Tài liệu ỨNG DỤNG VI SINH TRONG XỬ LÝ NƯỚC THẢI LÒ MỔ - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG VI SINH TRONG
XỬ LÝ NƯỚC THẢI LÒ MỔ
GVHD: NGUYỄN NGỌC TÂM HUYÊN
NHÓM:
LÊ THỊ MAI THƯ MSSV:10127153
NGUYỄN PHƯƠNG THÙY MSSV:10127151
TRẦN THỊ THU THỦY MSSV:10127149
TRẦN THỊ THU HƯƠNG MSSV:10127062
NGUYỄN THỊ ĐAN THANH MSSV:10127132
MỤC LỤC:
I.PHẦN MỞ ĐẦU
I.1.Đặt vấn đề
I.2.Mục tiêu
I.3.Ý nghĩa thực tiễn
II.NỘI DUNG
II.1.Thực trạng ô nhiễm tại các lò mổ
a. Một số ví dụ
b. Nguyên nhân ô nhiễm – Nguồn phát sinh
c. Hậu quả
II.2.Ứng dụng vi sinh vật
Lựa chọn quy trình
II.3.Kết luận và kiến nghị
III.TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Đặt vấn đề:
Có thể nói, chưa bao giờ tài nguyên nước lại trở nên quý giá như lúc này,
khi mà các dòng sông và ao hồ trên thế giới đang suy thoái và cạn kiệt dần.
Nguồn tài nguyên nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Vấn đề này càng trở nên

thường đã là nguồn gây ô nhiễm nhưng nếu lượng gia súc, gia cầm này mà bị
nhiễm bệnh thì hậu quả sẽ khó mà kiểm soát được.
* HỆ VI SINH VẬT TRONG NƯỚC THẢI
Trong nhiều trường hợp, mỗi loại nước thải có một khu hệ vi sinh vật đặc
trưng. Nước thải từ lò mổ chứa nhiều hợp chất hữu cơ (cacbon hydrate, các chất
dinh dưỡng của Nito (N), Photphore (P), các chất lơ lửng ) từ máu, phân, nước
tiểu,nước rửa ráy, lông, móng….chứa rất nhiều vi khuẩn từ vài triệu đến vài
chục triệu cá thể trong 1ml. trong đó chủ yếu là:
- Vi khuẩn gây thối như Pseudomonas fluorescens, Proteus vulgaris,
Bac.cereus,Bac. Subtilis,…
- Các vi khuẩn thuộc nhóm Coliform, là vi sinh vật chỉ thị cho mức độ
ô nhiễm phân trong nước ở mưc độ cao
- Trong nước thải giàu chất hữu cơ, các vi khuẩn có dạng hình ống giữ
vai trò rất quan trọng trước hết phải kể đến 1 đại diện là Sphaerotilus
natans thường hay bị nhằm là “ nấm nước thải”, phát triển mạnh ở
vùng nước có nhiều oxygen, khi vi khuẩn này chết đi, thối rữa và H
2
S
sẽ xuất hiện cùng một số chất khác.
*CÁC TÁC NHÂN GÂY BỆNH TRONG NƯỚC THẢI TỪ CÁC LÒ MỔ
Các vi sinh vật gây bệnh thường không sống lâu trong nước thải vì đây
không phải là môi trường thích hợp nhưng có thể tồn tại trong một thời gian
nào đó tùy thuộc vào từng loại vi khuẩn. Trong thời gian này nếu gặp điều kiện
thuận lợi chúng sẽ tiếp xúc với người, gia súc và gây bệnh truyền nhiễm. Cụ
thể:
- Salmonella dysenteria vi khuẩn gây bệnh thương hàn.
- Shigella gây bệnh kiết lị.
- leptospira: Xoắn khuẩn gây nên chứng sưng gan, sưng thận và tê liệt
thần kinh trung ương.
-Vibrio cholera Phẩy khuẩn tả.

