TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
QUẢN
TRỊ
KINH
DOANH
CHUYÊN NGÀNH
KINH
DOANH
QUỐC
TẾ
0O0
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
Đề tài:
PHÁT TRIỂN
DỊCH vụ
NGÂN HÀNG
Hỗ TRỢ
CÁC
DOANH
NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ Ở
VIỆT
2009
MỤC LỤC
LỜI
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG
ì:
TỎNG
QUAN
VÈ
DỊCH
vụ NGÂN HÀNG
HỔ TRỢ
DOANH
NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ
3
1.1.
Vị trí và
vai
trò của
doanh
nghiệp
vừa và nhỏ
trong
nền
kinh
tế
.
Các
dịch
vụ ngân hàng hỗ
trợ
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
9
1.2.1.
Khái niệm
dịch
vụ
ngân hàng
9
1.2.2.
Đặc
điểm
dịch
vụ
ngân hàng
11
1.2.3.
Các hại
dịch
vụ
ngân hàng cung cấp
cho
doanh nghiệp
hưạng
đến
việc
phát
triền
dịch
vụ
ngân hàng
hỗ
trợ
các
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
24
1.3.1.
Các yếu
tố
nhìn từ góc
độ
vĩ
mô 24
1.3.2.
Cácyếu
tố
xuất phát từ phía ngân hàng
26
1.3.3.
hiện
nay
29
2.1.1.
Năng lực cung cấp
của
các ngân hàng
29
2.1.2.
Các
yếu
tố tác đông
tới
khả
năng cung
cấp
dịch
vụ của
các
ngân hàng
thương
mại
Việt
Nam 38
2.1.3.
Quản
trị rủi
ro
xét
từ góc
với dịch
vụ huy
động
tiền
gửi
49
2.2.2.
Đối
với
dịch
vụ
tín
dụng
51
2.2.3.
Đối
với
dịch
vụ
thanh toán
59
2.2.4.
Các yếu
tố
ảnh
hưởng
tới
năng lực
tiếp
cận
ngân hàng
hỗ
trợ
doanh
nghiệp
vừa và nhỏ 68
2.3.1.
Hệ
thong pháp
luật
và quản
lý
Nhà
nước
68
2.3.2.
Vai trò
của
tổ
chức
hiệp
hội
ngành nghề và
tổ
chức có
liên
quan
71
2.3.3.
Cơ
DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 77
3.1.
Giải
pháp
từ
phía
các
ngân hàng
nhằm
phát
triển
dịch
vụ
ngân hàng
hỗ
trợ
doanh
nghiệp
vừa
và nhỏ 78
3.1.1.
Năng cao năng lực
của
các ngân hàng
78
3.1.2.
ứng
dụng phương pháp
tính
của
doanh nghiệp
vừa
và
nhỏ 83
3.2.2.
Nâng
cao
năng lực
xây
dựng
và
thẳm định các
dự án đầu tư
và
kế
hoạch
kinh doanh
của
doanh nghiệp
vừa
và
nhỏ 84
3.2.3.
Nâng
cao
hiểu
biết
của
doanh nghiệp
hỗ
trợ
doanh
nghiệp
vừa
và nhỏ 86
3.3.1.
Hoàn
thiện,
bố
sung các
quy
định pháp
luật
và
hệ
thống các
cơ
quan quản
lý
Nhà
nước
85
3.3.2.
Thành
lập
ngân hàng chuyên phục
vụ
các doanh nghiệp
vừa
mại Thế
giới
-WB:
Ngân hàng
Thế
giới
-
ADB: Ngân hàng
Phát
triển
Châu
Á
-FCI:
Hiệp
hội
Bao
thanh
toán
quốc
tế
-EU:
Liên
minh
Châu Âu
-
GATS:
Hiệp
định
Thương
mại
dụng
-
NHTM:
Ngân hàng thương
mại
-
NHTMCP:
Ngân hàng thương
mại cổ phửn
-
NHTMNN:
Ngân hàng thương
mại
nhà nước
-
NHCSXH:
Ngân hàng Chính
sách
Xã
hội
-
ĐBSCL:
Đồng bằng
Sông Cửu
Long
-
DNNN:
Doanh
nghiệp
nhà nước
BẢNG
BIỂU
Bảng
Ì:
Tỷ
lệ
doanh
nghiệp theo
quy mô
nguồn
vốn
giai
đoạn
2000
-
2006
Ì
Bảng
2:
Tỷ
lệ
doanh
nghiệp
phân
theo
quy mô
lao
động
giai
đoạn 2000 -
thương
mại
Việt
Nam
tính
đến
cuối
năm 2005 42
Bảng
6:
Cơ
cấu lao
động ở một
số
ngân hàng các nước năm
2004
42
Bảng
7:
Đánh giá
chất
lượng
nguồn
nhân
lực
ngành ngân hàng 43
Bảng
8:
Đánh
giá
động
của
một
số
ngân hàng 50
Biểu
đồ
3:
Dư nợ
tín
dụng
của
một
số
ngân hàng 55
Biểu
đồ
4:
Doanh
thu bao thanh
toán
nội
địa
và
quốc
tế
57
LỜI
MỞ
ĐẦU
cuối
tháng 8/2008
của
Bộ Kế
hoạch
và Đồu
tư,
cả nước
hiện
nay có
khoảng 350.000
doanh
nghiệp,
trong
đó
DNVVN
chiếm
trên
90%,
được đánh giá
là
thành
phồn
kinh
tế
năng động
nhất
và
có
đóng góp không nhỏ cho sự phát
Báo cáo thường niên
năm
2008
của
Cục
Phát
triển
DNVVN
-
Bộ Kế
hoạch
và
Đồu
tư.
