày
càng tăng lên.
3.2. Tình hình đáp ứng nhu cầu dịch vụ CPN ở Việt Nam hiện nay.
Dịch vụ CPN là một dịch vụ có chất lượng cao, nó có mặt trên thị
trường chỉ một khoảng thời gian gần đây nhưng nó đã gây dựng được thương
hiệu trên thị trường và đáp ứng được hầu hết các khách hàng có nhu cầu sử
dụng đặc biệt là các trung tâm thành phố phát triển thì dịch vụ CPN đã có
mặt. Các nhà cung ứng dịch vụ CPN nhanh kể cả trong nước và ngoài nước
họ có sự đầu tư cả về quy mô và chất lượng để đáp ứng ngày càng tốt hơn cho
nhu cầu sử dụng của khách hàng.
Hiện nay mạng lưới bưu cục có mở dịch vụ CPN được phát triển rộng
khắp trong cả nước, từ trung tâm thành phố cho đến huyện, xã có nền kinh tế
phát triển, các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài tạo thành mạng lưới
rộng khắp trên cả nước, đảm bảo cho người tiêu dùng nếu có nhu cầu thì sẽ
được đáp ứng ngay.
Với chính sách mở cửa đảng và nhà nước ta việc kinh doanh dịch vụ
CPN không chỉ được các công ty trong nước cung cấp mà cồn khuyến khích
các công ty nước ngoài tham gia vào thị trường dịch vụ CPN ngày càng tăng,

như góp phần nhỏ của mình vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
II. Nội dung phát triển thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh.
1. Nghiên cứu thị trường, xác định cơ hội phát triển dịch vụ chuyển phát nhanh.
1.1. Nghiên cứu thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh.
Nghiên cứu thị trường là công việc đầu tiên của bất kỳ nhà kinh doanh
nào hoạt động trong cơ chế thị trường theo phương trâm hướng về thị trường,
coi thị trường là đối tường chủ yếu của các hoạt động tiếp thị.
Mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu thị trường là thu thập và xử lý thông
tin về thị trường nhằm xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp. Căn cứ vào kết quả xử lý thông tin thị trường mà doanh nghiệp có cơ
sở khoa học khách quan để đề ra những chính sách tiếp thị thích hợp ( phân
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu, xác định 4 chính sách: sản
phẩm, giá cả, xúc tiến, yểm trợ ) nhằm nâng cao khả năng thích ứng của sản
phẩm với thị trường luôn luôn biến động, bằng cách nào đó doanh nghiệp mới
có thể củng cố, giữ vững thị trường giá cả và mở rộng, chiếm lĩnh thị trường
mới.
* Quá trình nghiên cứu thị trường: có thể chia qua trình nghiên cứu thành 4
giai đoạn sau: Xác định vấn đề cần nghiên cứu - kế hoạch nghiên cứu - thực
hiện nghiên cứu - chuẩn bị và trình bày báo cáo.
• Xác định vấn đề nghiên cứu:
Trong giai đoạn này cần phải xác định mục tiêu nghiên cứu, các vấn đề
cần giả quyết, các thông tin đã có và các thông tin cần thu thập. Nghiên cứu
thị trường đòi hỏi chi phí, do vậy việc xác định mục tiêu nghiên cứu trước khi
tiến hành nghiên cứu là rất cần thiết. Lúc này người quản lý phải trả lời các
câu hỏi sau: Tôi cần phải ra quyết định gì? Những thông tin gì cần thiết để ra
quyết định ấy?
Ví dụ: khi quyết định tăng giá cước chuyển phát nhanh 24 h giữa Hà Nội và
TP. Hồ Chí Minh từ 3700 lên 5000 đồng. Quyết định mở một bưu cục mới tại