 Màng sinh học
*** MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ BẰNG CHẤT THẢI
*Ý nghĩa:
Trong nhiều biện pháp xử lý ô nhiễm thì biện pháp sinh học được đặc biệt
quan tâm sử dụng. So với biện pháp vật lý hay hóa học, biện pháp sinh học
chiếm vai trò quan trọng về qui mô cũng như giá thành đầu tư. Đặc biệt xử lý
sinh học sẽ không gây tái ô nhiễm môi trường một nhược điểm mà biện pháp
hóa học hay mắc phải.
Việc đưa ra giải pháp thu gom nước thải về một trạm xử lý tập trung là rất
khó khăn, bởi kinh phí đầu tư cho xây dựng rất lớn, hơn nữa vận hành các hệ
thống này khá phức tạp và tốn kém. Giải pháp xử lý nước thải phân tán cho
từng cụm gây ô nhiễm với các công nghệ có chi phí đầu tư thấp, vận hành đơn
giản và thân thiện với môi trường là một giải pháp thích hợp, khả thi đối với
điều kiện kinh tế nước ta hiện nay.
Vì vậy:
 Công nghệ DEWATS – Một giải pháp bền vững
Tổ chức Bremen Overseas Reasearch and Development Association (viết
tắt là BORDA) - Hiệp hội Nghiên cứu và phát triển Bremen là một tổ chức phi
chính phủ, phi lợi nhuận – Công hoà Liên bang Đức. Trong hơn 30 năm hoạt
động, các dự án và nghiên cứu của BORDA nhằm bảo đảm cho con người tiếp
cận được với những nguồn tài nguyên thiết yếu cho sự sống cũng như một môi
trường trong sạch. Từ năm 1977, BORDA bắt đầu tham gia vào lĩnh vực
chuyển giao công nghệ biogas từ Ấn Độ sang Ethiopia, Indonesia, Trung Quốc.
Năm 1993 chuyển trọng tâm sang xử lý nước thải phân tán thông qua sự tiếp
cận công nghệ được gọi là Hệ thống xử lý nước thải phân tán DEWATS
(DEcentralized WAsterwater Treament System).
Công nghệ DEWATS đã và đang được BORDA phổ biến rộng rãi như là
một giải pháp hữu hiệu cho xử lý nước thải phân tán từ các cụm dân cư, bệnh
viện, khách sạn, trang trại, các lò giết mổ gia súc, gia cầm và cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại các nước đang phát triển. DEWATS, hệ thống xử lý nước

thải chuyển động lên xuống. Dưới đáy mỗi ngăn, bùn hoạt tính được giữ lại và
duy trì, dòng nước thải vào liên tục được tiếp xúc và đảo trộn với lớp bùn hoạt
tính có mật độ vi sinh vật kị khí cao, nhờ đó mà quá trình phân huỷ các hợp
chất hữu cơ trong nước thải được diễn ra mạnh mẽ giúp làm sạch nước thải hiệu
quả hơn các bể tự hoại thông thường.
Bể lọc kị khí với vật liệu lọc có vai trò là giá đỡ cho các vi sinh vật phát triển,
tạo thành các màng vi sinh vật. Các chất ô nhiễm hoà tan trong nước thải được
xử lý hiệu quả hơn khi đi qua các lỗ rỗng của vât liệu lọc và tiếp xúc với các
màng vi sinh vật. Toàn bộ phần kị khí nằm dưới đất, không gian phía trên có
thể sử dụng làm sân chơi, bãi để xe Điều này rất thích hợp với các khu vực
thiếu diện tích xây dựng.
- Xử lý bậc ba: Quá trình xử lý hiếu khí. Công nghệ áp dụng chủ yếu của bước
này là bãi lọc ngầm trồng cây dòng chảy ngang. Ngoài quá trình lắng và lọc
tiếp tục xảy ra trong bãi lọc thì hệ thực vật trồng trong bãi lọc góp phần đáng kể
trong xử lý nước thải nhờ khả năng cung cấp ôxy qua bộ rễ của cây xuống bãi
lọc tạo điều kiện hiếu khí cho các vi sinh vật lớp trên cùng của bãi lọc. Bộ rễ
của thực vật cũng là môi trường sống thích hợp cho các vi sinh vật có khả năng
tiêu thụ các chất dinh dưỡng có trong nước thải, tăng hiệu quả xử lý của bãi lọc.
Ngoài ra thực vật trong bãi lọc hấp thụ các chất dinh dưỡng như Nitơ và
Phốtpho. Nước sau bãi lọc trồng cây thường không còn mùi hôi thối như đầu ra
của các công trình xử lý kị khí. Sau một thời gian vận hành hệ thực vật trong
bãi lọc sẽ tạo nên một khuôn viên đẹp cho toàn bộ hệ thống xử lý.
- Khử trùng: hồ chỉ thị với chiều sâu lớp nước nông được thiết kế để loại bỏ các
vi khuẩn gây bệnh nhờ bức xạ mặt trời xuyên qua lớp nước trong hồ. Tuy
nhiên, đối với nước thải có lượng vi sinh vật gây bệnh cao thì việc sử dụng hoá
chất khử trùng là điều cần thiết.
*Hiệu quả xử lý:
Hiệu quả xử lý của DEWATS có thể đạt được tiêu chuẩn cho phép loại A đối
với nước thải công nghiệp – TCVN 5945-2005.Tuy nhiên, bên cạnh những ưu
điểm mà hệ thống DEWATS mang lại, hệ thống xử lý nước thải này vẫn tồn tại