Hạn
chế về vốn
khiến
hồu
hết
các
DNVVN
có công
nghệ
lạc hậu,
nguồn
nhân
lực
có trình
độ
chưa
nguồn vốn
kinh
doanh
và
quản
lý
tài
chính.
Tuy
nhiên,
theo
Báo cáo mới
nhất
của
Ngân hàng nhà nước
tổng
hợp số
liệu
từ
6
ngân hàng thương mại nhà
nước,
31 ngân hàng thương mại cổ
phồn
và
33
chi
nhánh ngân hàng nước ngoài
và
ngân hàng liên
xem
là
hiệu
quả
từ
các ngân hàng vẫn chưa
thực
sự
có
tác
dụng
với
các
DNVVN.
Xuất
phát
từ thực tế
trên,
em
quyết
định
chọn
đề
tài
nghiên cứu "Phát
triển
dịch
vụ ngân hàng hỗ
trợ
các
ra
những
nguyên nhân chủ
yếu
và
từ đó,
kiến
nghị
một số
giải
pháp phát
triển
dịch
vụ ngân hàng cho khu vực
kinh
tế
này.
Ì
2. Đối
tượng
và phạm
vi
nghiên
cứu
Khóa
luận
đề
cập
và
phân tích toàn
dịch
vụ
truyền
thông bao
gồm
dịch
vụ huy động
vốn,
dịch
vụ tín
dụng, dịch
vụ
thanh
toán,
nên đề
tài
sẽ
tập trung
nghiên cứu vào ba
loại
hình
dịch
vụ
trên.
Ngoài
ra,
các
dịch
vụ
kể trên được
tượng
là
các ngân hàng thương
mại.
3. Phương pháp nghiên
cứu
Khóa
luận phối
hợp sử
dụng
các phương pháp
luận,
phương pháp so sánh,
phân
tích,
thống
kê,
tổng
hợp
và
kế
thừa
có
chọn
lọc
các
kết
quả nghiên cứu trước
để xây
dựng
liệu
tham khảo, danh
mục các
chữ
viết tắt
và 3 chương như
sau:
Chương
ì:
Tổng
quan
về
dịch
vụ ngân hàng hỗ
trợ
doanh
nghiệp
vừa và nhỏ
Chương
li:
Thực
trạng
dịch
vụ ngân hàng hỗ
trợ
các
doanh
nghiệp
vừa
và
của
khoa
luận
này,
em
xin gửi
lời
cảm ơn
chân thành
tới
cô
giáo
hướng
dẫn
-
TS.
Nguyễn
Thu Thúy,
người
đã
trực
tiếp
giúp
đỡ
em
hoàn thành đề
tài
này.
Do còn
thiếu
đề
tài.
Vì
vậy,
em
rỷt
mong
nhận
được sự đóng góp
ý
kiến
của
thầy
cô và các bạn để có
thể
hoàn
thiện
khoa
luận
tốt
nghiệp
này.
2
CHƯƠNG
ì:
TỎNG
QUAN
VÈ
DỊCH
vụ NGÂN HÀNG
với
những
đổi
mới
và
phát
triển
vượt
bậc
của nền
kinh tế
cả
nước,
cộng
đồng
DNVVN
Việt
Nam
đựt
được
những
bước
chuyển
mình đáng kể về cả số lượng và quy
mô,
và đặc
biệt,
khu vực
kinh
tế
số 90/2001/NĐ-CP
ban
hành ngày
23/11/2001
về
trợ
giúp phát
triển
DNVVN.
Theo Nghị
định,
DNVVN
là một
cơ
sở sản
xuất
kinh
doanh
có
vốn
đăng
ký
không quá
lo tỷ
VND
(trên
600.000
USD)
hoặc
có
khác
biệt
cơ
bản
so
với
định
nghĩa
của
Việt
Nam
như
sau:
Thứ
nhất,
một
số
nước
trong
khu vực
có cách phân
chia
cụ
thể
và
chi
tiết
hơn.