thông tin thị trường về những vấn đề: Khối lượng sản phẩm, dịch vụ cung
cấp trên thị trường ( của doanh nghiệp, của các đối thủ cạnh tranh ); Tình
hình cung cấp trên thị trường các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp quan
tâm; Tìm hiểu chiến lược, các chính sách Marketing của các đối thủ cạnh
tranh, so sánh với chiến lược, các chính sách Marketing của doanh nghiệp;
Phân tích mặt mạnh mặt yếu của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh; Các
sản phẩm thay thế và giá cả của nó; Tìm hiểu môi trường kinh doanh của đơn
vị, tình hình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương…; Thu nhập
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bình quân trình độ văn hoá, tuổi tác, thị hiếu, thói quên của người tiêu
dùng…
Ví dụ: Tìm hiểu hệ thống phân phối vận chuyển bưu phẩm chuyển phát
nhanh của các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh
nhằm xác định mặt mạnh, mặt yếu trong hệ thống đó. Tìm hiếu các chính
sách Marketing của các công ty lớn như TNT, DHL đang cạnh tranh với bưu
điện để lựa chọn chiến lược cạnh tranh. Tìm hiểu về nhu cầu về dịch vụ
chuyển phát nhanh ở các địa bàn để có quyết định mở dịch vụ này khi có nhu
cầu cao. Tìm hiểu mức độ hiểu biết, mức đọ thoả mãn của khách hàng đối
với dịch vụ chuyển phát nhanh.
• Thử nghiệm thị trường:
Nhằm thu được những thông tin thị trường cần thiết mà việc thăm dò
trực tiếp không thu được. Muốn vậy người nghiên cứu can thiệp vào thị
trường bằng cách thay đổi các biến số thị trường ( 4 chính sách Marketing )
sau đó tiến hành đo mức độ phản ứng của thị trường. Phương pháp thử
nghiệm thị trường dùng để nghiên cứu hai loại vấn đề:
Thứ nhất: Thử sản phẩm mới, nhắm gới thiệu với khách hàng một ý
niệm về sản phẩm mới, hay chính sách mới sau đó đnhs giá mức độ ưa thích
của khách hàng, khả năng mua của họ. Bằng cách này chúng ta có cơ sở để
tiến hành cải tiến sản phẩm, hoặc tung ra thị trường snr phẩm mới, đáp ứng

* Thu thập thông tin thị trường: để nghiên cứu thị trường thì vấn đề đầu tiên
là phải thu thập thông tin cần thiết. Có hai phương pháp thu thập thông tin đó
là phương pháp bàn giấy và phương pháp nghiên cứu thị trường.
• Phương pháp bàn giấy:
Người nghiên cứu có thể ngồi tại bàn giấy để tiến hành nghiên cứu, không
phải ra thị trường, muốn vậy người nghiên cứu phải sử dụng những thông tin
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
sẵn có khác nhau, không phải do tự mình điều tra. Thông tin này được gọi là
thông tin thứ cấp, có thể chia thông tin thứ cấp thành hai loại:
Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp: Đó là các số liệu thông tin
thường kì sẵn có ở các bộ phận tài chính, kế toán, thống kê.
Vídụ:số liệu thống kê về sản lượng doanh thu của từng loại nghiệp vụ theo
từng tháng, quý, năm cho ta cơ sở để đánh giá mức độ biến động của các chỉ
tiêu doanh thu, sản lượng của từng loại nghiệp vụ, đánh giá xu thế phát triển
của doanh thu sản lượng và dự báo giá trị của các chỉ tiêu này trong tương
lai.
Nguồn thông tin bên ngoài: Bao gồm nhiều nguồn khác nhau: nguồn
thông tin từ sách báo, các tạp chí kinh tế, thông tin kinh tế, thông tin thị
trường, vô tuyến, radio, niên giám thông kê, các tổ chức quốc tế…
Căn cứ vào các nguồn thông tin bên ngoài, doanh nghiệp có thể đánh
giá khái quát tình hình phát triển kinh tế quốc gia, thế giới nói chung, của các
ngành thậm chí các doanh các doanh nghiệp lớn, phát hiện những nhu cầu, cơ
hội kinh doanh mới.
• Phương pháp nghiên cứu hiện trường:
Nguồn thông tin thứ cấp nhiều khi không thoả mãn mục đích nghiên
cứu thị trường. Chẳng hạn khi doanh nghiệp muốn nghiên cứu hành vi, thái
độ, sở thích, thị hiếu, mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì những
loại thông tin này mang tính đặc thù không sẵn có. Do đó doanh nghiệp cần
tiến hành nghiên cứu hiện trường để thu thập thông tin, thông tin này gọi là

Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Gửi chuyển phát nhanh Số % người gửi
Có 30
Không 70
Tổng 100
Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn về kết quả 30% số người được hỏi có gửi
chuyển phát nhanh và 70% không gửi (ví dụ: những yếu tố gì ảnh hưởng tới
lượng chuyển phát nhanh?) thì bảng này không đủ thông tin, người ta phải
dùng bảng kép để đưa thêm một số biến số mới là mức thu nhập của những
người được hỏi và cụ thể hoá nơi gửi. Ta có bảng sau:
Gửi CPN Thu nhập dưới 50$ Thu nhập trên 50$
Ở nhà Khi đi xa Ở nhà Khi đi xa
Có 0 16% 4% 60%
Không 100% 84% 96% 40%
Tổng 100% 100% 100% 100%
Như vậy bảng kép cho ta thấy mối liên hệ gữa thu nhập, nơi gửi và số
lường người gửi CPN. Những người thu nhập dưới 50$ không bao giờ gửi
CPN khi ở nhà và chỉ một số rất ít ( 16% ) người được hỏi gửi CPN khi đi xa
( công tác, du lịch ). Ngược lại những người có thu nhập trên 50$ gửi CPN
nhiều khi đi xa.
1.2. Xác định cơ hội phát triển thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh.
Ngày nay chủ trương chính sách của đảng và nhà nước vẫn đang tiếp
tục bảo vệ các doanh nghiệp mới có cơ hội phát triển. Tốc độ phát triển kinh
tế và xu hướng mở cửa hội nhập nền kinh tế sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong công tác phát triển mở rộng thị trường, do vậy nhu cầu về dịch
vụ chuyển phát nhanh sẽ ngày càng tăng. Các chính sách kinh tế mới về thu
hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã tạo đà cho nền kinh tế Việt Nam
phát triển. Luật doanh nghiệp ra đời đã tạo một sân chơi lý tưởng cho các
doanh nghiệp trong việc tự do cạnh tranh, một hành lang pháp lý thông

kế hoạch phát triển thị trường đúng đắn các doanh nghiệp cần làm những
công việc sau:
* Phân tích môi trường và các thông tin: Xây dựng chiến lược tối ưu phụ
thuộc rất nhiều vào sự am hiểu các điều kiện môi trường và ngành kinh doanh
mà doanh nghiệp tham gia. Các yếu tố môi trường có một ảnh hưởng sâu rộng
đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình hoạch định và thực thi chiến lược
phát triển thị trường, chiến lược phát triển thị trường cuối cùng phải được
hoạch định trên cơ sở thông tin môi trường đã tập hợp được. Môi trường tổng
quát mà ngành, doanh nghiệp gặp phải có thể chia thành 3 mức độ: môi
trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp, môi trường nội bộ.
Các yếu tố của môi trường vĩ mô gồm: kinh tế, chính trị, pháp luật, văn
hoá, xã hội, tự nhiên và yếu tố công nghệ…
Môi trường tác nghiệp bao gồm: các đối thủ cạnh tranh trong nước và
quốc tế, người mua và người bán trên thị trường, hàng hoá lưu thông trên thị
trường…
Môi trường nội bộ gồm có: hệ thống tổ chức và nhân sự, các nguồn lực
có khả năng đâug tư và huy động, năng lực và trình độ tổ chức, các hoạt động
nghiệp vụ, ngành nghề và lĩnh vực hoạt động…
Nghiên cứu môi trường phải xác định được yếu tố nào của môi trường
tác động lớn đến hoạt động của doanh nghiệp, tác động thuận hay tác động
ngược, yếu tố nào có ảnh hưởng không đáng kể, yếu tố ảnh hưởng nhất thời
hay lâu dài đến doanh nghiệp. Khi xây dựng chiến lược cần xác lập nhu cầu
thông tin cần thiết và huy động hệ thống thu thập, xử lý thông tin, hoạt động
theo trật tự và thời gian được hoạch định trước.
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Xác định mục tiêu chiến lược phát triển thị trường: Muốn đề ra mục tiêu hợp
lý phải căn cứ vào phân tích môi trường, những kết quả chúng ta mong muốn
được cụ thể hoá trong mục tiêu và đích mà chiến lược vạch ra và hành động
nhằm vào, không nên coi mục tiêu chiến lược là duy nhất, cần phải xây dựng