2
có sẵn như một tác nhân nhận
điện tử làm nguồn ôxy của nó. Quá trình này không đòi hỏi ôxy vì việc
cung cấp ôxy sẽ làm tăng đáng kể chi phí xử lý nước thải.
- Quá trình phân hủy yếm khí tạo ra lượng bùn thấp hơn (từ 3 đến 20
lần so với quá trình hiếu khí), vì năng lượng do vi khuẩn yếm khí tạo ra
tương đối thấp. Hầu hết năng lượng rút ra từ sự phân hủy chất nền là từ
sản phẩm cuối cùng đó là CH
4
. Đối với việc tạo tế bào 50% cácbon hữu
cơ được chuyển thành sinh khối trong các điều kiện yếm khí
- Tạo ra một loại khí có ích đó là methan, chứa 90% năng lượng, có thể
dùng để đốt tại chỗ cho các lò phân hủy chất thải, hay dùng để sản xuất
điện năng. Khoảng 3 -5% bị thải bỏ dưới hình thức nhiệt. Việc tạo ra
methan góp phần làm giảm BOD (nhu cầu oxygen sinh hóa) trong bùn
đã bị phân hủy.
- Năng lượng cần cho xử lý nước thải cũng giảm.
- Sự phân hủy yếm khí thích hợp cho chất thải có độ ô nhiễm cao.
Một số điểm bất lợi của quá trình phân hủy yếm khí bao gồm:
- Quá trình này xảy ra chậm hơn quá trình hiếu khí.
- Rất nhạy với chất độc.
- Đòi hỏi một thời gian dài để khởi đầu qúa trình này.
Vì được coi là phân hủy sinh học các hợp chất qua một quá trình đồng
trao đổi chất, quá trình phân hủy yếm khí đòi hỏi nồng độ chất nền ban
đầu cao.
2. Mô tả quá trình
Bồn phân hủy yếm khí là những bồn lên men lớn có gắn các thiết bị
như: máy trộn cơ khí, thiết bị cung cấp nhiệt, hệ thống thu khí, các vòi
để tháo và cung cấp bùn, các đầu ống ra trên mặt. Sự phân hủy và lắng
bùn xảy ra đồng thời trong bồn. Bùn phân tầng và tạo thành những lớp

ôxy hóa và khử ôxy).
Nhóm 3: Vi khuẩn tạo Aceton
Vi khuẩn tạo aceton chuyển các axít béo (như: axít propionic và butyric) và
rượu thành acetate, hydro, và CO
2
, những chất này sẽ được sử dụng bởi
nhóm vi khuẩn tạo metan. Nhóm này đòi hỏi nồng độ hydro thấp để chuyển
hoá các axít béo và do đó cần phải theo dõi sát nồng độ hydro. Dưới điều
kiện nồng độ hydro cục bộ cao, sự tạo thành acetate giảm và chất nền sẽ
chuyển thành axít propionic, butyric và ethanol thay vì metan.
Nhóm 4: Vi khuẩn tạo khí mêtan
Sự phân hủy chất hữu cơ trong môi trường sẽ thải vào khí quyển khoảng từ
500 đến 800 triệu tấn mêtan mỗi năm và số lượng này tương ứng 0,5% chất
hữu cơ tạo ra từ sự quang hợp. Trong tự nhiên vi khuẩn tạo mêtan khó tính
này thường có ở các lớp bùn trầm tích hoặc trong dạ dày của các loài ăn cỏ.
Nhóm này được tạo thành bởi các vi khuẩn gram âm và gram dương với các
hình dạng khác nhau. Các vi sinh tạo mêtan sinh trưởng chậm trong nước
thải, chu kỳ sinh có thể từ 2 ngày ở 35
o
C cho đến 50 ngày ở 10
0
C. Khoảng
2/3 mêtan được tạo ra từ sự chuyển hoá acetate của nhóm vi khuẩn này. 1/3
còn lại là do sự giảm CO
2
tạo ra bởi hydro.
4. Các yếu tố kiểm soát quá trình phân hủy yếm khí
Quá trình phân hủy yếm khí ảnh hưởng bởi nhiệt độ, thời gian lưu, độ pH,
thành phần hoá chất của nước thải, sự cạnh tranh giữa các nhóm vi khuẩn tạo
mêtan và nhóm giảm sulfate và sự hiện diện của các chất độc.

