Tài liệu luận văn: THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI GHÉP CÁ THÁT LÁT (Chitala Chitala) TRONG AO ĐẤT TẠI TỈNH HẬU GIANG - Pdf 10

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN

NGÔ TUẤN VINH
THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI GHÉP
CÁ THÁT LÁT (Chitala Chitala) TRONG AO ĐẤT TẠI
TỈNH HẬU GIANG

NGÔ TUẤN VINH
THỰC NGHIỆM XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI GHÉP
CÁ THÁT LÁT (Chitala Chitala) TRONG AO ĐẤT TẠI
TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Thí nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của việc nuôi ghép cá Thát lát trong mô
hình VACB và ao đất, đồng thời nghiên cứu các yếu tố môi trường, sự tăng
trưởng, tỷ lệ sống của cá nuôi ghép trong 2 mô hình. Thiết lập hệ thống nuôi
thuỷ sản kết hợp nhằm thiết lập một hệ thống nuôi thích nghi cao với nguồn tài
nguyên, những nguồn vật liệu rẻ tiền để đầu tư cho hệ thống nuôi và sản xuất
ra những sản phẩm có giá trị và hiệu quả cao.
Các yếu tố môi trường theo dõi ở nghiệm thức I và II trong mô hình VACB và
ao đất như: nhiệt độ (31,9–35
0
C và 28-39
0
C), pH (7–9,1 và 7–9,1), Oxy (2–5
ppm và 4–6ppm), TAN và PO
4
(0.0–10 ppm và 0,0–1 ppm), H
2
S (0,10–0,181
ppm và 0,011–0,49 ppm), NO
2
(0,0–0,5 và 0,0–0,5). Hầu hết các yếu tố này
đều nằm trong khoảng thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá. Tuy
nhiên một số yếu tố môi trường như TAN, PO
4
ở nghiệm thức I các yếu tố
này nồng độ rất cao, có thể ảnh hưởng bất lợi đối với cá nuôi, tuy nhiên các
loài nuôi có khả năng chịu đựng cao nên không ảnh hưởng đến sự phát triển.
Ở nghiệm thức I thì tốc độ tăng trưởng của cá Rô phi và Sặc rằn cao hơn so
với nghiệm thức II còn tốc độ tăng trưởng của cá Thát lát ở nghiệm thức I thấp
hơn so cá Thát lát ở nghiệm thức II.
Tỉ lệ sống của cá ở nghiệm thức I nuôi ghép cá Thát lát với cá Rô phi, Sặc rằn

3.2.6. Cho cá ăn 12
3.2.7. Chăm sóc 12
3.2.8. Thu hoạch 13
3.3. Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu 13
3.3.1. Khảo sát các yếu tố về môi trường nước trong hệ thống thực nghiệm 13
3.3.2. Khảo sát sự tăng trưởng của cá Thát lát còm, Rô phi, Sặc rằn nuôi
thương phẩm 13
iv

3.4. Phương pháp xử lý số liệu 13
3.4.1. Phân tích và thống kê số liệu 14
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ -THẢO LUẬN 15
4.1. Các yếu tố môi trường 15
4.1.1. Nhiệt độ 15
4.1.2. pH 15
4.1.3. Oxy 16
4.1.4 NO
2
-
và NO
3
16
4.1.5 H
2
S 17
4.1.6 PO
4
3-
và TAN 17
4.2. Kết quả tăng trưởng của cá ở nghiệm thức I và II 18

Biểu đồ 1: Sự biến động khối lượng trung bình ở nghiệm thức I 20
Biểu đồ 2: Sự biến động khối lượng trung bình trong nghiệm thức II 20
Biểu đồ 3: Tốc độ tăng trưởng của cá ở nghiệm thức I và nghiệm thức II 21

vi

DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Mô hình hệ thống VACB 3
Hình 2: Mô hình nuôi thuỷ sản trong ao đất 3
1

CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU

1.1 Giới thiệu
Trong những năm qua, thuỷ sản đã trở thành một trong những ngành kinh tế
mũi nhọn của cả nước. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hằng năm tăng từ 15-20%,
năm 2004 kim ngạch xuất khẩu đã vượt qua con số 2,4 tỉ USD (Huỳnh Trường
Giang, 2008). Nghề nuôi không chỉ góp phần làm tăng năng xuất kim ngạch
xuất khẩu thủy sản của nước ta mà còn có tác động tích cực đến quá trình phát
triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống cho nguời nuôi thuỷ sản.
Ở Việt Nam, đặc biệt Đồng Bằng Sông Cửu Long là một vùng đất thấp rộng
lớn khoảng 4 triệu ha, chiếm 12% tổng diện tích của đất nước với đặc tính có
hệ thống sông ngòi chằng chịt. Đồng Bằng Sông Cửu Long có tiềm năng rất
lớn về phát triển nông nghiệp và thủy sản .Diện tích có khả năng nuôi trồng
thủy sản trên 1,4 triệu ha, trong đó nuôi trồng thủy sản nước ngọt khoảng
500.000 ha. Các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt tập trung ở một số tỉnh

việc phân tích và so sánh tính hiệu quả kinh tế mang lại của từ việc nuôi ghép
cá Thát lát trong 2 mô hình VACB và mô hình nuôi thủy sản chuyên canh góp
phần khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất nước vào việc nuôi cá ở tỉnh
Hậu Giang nói riêng, vùng ĐBSCL nói chung.
1.3. Nội dung
Thực nghiệm nuôi cá Thát lát, Rô phi, Sặc rằn trong 2 mô hình VACB và nuôi
thuỷ sản trong ao đất được thực hiện trên cơ sở khảo sát, phân tích và so sánh
những nội dung chính như sau:
- Khảo sát một số yếu tố môi trường nước ao nuôi cá trong 2 mô hình VACB
và nuôi thuỷ sản trong ao đất.
- Khảo sát sự tăng trưởng, tỉ lệ sống và năng suất cá nuôi trong 2 mô hình
VACB và nuôi thuỷ sản trong ao đất.
- Phân tích hiệu quả lợi nhuận mang lại từ mô hình cá nuôi trong 2 mô hình
VACB và nuôi thuỷ sản trong ao đất.
1.4. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tổ chức nuôi thực nghiệm trong điều kiện gắn liền với hoạt động
thực tiễn sản xuất của nông hộ tại huyện Châu Thành và Long Mỹ tỉnh Hậu
Giang (từ tháng 4–6 năm 2009).

3

CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Sơ lược về hệ thống VACB và ao đất
Hệ thống nuôi kết hợp cá trong mô hình VACB là hệ thống nuôi kết hợp
nguồn thải từ hệ thống chuồng nuôi thông qua hệ thống túi ủ, nước thải từ hệ
thống túi ủ giúp tăng nguồn thức ăn tự nhiên cho cá nuôi, giảm chi phí cho quá
trình nuôi.

Hình 2: Mô hình nuôi thuỷ sản trong ao đất
4

2.2.Một số loài cá nuôi trong mô hình
2.2.1 Cá Thát lát còm
a. Tập tính sống:
Cá Thát lát còm thuộc loài cá nước ngọt, tuy nhiên cũng có thể sống ở độ mặn
6%
0
. Cá thích sống ở nước tĩnh , thường chui rúc vào các rặng cây, hốc đá. Cá
thích sống trong môi trường pH giao động từ 5,5–8, nhiệt độ từ 20-32
0
C. Ở
nhiệt độ dưới 15
0
C cá sẽ ngừng ăn và nếu kéo dài cá sẽ mất sức đề kháng và
dễ nhiễm bệnh. Nhờ cơ quan hô hấp phụ nên cá có thể chịu đựng được môi
trường sống chật hẹp, có hàm lượng Oxy thấp. Tuy nhiên cá mẫn cảm với sự
biến động của chất lượng nước và các loại hoá chất. Do vậy phải thận trọng
trong việc sử dụng hoá chất để xử lý môi trường nước và ngay cả trong điều trị
bệnh (Đoàn Khắc Độ, 2008).
b. Đặc điểm dinh dưỡng
Hệ tiêu hóa của cá gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột. Miệng trước rộng,
rạch miệng xiên kéo dài ra khỏi mắt, xương hàm trên phát triển. Răng nhiều,
nhọn mọc trên hàm dưới trên phần giữa xương trước hàm, trên xương khẩu
cái, lá mía và lưỡi. Ngoài ra, còn có đám răng nhỏ mịn trên xương bướm phụ
vì vậy chúng có thể bắt giữ, cắn xé con mồi. Thực quản ngắn, rộng và có vách
hơi dài. Dạ dày hình chữ J có vách hơi dày. Ranh giới giữa ruột non và ruột