triệt đầy đủ, sâu sắc tư tưởng và nội dung chủ yếu của chiến lược đến cán bộ
chủ chốt phải thực hiện. Phải có kế hoạch chi tiết, cụ thể về phân công và
phối hợp trong triển khai và thực hiện chiến lược, đồng thời quy định rõ thời
gian hoàn thành các nhiệm vụ được giao cho từng bộ phận.
Chiến lược triển khai và đi vào thực tế thông qua các chủ trương, chính
sách và kế hoạch phát triển thị trường. Việc cụ thể hoá các mục tiêu chiến
lược thành các quyết định thường ngày đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo cao.
Một mặt chúng ta phải bám sát chiến lược để triển khai thực hiện, mặt khác
cần tổng kết, đánh giá kịp thời khi thực hiện chiến lược để có sự điều chỉnh
phù hợp với thực tiễn.
5. Kiểm tra, đánh giá thực hiện chiến lược phát triển thị trường.
Để bảo đảm việc triển khai có hiệu quả , lãnh đạo cần phải xác định rõ
nội dung kiểm tra, định lượng kết quả đạt được, so sánh các kết quả với chiến
lược xác định các nguyên nhân sai lệch và đề ra biện pháp chấn chỉnh kịp
thời.
Chúng ta phải đề ra các biện pháp đối với bầt kỳ yếu tố hoặc kết quả
nào được coi là quan trong của chiến lược. Có thể sử dụng phương pháp kiểm
tra toàn diện và phương pháp kiểm tra điểm. một trong những nội dung then
chốt của công tác kiểm tra đánh giá chiến lược thương mại là phải xác định rõ
các nguyên nhân dẫn đến kết quả bị sai lệch so với chiến lược đề ra. Quá trình
kiểm tra đánh giá thực tế thực hiện cũng là quá trình xem xét, rà soát lại toàn
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
bộ chiến lược phát triển thị trường. Kết quả kiểm tra có thể khẳng định tính
đúng đắn của chiến lược phát triển thị trường đã xây dựng, kiểm định các mục
tiêu và giải pháp.
Cần phải tổ chức đánh giá những kết quả đã đạt được, những yếu kếm
còn tồn tại, đánh giá những thành tích, khen thưởng kịp thời những bộ phận
đạt kết quả cao trong thực hiện chiến lược, phátd hiện kịp thời những yếu kém
để chấn chỉnh. Điều quan trọng là phải đánh giá lại hệ thống tổ chức thực

phù hợp với chất lượng dịch vụ, với thị trường, với dịch vụ của đối thủ cạnh
tranh, nếu như có sự điều chính giá hợp lý thì sản lượng dịch vụ sẽ tăng cao,
nhu cầu sử dụng dịch vụ CPN sẽ tăng.
Giá cước dịch vụ CPN đắt hơn nhiều so với các dịch vụ bưu chính
truyền thống khác ví dụ như “bưu phẩm bảo đảm”, “thư thư thường chẳng
hạn”. Cước phí này dùng để trang trải các khoản chi phí cho phiếu gửi, phong
bì, bao gói, công vận chuyển nhanh nhất, phát bưu phẩm đến tận nhà và giao
tận tay người nhận…giá cước dịch vụ chuyển phát nhanh phụ thuộc vào hai
yếu tố: khối lượng bưu phẩm và đoạn đường vận chuyển dài hay ngắn. Tuy
nhiên có những lúc khách hàng đặt mục tiêu nhanh chóng, chất lượng và hiệu
quả lên hàng đầu chứ không phải do chuyện tiền nhiều hay ít, do vậy điều
quan trọng mà người kinh doanh dịch vụ CPN cần quan tâm hàng đầu chính
là chất lượng dịch vụ và đem lại sự hài lòng cho khách hàng.
1.3. Chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng
đến nhu cầu dịch vụ CPN khi mà giá cước dịch vụ được khách hàng chấp
nhận thì sự cân nhắc tiếp theo được khách hàng đặt ra, đó là chất lượng dịch
vụ đó ra sao có tốt không, có đảm bảo an toàn, chính xác và đáng tin cậy
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
không, khi đó khách hàng sẽ cân nhắc giữa số tiền bỏ ra với số tiển bỏ ra như
vậy có thoả đáng không? đặc biệt đối với dịch vụ CPN là dịch vụ có chất
lượng cao thì yếu tố này phải được coi trọng vì vậy các nhà cun g cấp dịch vụ
cần phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ mà mình cung cấp để đáp
ứng yêu cầu của khách hàng từ đó tăng sản lượng và tăng doanh thu.
1.4. Thói quen tiêu dùng của người dân.
Dịch vụ CPN là dịch vụ mới, có chất lượng cao, nó có nhiều ưu thế hơn
so với những dịch vụ truyền thống khác, những tiện ích của nó đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của khách hàng như nhanh chóng, an toàn, chính xác, có
một số cá nhân có tâm lý thích được thử nghiệm cái mới, nhất là sản phẩm