xảy ra trong một hệ thống phân hủy yếm khí. Sự ngăn cản việc tạo ra khí
mêtan biểu hiện bằng lượng mêtan tạo ra giảm và nồng độ axít dễ bay hơi
tăng.
Xử lý nước thải bằng tảo
Tảo Aphanizomenon
Tảo là nhóm vi sinh vật có khả năng quang hợp, chúng có thể ở dạng đơn bào
(vài loài có kích thước nhỏ hơn một số vi khuẩn), hoặc đa bào (như các loài
rong biển, có chiều dài tới vài mét).
Tảo có tốc độ sinh trưởng nhanh, chịu đựng được các thay đổi của môi trường,
có khả năng phát triển trong nước thải, có giá trị dinh dưỡng và hàm lượng
protein cao, do đó người ta đã lợi dụng các đặc điểm này của tảo để:
1. Xử lý nước thải và tái sử dụng chất dinh dưỡng: Các hoạt động sinh học
trong các ao nuôi tảo lấy đi các chất hữu cơ và dinh dưỡng của nước thải
chuyển đổi thành các chất dinh dưỡng trong tế bào tảo qua quá trình quang hợp.
Hầu hết các loại nước thải đô thị, nông nghiệp, phân gia súc đều có thể được xử
lý bằng hệ thống ao tảo.
2. Biến năng lượng mặt trời sang năng lượng trong các cơ thể sinh vật. Tảo
dùng năng lượng mặt trời để quang hợp tạo nên đường, tinh bột Do đó việc sử
dụng tảo để xử lý nước thải được coi là một phương pháp hữu hiệu để chuyển
đổi năng lượng mặt trời thành năng lượng của cơ thể sống.
Tảo Asterionlla
3. Tiêu diệt các mầm bệnh. Thông qua việc xử lý nước thải bằng cách nuôi tảo
các mầm bệnh có trong nước thải sẽ bị tiêu diệt do các yếu tố sau đây:
* Sự thay đổi pH trong ngày của ao tảo do ảnh hưởng của quá trình quang hợp
* Các độc tố tiết ra từ tế bào tảo
* Và sự tiếp xúc của các mầm bệnh với bức xạ mặt trời (UV)
Thông thường người ta kết hợp việc xử lý nước thải và sản xuất và thu hoạch
tảo để loại bỏ chất hữu cơ trong nước thải.Các phản ứng diễn ra trong ao tảo
chủ yếu là "hoạt động cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn".
Các yếu tố cần thiết cho quá trình xử lý nước thải bằng tảo

Tảo Eulgena
Tảo Pariditrum
MỘT SỐ MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÃ THỰC HIỆN VÀ ĐẠT HIỆU QUẢ:
1>
Khu lọc thực vật trong hệ thống DEWATS tại Bệnh viện Kim Bảng- Hà Nam
Kết quả kiểm nghiệm chất lượng nước sau khi được xử lý bằng DEWATS cho
thấy: Nước thải sau quá trình lọc giúp loại vi khuẩn đến 95 - 97%, chỉ số BOD
(nhu cầu ôxy hóa sinh học) đạt 4mg/lít (chuẩn của Bộ Y tế là 20), COD (nhu
cầu ôxy hóa sinh học) là 16mg/lít (chuẩn của Bộ Y tế cho bệnh viện là 80).
2>Biện pháp làm giảm thiểu ô nhiễm từ lò mổ gia súc gia cầm
bằng hệ thực vật gồm bèo tây,bèo tấm và rau muống của nhân dân
phường Kim Long, TP Huế
Quy trình xử lý: (gồm 3 công đoạn) với một hệ thống các ao, hồ liên thông với
nhau.
Nước thải sinh hoạt và lò mổ gia súc được đưa vào trữ trong hồ chứa chung.
Sau khi chảy qua các tấm thấm để loại bỏ các chất thải rắn, nước thải được đưa
vào ao trồng bèo lục bình và bèo tấm. Nhờ quá trình quang hợp, tại đây các
chất hữu cơ giàu dinh dưỡng, cacbon hydrate, kim loại nặng…sẽ được cây bèo
hấp thụ, chuyển đổi thành những sinh khối của nó, làm cho môi trường nước
bớt ô nhiễm. Sau khi được “lọc” bằng bèo, nước thải sẽ được đưa qua một hồ
chứa thứ 3 và ở đó được thả rau muống bè. Cũng như bèo ở
hồ phía trên, tại đây rau muống tiếp tục hấp thụ các chất dinh dưỡng còn lại
trong nước để phát triển. Vì thế, nước thải tiếp tục được làm sạch thêm.
Qua thử nghiệm ở quy mô nhỏ, người dân đã khẳng định: xử lý nước thải sinh
hoạt và lò mổ gia súc bằng phương pháp này có thể triển khai rộng ở quy mô hộ
gia đình, bởi nó dễ thực hiện, ít tốn kém và có thể sử dụng bèo và rau muống
làm phân bón, đem lại hiệu quả kinh tế.
II.3.Kết luận và kiến nghị:
- Tiềm năng áp dụng công nghệ DEWATS vào việc xử lý nước thải vào điều
kiện Việt Nam là rất lớn vì tính bền vững của công nghệ trong việc giải quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status