Câu 1: Định nghĩa và nội dung của định nghĩa vật chất của Lênin? Giá trị khoa học và ý nghĩa
phương pháp luận của định nghĩa?
*Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, V.I.Lênin đưa ra định
nghĩa kinh điển về vật chất như sau:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong
cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác.”
*Định nghĩa vật chất của Lênin có 3 nội dung cơ bản:
- Thứ nhất, cần phân biệt:
o Với tư cách là 1 phạm trù: vật chất là một phạm trù rộng nhất trong hệ thống các phạm
trù, là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính cơ bản nhất, phổ
biến nhất của mọi tồn tại vật chất nên nó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh
ra và không mất đi.
o Vật chất trong các khoa học cụ thể: chỉ những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó
có quá trình phát sinh, phát triển và chuyển hóa.
Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với vật thể hay một thuộc tính nào đó của vật chất.
- Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc
vào cảm giác”. Tức là tất cả những gì tồn tại ngoài cảm giác, ý thức, độc lập, khách quan, không
phụ thuộc vào ý thức của con người cho dù con người có nhận thức được nó hay không. Đây là
tiêu chí để phân biệt vật chất với phi vật chất.
- Thứ ba, “thực tại khách quan… phản ánh”: vật (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có
thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến các giác quan của
con người. Điều đó khẳng định, vật chất có trước, ý thức, cảm giác có sau; vật chất là nguồn gốc
khách quan của cảm giác, ý thức. Còn ý thức chẳng qua chỉ là hình ảnh của thế giới vật chất
được các giác quan của con người chép lại, chụp lại, phản ánh vào bộ óc người và cũng khẳng
định rằng, con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất.
*Định nghĩa này có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận sâu sắc đối với nhận thức khoa học
và thực tiễn, nhất là đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật:
- Định nghĩa đã bao quát cả 2 mặt của vấn đề cơ bản của P trên lập trường của chủ nghĩa duy vật
biện chứng;
- Chống lại những quan điểm duy tâm, siêu hình, nhị nguyên, bất khả thi… trong quan niệm về
Lao động là hoạt động đặc thù của con người, hoạt động bản chất người. Đó là hoạt động chủ động,
sáng tạo và có mục đích; là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên,
làm biến đổi giới tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
Nhờ có lao động, bộ não con người phát triển và ngày càng hoàn thiện, làm cho khả năng tư duy trừu
tượng của con người cũng ngày càng phát triển. Hoạt động lao động của con người đã làm cho bộ óc
người có năng lực phản ánh sáng tạo về thế giới; đồng thời hình thành và phát triển ý thức. Ý thức với
tư cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có được bên ngoài quá trình con người lao động làm
biến đổi thế giới xung quanh.
Lao động là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ.
Ngôn ngữ, hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ, ý
thức không thể tồn tại và thể hiện. Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu
đã mang tính tập thể. Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh nhu cầu phải có phương
tiện để giao tiếp, trao đổi tư tưởng. Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá
trình lao động. Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết,
đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là
nhân tố lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kích thích chủ yếu
đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, đã làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con
người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức.
*Bản chất ý thức
- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người; là hình ảnh chủ
quan của thế giới khách quan.
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm - sinh lý
của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý thông tin, lưu giữ
Trang 2
thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa
của thông tin được tiếp nhận.
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra
những ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, v.v… trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản
chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người.
Ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức đưa ra
nguyên tắc phương pháp luận sau: Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế
khách quan,tôn trọng khách quan đồng thời phải thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức phát huy
vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực sáng tạo của ý thức.
Trang 3
Câu 4: Phân tích các nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và
nguyên lý về sự phát triển (hoặc quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm
phát triển).
Câu 5: Hãy lấy 1 ví dụ thực tế trong đời sống hoặc trong học tập để phân tích sự vận dụng các
nguyên tắc phương pháp luận.