dịch vụ.Các nhà cung cấp dịch vụ muốn mở thêm địa điểm mới hay nâng cấp
lại thì trước tiên đòi hỏi phải có vốn để bỏ ra trang trải cho các khoản chi phí
đó nếu vốn đầu tư của nhà cung cấp là tương đối lớn để xây dựng phát triển
mạng lưới vận chuyển của mình thì cung dịch vụ chuyển phát nhanh của họ sẽ
lớn, mạng lưới dịch vụ bao gồm: tổ chức mạng lưới cung cấp các dịch vụ
chuyển phát nhanh cho khách hàng, mạng Bưu cục phục vụ , bán kính và
doanh số phục vụ, thời gian phục vụ của các Bưu cục được bố trí tại mỗi vùng
miền khác nhau; tổ chức mạng vận chuyển để vận chuyển… nếu các đại lý,
điểm phục vụ được phân bố ở nhiều vùng, miền khác nhau trong nước thậm
chí cả ra nước ngoài thì khả năng cung ứng của họ chắc hẳn sẽ cao hơn các
nhà cung cấp khác có điểm phục vụ ít hơn với mạng lưới hoạt động hẹp.
2.3. Sự phát triển của CM khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin trên thế
giới cũng như trong nước
Dịch vụ chuyển phát nhanh chất lượng cao vì thế trong quá trình khai
thác, vận chuyển, chia chọn… đòi hỏi phải sử dụng những công nghệ, kỹ
thuật hiện đại và không ngừng áp dụng những tiến độ kỹ thuật mới vào hoạt
động sản xuất kinh doanh. Vì thế trong xu thế của sự phát triển của cuộc
CMKHKT và Công nghệ diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, nếu biết
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
áp dụng kịp thời, linh hgoạt, phù hợp thì tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh, đó là cơ hội tốt cho việc nâng cao lượng
cung, bằng cách sử dụng những dây truyền, thiết bị tiên tiến các phương tiện
vận chuyển hiện đại.
Ví dụ: việc xuất hiện máy vi tính thì làm cho công việc của cán bộ công nhân
viên phục vụ thực hiện các công việc đơn giản hơn, gọn nhẹ hơn, nhanh
chong hơn…hiệu quả công việc cao hơn.
2.4. Khả năng xâm nhập thị trường dịch vụ chuyển phát nhanh của doanh
nghiệp khác.
Trong việc kinh doanh sự xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới là mối

Do sở kế hoạch đầu tư TP Hà Nội cấp ngày: 25/01/2006, cấp thay đổi lần
2 ngày 07/08/2007.
Trụ sở chính của công ty đặt tại: số 1–Giang văn minh– Ba đình- Hà Nội
Điện thoại: (04)2660306 Fax: 069.822046
Email: [email protected] Website: www.viettel.com.vn
Chủ sở hữu là: TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI
Công ty bưu chính viettel là một công ty kinh doanh dịch vụ, các dịch vụ
chính của công ty cung cấp bao gồm:
Chuyển phát nhanh trong nước và quốc tế.
Chuyến phát bưu phẩm, bưu kiện.
Hà Thị Loan Lớp KV16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phát hành báo chí.
Các dịch vụ viễn thông của Viettel
Ngày 02/01/2008 công ty còn đăng ký bổ sung thêm ngành nghề kinh
doanh sau: Cung cấp dịch vụ quảng cáo trên bao bì chuyển phát nhanh của
công ty, Kinh doanh dịch vụ kho bãi và các hoạt động hỗ trợ cho vận tải.
Quan điểm phát triển của Công ty là quan điểm hướng về thị trường,
coi lợi ích của khách hàng là mục tiêu hàng đầu với phương trâm “ khách
hàng là người trả lương cho chúng ta”. Hiện nay toàn thể cán bộ công nhân
viên của Công ty Bưu chính Viettel đang phấn đấu để góp sức đưa Viettel trở
thành nhà khai thác, cung cấp dịch vụ Bưu chính hàng đầu ở Việt Nam.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển.
* Năm 1997: Ngày1/7/1997 trung tâm Bưu chính thuộc Công ty Điện tử
viễn thông Quân đội (hiện nay gọi là Công ty Bưu chính Viettel thuộc Tổng
công ty Viễn thông Quân đội) chính thức triển khai dịch vụ phát hành báo chí.
Ban đầu, cơ cấu tổ chức, biên chế chỉ gồm 5 đồng chí, thị trường của công ty
thời giân đầu rất sơ khai, Công ty hợp đồng với 10 đầu mối báo đó là: Văn
phòng của Bộ quốc phòng, Văn phòng bộ Tổng Tham Mưu, Cục chính trị, Bộ
thông tin liên lạc và một số đầu mối tại khu vực Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status