Chảng
hựn,
người.[29]
Thứ
hai,
một số nền
kinh
tể
định
nghĩa
rõ
DNVVN
trong
từng lĩnh
vực
kinh
doanh
cụ
thể.
Chẳng hựn
như Hàn
Quốc, một
trong
những
nền
kinh
tế
năng động
nhất thế
giới,
cũng
sử
số
lao
động thường xuyên không quá 300
người.
3
-
Hoạt
động
trong
các ngành công
nghiệp
khác
hoặc
lĩnh
vực
dịch
vụ
có
số lao
động
dưới
50
người.[29]
Tóm
lại,
so
với
định
nghĩa
về
quy
mô
doanh
nghiệp
đối
với
các ngành,
lĩnh
vục khác
nhau.
Tiêu chí
về số
lao
động
bình quân
trong
năm
là một tiêu chí có tính
"động"
rất
lớn
do
hiện
tượng
lao
động
theo
mùa vụ ở
Việt
Nam
chính xác
về
DNVVN
theo
ngành
nghề
kinh
doanh.
Ngoài
ra,
cách định
nghĩa
của một số nền
kinh
tế
như Hàn Quốc tránh được tình
trạng
các
doanh
nghiệp
cùng
chỉ
số nhưng
khác
nhau
không nhỏ về năng
lực
và quy
mô
kinh
nhau.
Từ
đó,
có sự
thống nhất
trong
các chính sách hỗ
trợ
phát
triữn
DNVVN
và
tạo ra
sự
công
bằng
nhất
định
trong
mức
độ ưu
tiên
và đầu tư cho
khu
vực
doanh
nghiệp
này.
1.1.2.
Đặc
điều
tra
năm
2001
-
2007",
năm
2006
trên cả nước có
có
trên
131.300
DNVVN,
chiếm
khoảng
97%
tổng
số
doanh
nghiệp. Hiện nay,
con số
này được ước
lượng
khoảng 350.000
và
đến
hết
năm
2010
có
khởi
sự
Hiện nay, đối với
các ngành
nghề
kinh
doanh
không có
điều
kiện,
pháp
luật
không
có
quy định về số vốn pháp định
bắt buộc
và
số
lao
động
tối
thiữu
cần có.
Hơn
nữa,
theo
quy định pháp
luật
hiện
hành,
lĩnh
vực đòi
hỏi phải
có mức
vốn
pháp
định.
Do
đó,
DNVVN
được thành
lập
không
mấy
khó khăn.
Một
khía
cạnh
khác
trong
tính
chất
dễ
khởi
sự
của
các
DNVVN
là
việc
song
không
thực
sự rõ ràng
và
chưa
có
các hướng dẫn
thi
hành cụ
thớ từ
phía các
cơ
quan
chức
năng. Theo một nghiên cứu được
thực hiện
bởi
Chương trình Phát
triớn
Khu
vực
tư
nhân Mekong
năm
2005,
cho
thấy
trong
một
thớ
đóng
cửa,
ngừng
hoạt
động;
16% không rõ
trạng
thái;
6%
chính
thức
đóng
cửa;
và
chỉ
1%
trong
số
mẫu
nghiên cứu đã hoàn
tất
thủ tục
đóng cửa
doanh
nghiệp
một
cách chính
thức.
Như
hoạt
cao
Theo
báo cáo thường niên
năm
2008
của
Cục Phát
triớn
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ,
Bộ Kế
hoạch
và
Đầu
tư,
phần
lớn
DNVVN
hiện
nay
có
quy
mô
sản
xuất
nhỏ,
chóng mặt như
hiện nay,
vòng
đời sản
phẩm thường
rất
ngắn,
xu hướng tiêu
dùng
cũng
vì
thế
mà
thay đổi
nhanh
hơn.
Do
đó, khi
nhận
thấy
có sự
thay đổi
về
xu
hướng
tiêu dùng,
DNVVN
không
mấy
khó khăn đớ
trong
đó có
Việt
Nam. Tuy
nhiên,
phần
lớn
các
DNVVN
Việt
Nam
đều hình thành
từ sau
khi
nền
kinh
tế
nước
ta
chuyớn
đổi
được
rèn
luyện
và phát
triớn
trong
cơ
chế
thị
đời,
có
thể
nhanh
chóng
thay đổi
để thích
nghi với biến
động của môi trường
kinh
doanh.
1.1.2.2.
Nhược điểm
Bên
cạnh những
un
điểm
nổi bật
như
trên,
DNVVN
vẫn
tồn
tại
những
nhược
điểm
khó
khắc phục
xuất
tín dụng phổ
biến
và có
nguồn
lực
mạnh
nhất
ở
Việt
Nam
hiện nay.