cái rời khỏi trứng, lúc này nên bắt con cái ra khỏi bể. Con đực sẽ bảo vệ trứng,
dồn trứng vào giữa và quạt nước cung cấp dưỡng khí cho trứng. Số lượng
trong một lần đẻ khoảng 100-150 trứng và đẻ thành nhiều đợt, mỗi đợt khoảng
10-15 trứng.
Trong tự nhiên cá thường đẻ ở vùng nước cạn có thực vật thủy sinh. Tuỳ vào
nhiệt độ, thời gian nở của trứng sẽ khác nhau ờ 24
o
C trứng sẽ nở 5-6 ngày.
Trứng cá thuộc loại trứng lớn và dể bị nấm. Lúc này nên cho vào bể
Methylene Blue với nồng độ 5 ppm. Cá bơi lội tự do và bắt đầu ăn được luân
trùng và ấu trùng artemia sau 2-3 ngày (Dương Nhựt Long, 2004).
2.2.2 Cá Rô phi
a. Nguồn gốc và sự phân bố
Cá Rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi thuộc họ Cichlidae, bộ cá vược
Perciformes. Cho đến năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá Rô phi,
hiện nay con số đó khoảng 100 loài, trong đó khoảng 10 loài có giá trị kinh tế.
Những loài được nuôi phổ biến là cá Rô phi vằn, Rô phi xanh, Rô phi đỏ và
Rô phi đen trong đó loài nuôi phổ biên nhất là cá Rô phi vằn.
Ngày nay cá Rô phi không những được nuôi ở châu Phi mà đã được phát tán
và nuôi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận
nhiệt đới. Trong vài chục năm trở lại đây, chúng mới thực sự trở thành loài cá
nuôi công nghiệp, sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao.
Cá Rô phi vằn có tên khoa học là Oreochromis niloticus, là loài cá có thịt
ngon, giá trị thương phẩm cao, nhanh lớn và dễ nuôi ở các mô hình nuôi khác
nhau. Kết quả nghiên cứu những năm gần đây cho thấy nuôi đơn cá Rô phi
hay nuôi ghép với các loài cá khác, cá sinh trưởng nhanh và rất ít khi bị bệnh.
Cá Rô phi có khả năng chống chịu tốt với các môi trường sống khác nhau và
cho hiệu quả kinh tế (Thông tin khoa học – kinh tế thuỷ sản, 2005).
6


a. Phân bố
Theo Dương Nhựt Long (2004), cá Sặc rằn phân bố tại Thái Lan, Campuchia,
Việt Nam và được di giống sang các nước Mã Lai, Indonesia, Bangladesh. Cá
Sặc rằn phân bố rộng rãi trong nhiều thủy vực như kênh rạch, ruộng lúa, ao hồ.
7

