LỢI ÍCH VÀ NGUY CƠ CỦA
ASPIRIN TRONG ĐIỀU TRỊ VÀ
DỰ PHÒNG CÁC BỆNH TIM
MẠCH
Tác giả : DS. BÙI VĂN UY
Những thông tin quá ngắn gọn, đôi khi tản mạn
về aspirin trong việc điều trị và dự phòng bệnh
tim mạch nhiều lúc đã gây ra sự lẫn lộn, ngộ
nhận về vai trò của nó, dẫn đến việc một số người dùng rất
tùy tiện. VẬy nên hiểu thế nào cho đúng về cơ chế và tác
dụng của aspirin?
CƠ CHẾ CỦA ASPIRIN TRONG VIỆC BẢO TOÀN
CÂN BẰNG ĐỘNG HỌC CỦA TIỂU CẦU
Cyclo-oxygenase-1 (COX-1) có trong tiểu cầu. Cyclo-
oxygenase-2 (COX-2) có trong tế bào nội mô. Thông qua sự
kích hoạt COX1. Thromboxan A2 được tạo ra đóng vai trò
tập kết tiểu cầu, làm co mạch. Thông qua sự kích hoạt của
COX2, prostacyclin được tạo thành ngăn ngừa sự tập kết tiểu
cầu, làm giãn mạch. Sự cân bằng giữa prostacyclin và
thromboxan-A2 tạo nên yếu tố điều hòa hằng định nội mô
của hệ thống tuần hoàn. Các thuốc ức chế chọn lọc COX2 chỉ
ức chế sự tạo thành prostacyclin nhưng lại không ngăn được
sự tạo thành thromboxan-A2, nên không ngăn ngừa được sự
tập kết tiểu cầu, sự co mạch, do đó không ngăn ngừa được
các tai biến về tim mạch. Trong khi đó aspirin vừa ức chế
COX2 vừa ức chế COX1 nên có thể vừa hạn chế sự tạo thành
prostacyclin vừa hạn chế sự tạo thành thromboxan-A2, đảm
bảo được sự bảo toàn cân bằng động học của tiểu cầu, cụ thể
máu cơ tim. Nghiên cứu trên 100.000 người, trong đó 70.000
người có nguy cơ cao; Người ta nhận thấy dùng aspirin thì
các nguy cơ tử vong, nguy cơ nhồi máu cơ tim không gây tử
vong, nguy cơ tử vong do nguyên nhân mạch máu đều cùng
giảm 33%, (Antiplatelet trialitis; BMJ - 1994). Tuy nhiên
việc phòng ngừa các tai biến thứ phát sau nhồi máu cơ tim lại
đòi hỏi kéo dài. Trong trường hợp này, ở một số bệnh nhân
xuất hiện hiện tượng kháng aspirin; với liều aspirin điều trị
như những người bệnh khác thì thromboxan - A2 vẫn được
giải phóng ra nhiều làm tăng nguy cơ tạo ra huyết khối, dẫn
đến gia tăng các tai biến tim mạch (Johon Eikelban, Eric
Topol 2002).
Khi tái thông mạch vành bằng phẫu
thuật sẽ làm chấn thương tại chỗ mạch
máu, làm cho lớp dưới nội mạc bị phơi bày ra trong khoang.
Đây là cơ hội thuận lợi gây ra huyết khối làm tắc nghẽn cấp
hoặc bán cấp mạch máu với tỷ lệ thường gặp là 3,5-8,6%.