Đặc
biệt,
ừong
bối
cành
khủng hoầng
kinh
tế,
mà
nguồn
gốc
sâu xa
là khủng
hoàng
túi
dụng,
các ngân hàng dường như
thận trọng
hơn
nhân
lực
thiếu,
trình độ chưa
cao
Trên
thực
tế,
tỷ
lệ
đổi
mới
trang
thiết
bị
trung
bình
hàng năm
của
Việt
Nam
chỉ
ở mức
5-7%
so
với
20%
của
thế
giới.
dịch
vụ hỗ
trợ
kinh
doanh.
Một
phần
là
do
chất
lượng
nguồn
nhân
lực thấp,
hạn chế về tình
độ
chuyên
môn,
tin
học, ngoại
ngữ
của
giám
đốc
và
đội
ngũ
quần lý doanh
nghiệp,
một
DNVVN
thường
hoạt
động sần
xuất
nhỏ,
không được đầu
tư
hiện
đại
khiến
chất
lượng sần phẩm khó đồng
đều,
năng
suất
lao
động không
cao.
Thực
tế
cho
thấy
rằng
hiện nay,
rất
ít
các
DNVVN
có
thủ
công
mỹ
nghệ,
thu
mua
chế biến
nông,
lâm,
thủy, hầi
sần hoặc nhận
các hợp đồng
gia
công
của
nước ngoài.
Không
tiếp
cận
được các
thị
trường giàu có và khó tính như Mỹ, EU,
Nhật là
hệ quầ
của việc
không
tận
dụng
được
lợi
chủ
thê
chủ lực
là
xí
nghiệp
quốc doanh
và hợp tác xã nay đã
trờ
thành một
cộng
đồng
kinh
doanh
đa
dạng,
tồn
tại
dưới
nhiều
hình
thức
pháp lý khác
nhau,
với
trên 90% là các
DNVVN.
Vai
ứò
của
kinh
tế
-
Cộng
đồng
DNVVN
là nơi huy
động
các nguồn vốn
và
sức
mạnh
của
xã
hội,
đóng góp vào
phát
triển
kinh
tế.
Ta
có
thể theo
dõi
bảng
số
liệu
sau để
thấy
rõ tịm
2003
2004
2005
2006
Tông sô
DNVVN
85,9
86,4 86,2
86,1
86,6
87,0
87,1
Tông
sô doanh
nghiệp
không
phải
là
DNVVN
14,1
13,6 13,8 13,9 13,4 13,0 12,9
Nguồn: Tống
cục
Thống
kê,
2007,
"Thực
trạng
doanh
nghiệp
của nền
kinh
tế.
Quá
trình huy
động
vốn của các
DNVVN
không
những
giúp
doanh
nghiệp
có
vốn sản
xuất
kinh
doanh
mà
còn
tạo ra
nguồn
thu
nhập
không nhỏ
cho
một bộ
phận
người
địu tư.
lao
động;
có
tổng
doanh
thu đạt
trên 2.750 ngàn
tỷ
VND;
tạo
ra lợi
nhuận
ròng
với
giá
trị
trên 168 ngàn tỷVND;
và
đóng góp trên 192 ngàn
tỷ
VND
vào
tổng thu
ngân sách Nhà nước
[3].
Như
vậy,
không
chỉ
đóng góp cho
phát
triển
kinh tế giữa
các
khu vực
khác
nhau
trên cả
nước.
Các
doanh
nghiệp
lớn, với
quy
mô
sản
xuất
lớn,
thường nhắm đến
những
thị
trường có
sức
tiêu
thỗ cao,
đặc
biệt
là các
đô
thị lớn.
tế,
tạo việc
làm,
nâng
cao
đời
sống
người
dân.
Các
DNVVN
góp
phần
tạo
nền
tảng
cho các
doanh
nghiệp
lớn
Với
đặc thù dễ
khởi sự,
các
DNVVN
được
coi
là
nơi rèn
luyện,
đầu
từ
những doanh
nghiệp
nhỏ.
Trên
thế
giới,
nhiều
tập
đoàn
nổi tiếng
trước đó không lâu
đều bắt
đầu
từ những doanh
nghiệp
siêu
nhỏ,
đặc
biệt
là
trong
lĩnh
vực
phần
mềm,
công
nghệ
thông
lai.
1.1.3.2.
Vai
trò
đoi
với
xã
hội
Tạo
việc
làm mới góp
phần
giảm
tỷ
lệ
thất
nghiệp
Bên
cạnh
vai
trò
đối với
nền
kinh
tế,
DNVVN
Việt
Nam
ngày càng đóng
vai
Đặc
biệt,
so
với
năm
2000 là 94,3%,
năm
2006
con số này đã tăng lên
97,2%.
Trong
thực
tế,
phần lớn lao
động nước
ta
đều
xuất
phát từ sản
xuất
nông
nghiệp,
trình độ và
tay
nghề
không
cao,
khó đáp ứng
những
yêu
đó
chủ yếu
là các
DNVVN.