Tại Việt Nam, trong vùng châu thổ sông Mêkông, cá phân bố tập trung trong
các vùng trũng ngập nước quanh năm, sinh sản tự nhiên trong ruộng, kinh
mương nơi chúng cư trú, đặc biệt là có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất
hữu cơ. Hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang là vùng phân bố tập trung và có sản
lượng cao hiện nay ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
b. Sự sinh trưởng, phát triển và tính ăn của cá Sặc rằn
Trong điều kiện nhiệt độ 28-30
0
C trứng thụ tinh và nở sau 24-26 giờ. Cá sau
khi nở sẽ dinh dưỡng bằng noãn hoàng trong 2,5-3 ngày. Lúc này cá nổi trên
mặt nước. Sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá con di chuyển xuống lớp nước dưới
để kiếm mồi. Cá ương trong ao đạt chiều dài 2-3 cm sau 30-35 ngày. Thức ăn
cho cá con ban đầu là động vật phiêu sinh cỡ nhỏ như luân trùng, các chất hữu
cơ lơ lửng trong nước, tảo phù du. Cá càng lớn sử dụng càng nhiều loại thức
ăn hơn, khi trưởng thành cá ăn thiên về thực vật. Cá có chiều dài tối đa 25 cm.
Cá Sặc rằn chậm lớn, sau 2 năm nuôi cá đạt trọng lượng 140g/con. Thức ăn
cho cá thường là mùn bã hữu cơ. Khi nuôi trong ao, ruộng cho ăn bổ sung như
cám, phân động vật, bèo và các phụ phế phẩm khác.
Theo trung tâm khuyến nông khuyến ngư quốc gia Đồng Tháp thì thức ăn ở
thời kỳ đầu gồm nhiều loại, như phiêu sinh động vật (Ciliata, Rotifera,
Copepoda), động vật (Bacillariophyceae, Cyanophyceae, Chlorophyceae) và
thủy thực vật tan ra.
Ở thời kỳ trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá phù hợp với loài ăn
tạp. Những loại thức ăn thường xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn trong

khẩu phần từ 5-8% so với trọng lượng cá thả nuôi, đồng thời lượng thức ăn
này cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự tăng trưởng của cá nuôi trong
mô hình sau mỗi tháng kiểm tra (Sinh học và Kỹ thuật nuôi một số loài cá
nước ngọt, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật , 2000).
Trong mô hình nuôi kết hợp heo – cá số lượng cá thả nuôi trong mô hình tùy
thuộc nhiều vào số lượng heo nuôi, diện tích mặt nước hiện có. Thông thường
với số heo nuôi 2 con/chuồng sẽ cung cấp lượng phân đủ làm thức ăn cho 1 ao
nuôi cá có diện tích 200m
2
và mật độ thả cá 2 con/m
2
với cỡ cá 2 gam/con
(Dương Nhựt Long, 2004).
Có thể sử dụng nhiều loại thức ăn để nuôi cá Rô phi, nên sử dụng nguồn thức
ăn tại chỗ, rẻ tiền để nuôi cá. Tuy nhiên muốn cá mau lớn, rút ngắn thời gian
nuôi thì hàm lượng protein trong công thức thức ăn phải chiếm 18– 28% cho
cá Rô phi. Tuỳ theo cách nuôi mà có phương pháp cho ăn khác nhau (Dương
Nhựt Long, 2004).
Trong mô hình nuôi kết hợp cá–heo chỉ thích hợp cho vùng khí hậu ấm trên
thế giới. Trong ao nuôi, cá ăn trực tiếp phân chuồng hoặc ăn gián tiếp thông
qua nguồn thức ăn tự nhiên được phát triển nhờ nguồn phân heo. Bản thân
phân chuồng là thức ăn nghèo dinh dưỡng cho cá, nó chứa 25% chất đạm thô
nhưng phân nửa là đạm là dạng cá không tiêu hoá được. Phân chuồng cung
cấp ít năng lượng cho hơn các loại thức ăn khác. Vì thế nếu nuôi cá chỉ sử
dụng duy nhất phân chuồng thì năng xuất sẽ thấp. Tuy nhiên, giá trị dinh
9

dưỡng của nguồn chất thải từ heo sẽ tăng cao nếu tính cả thức ăn rơi, thừa của
heo ( Dương Nhựt Long , 2001).
Mật độ thực vật phù du và động vật phù du có sự khác biệt giữa ao nuôi trong

