Tài liệu Kỹ thuật nuôi cá chim trắng - Pdf 10

Kỹ thuật nuôi cá chim
trắng

Đặc điểm sinh học của cá chim trắng nước ngọt
Cá chim trắng nước ngọt, có tên khoa học là Colossoma
brachypomum, thuộc Bộ Characiformes, Họ Characidae.
Trong khi đó cá hổ hay còn gọi là cá cọp hoặc cá Piranha có
tên khoa học làPygocentrus praya cũng thuộc
bộ Characiformes, họ Characidae nhưng khác giống và khác
loài. Cá cọp là loài cá dữ, ăn động vật, đã bị Bộ Thuỷ sản xác
định là loài cá gây hại khi chúng được nhập lậu vào Việt
Nam năm 1998 và đã bị nghiêm cấm nhập khẩu và gây nuôi.
Đặc điểm sinh học của cá chim trắng nước ngọt
Cá chim trắng nước ngọt được nhập vào Việt Nam từ năm
1998. Ðến năm 2000, việc cho sinh sản nhân tạo cá theo quy
trình công nghệ sản xuất giống cá của Trung Quốc đã thành
công. Cá sống trong môi trường nước có nhiệt độ từ 21 -
32
0
C, nhưng thích hợp trong khoảng từ 28 - 30
0
C. Cá chim
trắng nước ngọt chịu nhiệt độ thấp tương đối kém, dưới 10
o
C
có biểu hiện không bình thường và chết, lúc này cá giống rất
dễ mắc bệnh trùng quả dưa, trùng bánh xe, nấm. Cá chim có
thể sống bình thường ở độ mặn dưới 5 - 10, cá chết ở độ mặn

chim trắng nước ngọt như Trung Quốc, Ðài Loan, Thái Lan
và cả ở Việt Nam.
So với một số loài cá khác, cá chim trắng nước ngọt lớn rất
nhanh. Trung bình, cá có thể tăng trọng 100 g/tháng. Trong
điều kiện thích hợp, sau 6 đến 7 tháng nuôi, cá có thể đạt từ
1,2 - 2 kg/con. Cá có thể sống đến 10 năm tuổi.
Qua kết quả khảo sát và nghiên cứu mẫu cá thu được trong ao
nuôi tại xã Ðắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Ðồng Nai, chúng ta
có thể đi đến kết luận sau :
- Mẫu cá thu được tại xã Ðắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Ðồng
Nai là loài cá chim trắng nước ngọt, có tên khoa học
là Colossoma brachypomum. Chúng không phải là loài cá hổ,
hoặc cá cọp.
- Cho đến nay, chưa ai bắt gặp loài cá này ngoài thủy vực tự
nhiên.
- Cá chim trắng nước ngọt là loài nhập nội, hiện đang được
nuôi thử nghiệm, có kiểm soát trong quá trình nuôi.
Tuy nhiên, do tập tính ăn tạp, phàm ăn, săn mồi theo bầy,
việc nuôi khảo nghiệm, hoặc nuôi thương phẩm loài cá này
chỉ nên giới hạn ở những vùng được xem là an toàn, có điều
kiện che chắn (đê bao, đăng, lưới.). Không nên phát triển
nuôi ở những vùng có lũ lụt thường xuyên và không có điều
kiện kiểm soát con giống thả nuôi và những vùng nhạy cảm
về sinh thái.
Nguyễn Mạnh Hùng (Viện NC NTTS 2) - Tạp chí KHCN TS,
7/2003

Nuôi cá chim trắng
Yêu cầu ao nuôi:
- Diện tích tuỳ thuộc thực tế, nhưng tối thiểu cũng 500m

bón và bổ sung nước mới vào ao cho phù hợp, thường 1 tuần
thay nước 1 lần, mỗi lần thay 1/3 nước cũ trong ao
- Cắm 1 thước đo mực nước trong ao (làm bằng cây tre có
khắc từ 100-200cm, luôn duy trì mực nước trong ao 1,2-
1,5m.
- Bón phân cho ao cá: Phân chuồng ủ 10-15kg/100 m
2
/7
ngày khi thấy nước ao có màu xanh lá chuối non là đạt yêu
cầu.
- Hàng ngày cho cá ăn vào 8 giờ sáng và 4 giờ chiều. Nên có
sàn cho cá ăn để thuận lợi trong việc điều tiết lượng thức ăn
cho phù hợp không để dư thừa thức ăn ảnh hưởng tới môi
trường ao nuôi.
- Thức ăn xanh cho cá chim trắng là: Bèo tấm, lá rau các
loại
- Các loại thức ăn tinh khác: Có thể dùng cám gạo, bột ngô,
bột sắn, khoai, bã rượu, bã đậu, chất thải lò mổ khối lượng
cho ăn hàng ngày được tính theo trọng lượng đàn cá thả
(ước lượng):
+ Tháng 3-6 lượng thức ăn từ 5-8% trọng lượng đàn;
+ Tháng 7-8 lượng thức ăn cần từ 4-6% trọng lượng đàn;
+ Tháng 9-10 lượng thức ăn cần 3-5% trọng lượng đàn;
+ Tháng 11 trở đi lượng thức ăn cần 2-3% trọng lượng đàn:
Thu hoạch: Có thể thu tỉa những con to từ tháng 8 trở đi
khi trọng lượng mỗi con từ 0,5 kg/con. Nếu thu toàn bộ cá
trong ao, phải rút bớt nước, dùng lưới kéo 2-3 mẻ thu dần
cá, sau đó bơm cạn và bắt hết. Tu sửa ao tôn cao bờ, sửa
đăng cống, làm vệ sinh ao, chuẩn bị cho vụ nuôi cá mới
(lưu ý đây là quy trình nuôi cá chim trắng bán thâm canh).