8
Bảng
2:
Tỷ
lệ
doanh
nghiệp
phân
theo
quy
mô
lao
động
giai
đoạn
2000
- 2006
Đơn
vị:
%
Tỷ
lệ
%
2000
2001
2002
2007, "Thực trạng doanh nghiệp
qua
két
quả
điều
tra
năm
2001
-
2007"
DNVVN
giúp
giải
quyết
một
phần
các vấn đề xã
hội
Tạo
một số
lượng
việc
làm không nhỏ cho
lao
động nhàn
rỗi
ở
khu vực nông
thôn,
DNVVN
xã
hội
phát
sinh
từ
bộ
phận
thanh
thiếu
niên không
có
việc
làm. Thêm vào
đó,
khi tuyển
vào làm
việc,
không
ít
DNVVN
thường
phải
tổ chức
dạy
nghề
cho
người
lao
động,
tạo
xuất
hiện
sớm
nhất
trên
thế
giới.
Khởi
thủy
của
nó
là dịch
vụ
đổi
tiền,
đổi ngoại tệ lẩy
bản
tệ,
chiết
khấu
thương
phiếu
tại
Địa
Trung
Hải,
Hy
Lạp
và La Mã
cách
nơi ngân hàng
trờ
thành ngành công
nghiệp
hàng
đầu.
Ngày
nay,
Mỹ
với
vị
trí
là nền
kinh
tế lớn nhất thế
giới,
cùng
với
EU
đã
trở
thành nơi
dịch
vụ ngân hàng
phát
triển
mạnh
mẽ
nhất.
Ở
các văn bản pháp
luật
chính
thức
của
Việt
Nam,
Luật
Các
tổ
chức
tín
dụng
năm 1997 là văn bản
luật
Nhà nước đầu tiên
nhắc
đến khái
niệm
"dịch
vụ ngân hàng" nhưng không có
giải
thích rõ
ràng.
Cụ
thể,
khoản
7
điều
20
thanh
toán". Năm
2004,
Luật
Các
tổ
chức tín dụng
được sửa
đổi với
quy định rõ ràng và có
giải
thích
các
thuật
ngữ liên
quan
đến
hoạt
động ngân hàng
từ khoản
8 đến
khoản
15
điều
20.
Như
vậy, theo Luật
Việt
Nam,
dịch
tài chính,
được
một nhà
cung
cấp
dịch
vụ tài chính
cung
cấp.
Dịch vụ tài chính gồm
dịch
vụ
bảo
hiếm
và các
dịch
vụ liên
quan
đến bảo
hiểm,
dịch
vụ ngân hàng và các
dịch
vụ tài chính khác
(trừ
bảo
hiểm)".
Như
vậy
theo
dùng,
thế
chấp,
bao
thanh
toán và các
khoản tài
trợ
cho
các
giao
dịch
thương
mại
khác;
- Cho thuê
tài
chính;
-
Tất
cả các
khoản
thanh
toán và
chuyển
tiền,
bao gồm
thẻ
tín
dụng
tập
trung,
thanh
toán
ứên
thị
trường
OTC và các
loại
thanh
toán
khác.
- Phát hành các
loại
chứng
khoán,
bao gồm bảo lãnh phát hành và
đại
lý phát
hành
(kể
cả
phát hành công
khai
hoặc
không công
khai),
cung
ứng
dịch
thác,
lưu ký và
tín
thác;
- Dịch vụ
thanh
toán và
thanh
toán bù
trừ
đối với
các
tài sản tài
chính bao gồm
chứng
khoán,
các
sản
phẩm
phái
sinh
và các công
cụ
có
thể
chuyển
nhưững khác;
- Cung
cấp
và
khác có liên
quan
đến
tất
cả các
hoạt
động trên gồm cả
tham
chiếu
và phân tích
tín dụng,
nghiên cứu,
tư
vấn
đầu
tư,
tư
vấn
mua
lại
và cơ
cấu doanh
nghiệp.
Tóm
lại,
hiện
nay
Việt
Nam chưa có văn bản pháp
luật
và
phát
triển
dịch
vụ ngân hàng hỗ
trữ
các
DNVVN
Việt
Nam nói riêng còn gặp
nhiều
khó khăn.
1.2.2.
Đặc điểm
dịch
vụ ngân hàng
về mặt bản
chất,
dịch
vụ ngân hàng là một
loại
hình
dịch
vụ,
do
đó,
nó
cũng
mang
những
phẩm cụ
thể.
Thứ
hai,
dịch
vụ
mang
tính không
thể
tách
rời,
quá trình
cung
ứng
dịch
vụ
ngân hàng gắn
liền
với
hoạt
động tiêu dùng.
Chất
lưững
hàng hóa
dịch
vụ không
những
ở các khâu
chuẩn bị
mà còn
sản
xuất
dịch
vụ hàng
loạt,
lưu
giữ
trong
kho và
sau
đó mới
tiêu
dùng.