- Trong thế giới có vô vàn các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau. Vậy giữa chúng có
mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng
có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó? Trong lịch sử triết học, để trả lời những câu
hỏi đó, ta thấy có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại
biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia. Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng
buộc và quy định lẫn nhau. Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề
ngoài, mang tính ngẫu nhiên. Tuy vậy, trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số
người cho rằng, các sự vật, hiện tượng có mối quan hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng phong phú,
song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng hạn giới vô cơ và
giới hữu cơ không có mối liên hệ gì với nhau, tồn tại độc lập không thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn
giản của những con người riêng lẻ tạo thành xã hội đứng yên không vận động
Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện tượng và các quá trình
khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau. Chẳng hạn, bão từ
diễn ra trên mặt trời sẽ tác động đến từ trường của trái đất và do đó tác động đến mọi sự vật, trong đó
có con người; sự gia tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế, xã hội, giáo dục y tế.v.v; môi
trường ảnh hưởng to lớn đến con người không chỉ trong một nước mà trên toàn thế giới và ngược lại,
hoạt động của con người cũng tác động, ảnh hưởng làm biến đổi môi trường.
Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm cho rằng cái quyết định mối quan hệ, sự
phạm trù mới có thể phản ánh đúng hiện thực luôn vận động và phát triển.
Sự phát triển còn có tính đa dạng phong phú. Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của
mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau,
tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau. Đồng thời trong quá trình phát triển của mình,
sự vật còn chịu sự tác động của các hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố khác. Sự tác động đó có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng của phát triển
của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi. Chẳng hạn, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể
chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều
kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Hay trong thời đại hiện nay, thời gian công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước của các quốc gia chậm phát triển và kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã
thực hiện chúng do được thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước. Song vấn đề
còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại phụ thuộc rất nhiều vào
các nhà lãnh đạo và nhân đân của các nước chậm phát triển và kém phát triển.
Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật hiện tượng có thể có những giai đoạn vận động đi lên
như thế này hoặc như thế khác nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh hướng
chung.
- Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển có thể rút
ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực.
Vì bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác và mối
liên hệ rất đa dạng phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm
toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận
về bản chất hay về tính quy luật của chúng.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận,
giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật
khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng
về sự vật. Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức của khoa học triết học, chúng ta còn phải
tìm ra mối liên hệ của tri thức triết học với tri thức khoa học khác, với tri thức cuộc sống và ngược lại,
vì tri thức triết học được khái quát từ tri thức của các khoa học khác và hoạt động của con người, nhất
là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội.
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến
và hoạt động thực tiễn của chúng ta. Nếu chúng ta tuyệt đối hoá nhận thức, nhất là nhận thức khoa học
về sự vật hay hiện tượng nào đó thì các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn sẽ không thể
phát triển và thực tiễn sẽ dậm chân tại chỗ. Chính vì thế, chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ lực
của bản thân trong việc hiện thực hoá quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục
vụ nhu cầu, lợi ích của chúng ta và của toàn xã hội .
Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý
điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển. Một
luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa
học trong điều kiện khác. Chẳng hạn, thường thường trong các định luật của hoá học bao giờ cũng có
hai điều kiện: nhiệt độ và áp suất xác định. Nếu vượt khỏi những điều kiện đó định luật sẽ không còn
đúng nữa. Trong lịch sử triết học khi xem xét các hệ thống triết học bao giờ chúng ta cũng xem xét
hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ thống đó .
Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể,
Trang 6
quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo
hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta cần nắm chắc
cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận
dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình.
Câu 6: Trình bày nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay
đổi về chất và ngược lại. Hãy lấy ví dụ cụ thể và phân tích ví dụ đó theo phương pháp luận được
rút ra từ quy luật này.
*Vị trí qui luật:Đây là 1 trong 3 qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó phản ánh về cách thức
của sự vận động phát triển của tất thảy mọi sự vật hiện tượng diễn ra đi từ những thay đổi về lượng đến
sự thay đổi về chất.
*Các khái niệm.
-Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ về tính qui định vốn có của các sự vật hiện tượng, là sự thống
nhất hữu cơ các thuộc tính nhằm nói lên sự vật đó là cái gì và phân biệt nó với các sự vật hiện tượng
khác.
-Lượng là phạm trù triết học chỉ về tính qui định vốn có của sự vật,lượng phản ánh về trình độ qui mô
tốc độ vận động phát triển của sự vật, phản ánh về số lượng các thuộc tính của các sự vật ít hay nhiều.