Dùng aspirin phối hợp với pyridamol làm giảm các biến
chứng cấp, nhưng nếu dùng một mình aspirin cũng cho kết
quả tương tự. Phối hợp aspirin và warfarin đem lại kết quả
cao hơn. Nếu dùng aspirin ngay sau phẫu thuật 6 giờ sẽ làm
giảm 50% các tắc nghẽn do mảnh ghép huyết khối và nếu
điều trị thêm 1 năm sẽ làm giảm hẳn biến cố này (Schwartz
L. 1998).
Đối với bệnh đau thắt ngực không ổn định dùng aspirin, thì
cả nguy cơ đột quỵ không tử vong, nhồi máu cơ tim hoặc tử
vong do nguyên nhân mạch máu đều giảm 5% (9% so với 4%
trước đó). Dùng aspirin (với liều mỗi ngày 75mg) cũng làm
giảm 40% các tiến triển đến cơn đau thắt ngực nặng bắt buộc
phải thông tim vào tháng thứ 3 và tương tự giảm 29% vào
1991). Tương tự đối với cơn đau thắt ngực không ổn định, tỷ
lệ giảm này là 34% (Swedish Angina Pectoris Aspirin Trial;
Juul Muller 1992).
Như vậy trong dự phòng, aspirin có mang lại một số kết quả
hạn chế trong những trường hợp nhất định, kèm theo việc gia
tăng một vài biến cố có hại, vì vậy việc dùng aspirin cần
được cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ một cách cẩn thận.
Ngày nay cũng đã có nhiều thuốc chống huyết khối tốt khác
để dự phòng các biến cố thứ phát sau tai biến nhồi máu cơ
tim như clopidogrel. Thuốc này chống lại sự hình thành
huyết khối bằng cách chống lại sự kết dính tiểu cầu. Dùng
clopidogrel (với liều 75mg/ngày) sẽ làm giảm tử vong, giảm
nhồi máu cơ tim và đột quỵ do thiếu máu cục bộ tốt hơn dùng
aspirin (với liều 325mg/ngày). Độ an toàn của hai thuốc
không có sự khác biệt (Clopidogrel versus Aspirin in patients
at Risk of Ischemic Events = CARIE). Đối với người bệnh
đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim thì việc
dùng aspirin kết hợp với clopidogrel cũng cho kết quả giảm
biến cố tim mạch hơn là dùng aspirin đơn thuần (Clopidogrel
in Unstable Angina to prevent Recurrent Events = CURE).
Tuy nhiên một khảo cứu khác lại cho thấy rằng việc dùng
aspirin đơn thuần sẽ giúp chi phí giảm hơn nhiều. Nhất là khi
bệnh tim mạch đang khá phổ biến trong cộng đồng thì đây
chính là điều hấp dẫn và có nhiều lợi thế. Người ta khuyên
chỉ nên dùng clopidogrel khi người bệnh có chống chỉ định
với aspirin (N Engl J Med - 2002).
Như vậy việc cân nhắc dùng aspirin còn dựa vào cả yếu tố
giá thành.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA ASPIRIN VÀ
CÁCH HẠN CHẾ
một loại thuốc khác.
Trong điều trị bệnh tim mạch, aspirin được dùng trong một
thời gian dài. Cần tìm cách để hạn chế tác hại, đồng thời cần
chọn một liều lượng thích hợp tùy theo dạng bào chế. Bằng
cách này sẽ làm cho việc dùng nó hữu ích và an toàn.
LỜI KẾT
Aspirin có hiệu quả cao trong điều trị nhưng lại có tác dụng
hạn chế trong dự phòng các bệnh tim mạch tiên phát. Bên
cạnh đó, aspirin còn có những tác dụng không mong muốn.
Chẩn đoán lượng giá đúng nguy cơ để đề ra một chiến lược
dùng thuốc thích hợp cho từng bệnh nhân là một việc khó đòi
hỏi phải có sự cân nhắc quyết định của thầy thuốc chuyên
khoa. Việc dựa vào một vài thông tin tản mạn hoặc tham
khảo ý kiến chưa hoàn hảo của thầy thuốc không chuyên
khoa rồi tự ý dùng aspirin dự phòng các bệnh về tim mạch là
không nên, vì không những không mang lại lợi ích mà có thể
gây tai biến.
Chú thích ảnh:
- Aspirin có vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh tim
mạch.
- Aspirin có thể làm tan huyết khối trong lòng mạch máu.