Mang
đặc
tính
riêng
của dịch
vụ ngân hàng
Ngoài
ra,
các sản phẩm
dịch
vụ ngân hàng còn
mang
những
đặc tính riêng
như có tính tương
đồng,
dễ
Nếu một
NHTM
vừa
thực
hiện
một
loại
dịch
vụ
nào
đó có
hiệu
quả,
lập
tức
có
thố
bị
các
ngân hàng khác
thực
hiện
theo.
Mặt
khác,
hoạt
động ngân hàng có tính
rủi
ro
cao
thố
thiếu
quyết
định
chi
phí của
dụng dịch
vụ ngân hàng.
1.2.3.
Các
loại dịch
vụ
ngân hàng cung
cấp
cho
doanh nghiệp
vừa
và
nhỏ
Như
đã
nêu
trong
phần
trên,
theo Luật
Công cụ
chuyốn
nhượng
Việt
nay.
1.2.3.1.
Dịch vụ huy động vốn
Dịch
vụ huy động vốn được
xem
là
dịch
vụ
cơ
bản
nhất
của ngân hàng
và
được
coi
là
ít
mang
tính
rủi
ro
hon các
loại
nghiệp
vụ
khác.
về hình
thức
và quy trình
tiến
hành các
hoạt
động
khác.
Ngoài
Luật
Công cụ
chuyốn
nhượng chính
thức
đề
cập
đến
dịch
vụ
huy
động
vốn,
NHNN
còn
ban
hành một
số
quyết
đinh về Quy
chế
tiền
gửi
tiết
vốn
hoạt
động
của
các
NHTM ở
Việt
Nam. Các ngân hàng
cũng
không
ngừng
đưa
ra
những
gói
sản
phẩm
huy
động
vốn
đa
dạng
nhàm
thu
hút khách hàng
dưới
các
loại
hình phổ
biến
những khoản
cho vay của ngân
hàng,
dưới
hình
thức
trực
tiếp
hoặc
gián
tiếp,
bao
gồm
cả cho thuê
tài
chính và bảo
lãnh.
Trong
12
đó, dịch
vụ cho vay
chiếm
tỷ
trọng
lớn nhất,
có
thể
chia
theo
thời
kinh
doanh
và
phục
vụ
đời sống.
Đối
với
khách hàng là các
DNVVN, NHTM
thường cho vay
để
sản
xuất
kinh
doanh
và
dưới
các hình
thức sau:
cho vay bổ
sung
vốn lưu
động;
chiết
khấu chứng tậ
có
giá;
bao
thanh
Nam
tiếp
cận
hiện
nay.
Cho
vay
bổ sung vốn lưu động
Đây
là
loại
cho
vay
mà
các
DNVVN
muốn
được thường xuyên
tiếp
cận
nhất.
Doanh
nghiệp
dùng chính
nguồn
thu
được sử
dụng tậ
vốn vay để
trả
duyệt
và ký họp
đồng;
thực
hiện
hợp
đồng.
Trong
quy trình
này,
cán bộ tín
dụng của
ngân hàng
sẽ
phàn
tích
khách hàng qua các khía
cạnh
như báo cáo
tài
chính,
năng
lực
sản
xuất
kinh
doanh,
uy
tín
khách
toán
khi
đến
hạn.
Kết
thúc hợp
đồng,
cán bộ
tín dụng sẽ
tổng
kết
lưu
trữ
thông
tin
cần
thiết
về doanh
nghiệp.
Đối
với
DNVVN,
hình
thức
cho vay
bổ
sung
vốn
lưu
động sẽ giúp
tăng
tỷ suất
lợi
nhuận.
Tuy
nhiên,
các ngân hàng thường có yêu cầu
về
quy trình
cho vay
khá
phức
tạp,
đòi
hỏi
cao
về
tài
liệu
tài
chính
doanh
nghiệp
cung
cấp,
nên hình
thức
này
trên
thực
13
hạn
thanh
toán cho
NHTM
để
nhận
lấy
một
khoản
tiền
bằng
mệnh
giá
trừ
đi
lợi
tóc
chiêt
khấu
và hoa
hồng phí.
Trên
thực tế nghiệp
vụ cho vay trên bộ
chứng từ
hàng
xuât thường được các ngân hàng xép vào nhóm
dịch
vụ riêng
hơn,
do
đối
tượng
chịu
trách
nhiệm
thanh
toán
ở
trường họp này là
các cá
nhân,
doanh
nghiệp
nước
ngoài.
Do
đó,
với
những
ngân hàng có quy
mô
hoạt
động
nhỏ,
chưa có
chi
nhánh, văn phòng
đại diện
đơn
giản,
thủ
tục
và
quy trình cho vay khá đơn
giản,
không
làm "đóng băng
vốn"
của ngân hàng,
và
ngân hàng
có
thể
xin
tái
chiết
khấu
tại
NHNN
khi
có
nhu
cầu. Tiền
cấp cho khách hàng
chiết
khấu
thường được
chuyển
giúp
doanh
nghiệp
quay
vòng
vốn nhanh
hơn để
sản
xuất
kinh
doanh.