chính vụ (chọn những con đẻ róc cho vào nuôi vỗ tái phát),
kéo dài 40 - 50 ngày.
5. Mật độ, tỷ lệ cá đực, cá cái đưa vào nuôi vỗ:
- Mật độ nuôi vỗ từ 20 - 25 con/1.000m2.
- Tỷ lệ cá đực : cá cái là 1,2 : 1.
6. Chăm sóc, quản lý ao nuôi vỗ:
- Chế độ cho ăn: Trong thời gian nuôi vỗ cho ăn thức ăn
phối chế theo công thức: khô dầu lạc: 23%, bột cá nhạt:
30%, bột đậu tương: 20%, cám ngô:5%, cám gạo: 5%, muối
ăn + các chất khoáng: 2%, nhộng tằm hoặc ốc sên: 15%.
- Cho cá ăn thêm bột mỳ trộn thành từng nắm để hạn chế
thức ăn tan trong nước.
- Lượng thức ăn tinh cho ăn từ 5 - 6% trọng lượng thân
cá/ngày. Ngoài ra, còn cho cá ăn thêm mầm mạch, rau
xanh với lượng 1 - 2% trọng lượng thân cá/ngày.
7. Công tác quản lý ao nuôi vỗ:
- Thường xuyên theo dõi màu nước để điều chỉnh chất
lượng nước trong ao. Màu nước trong ao tốt nhất là màu
xanh nõn chuối. Ðể duy trì màu nước này, có thể dùng
phân chuồng ủ mục bón từ 15 - 20 kg/15 ngày/lần, phân
xanh 30 - 40kg/15 ngày/lần, kết hợp bón phân vô cơ.
- Chế độ sục nước: Ðây là một yếu tố kích thích tuyến sinh
dục của cá phát triển. Trong thời gian đầu nuôi vỗ cứ 3 - 5
ngày sục nước một lần, mỗi lần sục 2 - 3 giờ.
Theo dõi tuyến sinh dục của cá phát triển đến giai đoạn 4,
mỗi ngày sục nước 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều, mỗi
lần sục 2 - 3 giờ.
Trong quá trình nuôi vỗ cá chim trắng phải thường xuyên
kiểm tra tình hình sử dụng thức ăn của cá, môi trường ao
nuôi, cũng như sức khỏe của cá.

đánh giá mức lãi từ nuôi cá chim trắng đạt 25 triệu/ha, đây
là giống cá mặc dù có tầm vóc tối đa không bằng các giống
cá: Chép, trôi, mè, trắm cỏ… nhưng nuôi chóng lớn và nhờ
chất lượng thịt thơm ngon nên hiệu quả nuôi khá cao, có
lúc giá cá chim trắng đạt 18.000đ/kg tại Bình Định, trong
khi các giống cá nước ngọt ở cùng thời điểm chỉ đạt bình
quân 10.000đ/kg.
Qua thực tế nuôi cho thấy, giống cá này có nhiều ưu điểm,
nổi bật nhất là khả năng ăn tạp, từ các loài động vật phù
du như tép, giun… đến các loài rau, bèo, tảo… cả các loài
động – thực vật nguyên sinh có sẵn trong môi trường ao
nuôi. Cá rất nhanh lớn, nhất là giai đoạn đầu, nếu ao nuôi
gắn liền với nguồn nước chủ động thì cá phát triển rất
nhanh, đáy ao dù là đất thịt hay cát pha thịt đều có thể nuôi
được giống cá này. Với ngưỡng nhiệt độ từ 24 – 320C là lý
tưởng nhất để cá chim trắng phát triển. Song do khả năng
chịu rét kém nên thời gian thả giống hợp lý nhất là vào thời
điểm sau Tết âm lịch và thu hoạch vào khoảng tháng 10, 11
hằng năm. Trong quá trình nuôi bà con có thể tiến hành
bắt tỉa để đảm bảo độ đồng đều cho số cá còn lại trong ao,
cỡ cá bắt tỉa hợp lý nhất là những con nặng hơn 0,7kg.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status