Tuy
nhiên, nghiệp
vụ này cũng có
thể
mang
lại
một sổ
rủi
ro sau:
- Ngân hàng
có
thể
nhận
chiết
khấu những chứng
từ
có
giá
giả
động
kinh
doanh
nhỏ,
chưa
nắm
rõ
các quy định
của
pháp
luật
về
việc
phát hành và lưu thông các
chứng từ
có
giá,
có
thể
sẽ
khiến
những chứng từ
thực
sự có giá
trị trở
thành không họp pháp và không
được
ngân hàng
chấp nhận
chiết
thanh
toán là
nghiệp
vụ tín
dụng ngắn
hạn,
trong
đó,
NHTM
đứng
ra
thanh
toán
ngay
cho
doanh
nghiệp xuất
khẩu
một
phần
tiền
về hàng hóa
14
đã
bán
cho
nhà
nhập khẩu
và
sau
90% giá
trị
hóa
đơn,
và
ngăn
ngừa
rủi ro,
nhất
là đôi
với
các
doanh
nghiệp
không có
nhiều
kinh
nghiệm
và
thông
tin
về các
đối
tác nước ngoài.
Cho
vay
theo
hạn
mức
thấu
định.
ưu điểm
của
hình thức
này
là:
-
Đối với
DNVVN,
hạn
mức
thấu chi
cho
phép
doanh
nghiệp
có
những
thuận
lợi
đáng kể nhờ vào sự chủ
động,
linh
hoạt khi
sử
dụng,
giúp
cân
đối
ngân quỹ,
phải
dự
trữ
vốn
để
sẵn sàng
đáp ứng nhu cầu
cầu
cùa khách hàng
khi
hữ còn hạn
mức
tín dụng,
nhưng trên
thực
tế
hữ có
thể
không sử
dụng hoặc
không sử
dụng
hết
hạn
mức
đó.
Trong
khi đó,
ngân
hàng không được tính
các
DNVVN
tăng lên.
Cho
vay
thông
qua
nghiệp
vụ
phát hành
thẻ
tín
dụng
Ngân hàng
chấp
thuận
cho khách hàng được sử
dụng
số
tiền
vay
trong
phạm
vi
hạn
mức
túi dụng của
thẻ
để
thực hiện thanh
là một hình
thức
không còn mói
với
ngành ngân hàng
Việt
Nam,
tuy
nhiên hình
thức
này
vẫn
chưa
thực
sự
phát
huy
được
hiệu
quả của
nó
đối
với
các
DNVVN
Việt
Nam.
15
Cho
vay
Đặc
điểm
của
các hình
thức
cho vay
trung
và
dài
hạn như
sau:
- Cho
vay
trung
dài hạn
tài
trợ
thiếu
hụt
về
vốn
cố định cho
DNVVN.
- Cho
vay
trung
dài hạn
đáp ứng nhu
cầu
mua
nguồn
trồ
nợ
gốc,
chủ yếu là khấu hao.
-
Nghiệp
vụ cho vay
trung
dài hạn thường gắn
liền
với
các
dự án
đầu tư của
doanh
nghiệp,
có quy
mô
và
thời
gian thực
hiện
kéo
dài,
tính
chất
phức
tạp cao,
tiềm
điểm
của
từng
hình
thức
cho vay
trung
và dài
hạn.
Cho
vay
theo
dự
án đầu
tư
Có
nhiều
định
nghĩa
dự án đầu
tư,
nhưng xét trên phương
diện
dịch
vụ ngân
hàng
thì
dự án đầu tư
là
một
mục
tiêu
nhất
định.
Trên
thực
tế
hiện
nay,
hình
thức
cho vay
theo
dự án
đầu
tư
đối với
các
DNVVN
vẫn
chưa
thật
sự
phổ
biến
vì
một số lý
đo.
Trước
hết,
thời
gian
cho
quá
trình
thẩm
định.
Nguyên nhân
thứ hai
là
hầu
hết
các
NHTM
của
Việt
Nam
hiện
nay có
nguồn
vốn
không
lớn,
đội
ngũ chuyên
gia
đủ
trinh
độ
thẩm
rủi
ro lớn
khi tiếp
nhận
hồ sơ
vay của
DNVVN.
Tín
dụng tuần
hoàn
Là hình
thức
cấp tín
dụng
trung
và
dài hạn
của
NHTM,
trong
đó
vốn vay
sẽ
được
sỏ
dụng
cho
nhiều
chu
kỳ
lưu động.
-
Mức
cho vay được
quyết
định dựa trên
cơ sở
nhu cầu vốn
lưu
động của
doanh
nghiệp
trong
từng chu
kỳ.
-
Thời
hạn
của tín
dụng
tuần
hoàn có
thể
bao
gồm
một hay
nhiều chu
kỳ
kinh
doanh,
tiếp
tục thỏa
mãn
các tiêu
chuẩn
thì họp đồng
túi
dụng
sẽ
có
hiệu lực
ngay
sau
đó.
Trong
trường hợp các tiêu
chuẩn
không được
thỏa
mãn, thì
hợp
đồng túi
dụng
sẽ
chấm
dứt.
Tóm
lại,
về bản
chất,
Cho
vay
họp
vốn là
hình
thức tài
trợ,
trong
đó các
TCTD
cùng
tài
trợ
cho một
dự án. Việc
đồng
tài
trợ
do một
TCTD
(gọi
là
TCTD
khởi
xướng)
làm
đầu
mối, phối
hợp
các
trong
các trường hợp số vốn
mà
doanh
nghiệp
muốn
vay
vượt
quá
giới
hạn
tối
đa
cho
phép
cho vay của
ngân hàng.
Cho
vay
gián tiếp
Là hình
thức
cho vay qua các
tổ
chức
trung
gian
có uy
tín
như
này
cũng
có
thể
đứng
ra
tín chấp
cho các thành viên
vay hoặc
bảo lãnh
trong
trường
hợp
các thành viên không có
hoặc
không đủ
tài sản
thế
chấp.
Đây được
xem
là
mô
hình khá phù hợp
với
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
mà
còn nâng cao
vai
trò của các
tổ
chức
trung gian.
Các
tổ
chức
này chính là cầu
nội
cung
cấp thông
tin
cho ngân hàng,
hỗ
trợ hoạt
động của
các
doanh
nghiệp,
là
một
trong
những
nhóm
giải
pháp hữu
hiệu
như
sau:
"CAO
thuê
tài
chính là hoạt động
tín
dụng trung
và
dài
hạn
thông
qua
việc
cho
thuê
mảy
móc
thiết
bị,
phương
tiện
vận chuyển và các động sản khác
theo
yêu cầu cửa bên
thuê
và
nắm
giữ quyền sở
hữu
kiện
đã
thỏa thuận
trong
họp đồng
cho
thuê
tài
chính.
Cho
thuê
tài
chính
mang
lại lợi
ích
không
nh cho
các
DNVVN:
- Cho thuê
tài
chính giúp
DNVVN
tăng nâng
lực
sản
xuất
khi
thiếu
là một
việc
không dễ
thực
hiện.
Nhưng
với
cho thuê tài chính,
doanh
nghiệp
chỉ cần
trả
các
khoản
tiền
thuê
theo từng
thời
kỳ
thỏa thuận,
là
một
giải
pháp
rất
phù hợp
đội với
các
DNVVN
Việt
và dài hạn
của
các
NHTM
chi
tài
trợ
60 -
70%
tổng
giá
trị
thiết
bị,
trong
khi
đó, thuê tài chính giúp
doanh
nghiệp
18
được
tài
trợ
100%
tiền
vay
mà
không cần
thế
chấp
Củ
the,
doanh
nghiệp
đi thuê có khả năng
tối
đa
trong
việc
lựa
chọn
đổi
mới
thiết
bị,
mua
hoặc
trả lại
hay thuê
thiếp
tài sản
thiết
bị
khi kết
thúc hợp
đồng.
Các
khoản
tiền
thuê được tính như các
hạch
toán
ngoại
bàng,
cho
bên thuê
tài
chính
giữ
vững
vị thế tài
chính
hiện
tại
của doanh
nghiệp.
- Cho thuê
tài
chính còn giúp các
doanh
nghiệp
đi thuê nâng cao trình độ sản
xuất
kinh
doanh,
nâng cao năng
suất
và
chất
lượng
lãnh)
về
việc
bên bảo lãnh
thực hiện
nghĩa
vủ
tài
chính
thay
cho
bên được bảo
lãnh.
Khi doanh
nghiệp
không
thực hiện
đúng
nghĩa
vủ
cam
kết
với
bên
nhận
bảo
lãnh,
doanh
nghiệp phải
nhận
cho các
DNVVN
Việt
Nam
đặc
biệt
khi
các
doanh
nghiệp
này
thực hiện giao
dịch
với
các
đối
tác
lớn
ừên
thị
trường.
Được bảo
lãnh sẽ giúp các
DNVVN
Việt
Nam
tạo
thêm
mức độ
tin
nêu
ở
trên,
các ngân hàng thương mại
khi
đưa
ra
các gói
dịch
vủ
tín dủng của
mình thường
đi
kèm
với
các yêu
cầu
để
đảm
bảo
độ an toàn
của
các
khoản
vay,
giảm
rủi
ro
trong
quá trình