Dụng cụ đo, test môi trường
Cân, dụng cụ kiểm tra độ tăng trưởng của cá
Chai nút mài thu mẫu nước
Sổ ghi chép…
Và một số dụng cụ có liên quan
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm
Cá Thát lát còm, Rô phi, Sặc rằn giống khoẻ, có kích thước đồng đều, cơ thể
không bị xây xát, không bị dị tật hay bị nhiễm bệnh. Cá Thát lát giống có
trọng lượng dao động từ 1,0–1,5 g/con, chiều cao thân khoảng 0,6-0,8 cm, cá
Rô phi trọng lượng dao động từ 3-5 g/con, cá Sặc rằn trọng lượng dao động từ
1,2-1,5 g/con.
3.2.2. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí thành 2 nghiệm thức với 5 lần lập lại gồm :
Một nghiệm thức nuôi ghép giữa cá Thát lát, Rô phi, Sặc rằn, theo mật độ thả
3-2-5 con/m
2
, tỷ lệ ghép 30%, 20% và 50%, nuôi ghép trong mô hình VACB
(nghiệm thức I)
Nghiệm thức Tên Hộ Ao Diên tích (m
2
)
Lê Văn Công Ao I 300
Lê Văn Phong Ao II 200
Nguyễn Văn Liêm Ao III 300
Võ Văn Hoàng Ao IV 200
Nghiệm thức I
Lê Văn Ngọt Ao V 500

11

bằng các thức ăn cá xay có trộn vitamin C, trùn chỉ, sau đó đưa ra ngoài ao,
một số cá lớn chậm hơn sẽ được giữ lại vèo và tiếp tục nuôi lên khoảng 1
tháng, sau đó tiếp tục thả ra ao nuôi, việc nuôi và giữ cá nhỏ lại trong vèo mục
đích giúp cá không bị phân cỡ, đồng đều, không cạnh tranh thức ăn. Đối với
cá Rô phi và cá Sặc rằn tiến hành thả trực tiếp ra ao và việc nuôi ghép sẽ được
thả ngay sau khi thả cá Thát lát từ vèo ra ao nuôi.
Thức ăn cho cá Thát lát còm trong quá trình nuôi thực nghiệm chủ yếu là thức
ăn tươi sống từ nguồn cá tạp nước ngọt hoặc cá biển. Khẩu phần ăn phổ biến
qua các giai đoạn phát triển của cá nuôi dao động từ 3–10% khối lượng/ngày,
đồng thời lượng thức ăn cho cá nuôi được điều chỉnh về số lượng qua các giai
đoạn phát triển. Đối với cá Rô phi và cá Sặc rằn do mật độ nuôi ghép cao nên
có bổ sung thức ăn bằng thức ăn công nghiệp hiệu A Quafeed (protein 30%)
và sau đó giảm dần hàm lượng đạm qua các tháng nuôi. Trong giai đoạn cá
Thát lát còn nhỏ, thức ăn xay hay băm nhuyễn thì cá Rô phi và cá Sặc rằn vẫn
12

có thể cạnh tranh thức ăn với cá Thát lát. Do vậy ta tiến hành cho cá Rô phi và
cá Sặc rằn ăn trước khi cho cá Thát lát ăn.
3.2.4. Cải tạo ao nuôi
Ao nuôi trước khi thả cá được cải tạo cẩn thận có thể được tóm tắt như sau:
+ Tát cạn ao
+ Bắt hết cá dữ, cá tạp và các địch hại khác gây nguy hại cho cá nuôi
+ Vét bớt lớp bùn đáy ao còn khoảng 20–30 cm
+ San bằng nền đáy ao
+ Tu bổ bờ, lấp hang hốc và dọn cỏ quanh bờ ao
+ Rải vôi bột với liều lượng 10–15 kg/100m
2
ao nhằm vệ sinh, khử trùng
ao nuôi, hạn chế dịch bệnh.
Trong mô hình nuôi kết hợp VACB thì ta không bón phân hữu cơ vì trong quá

3.3.1. Khảo sát các yếu tố về môi trường nước trong hệ thống thực nghiệm
Trong quá trình thực nghiệm, các yếu tố về môi trường nước ao nuôi được
khảo sát hàng tuần, theo các phương pháp phân tích ứng dụng tại Khoa Thủy
sản, Đại học Cần Thơ bao gồm:
· Nhiệt độ đo bằng nhiệt kế rượu
· NO
2
đo bằng cách test
· NO
3
đo bằng phương pháp salicilate

· pH nước đo bằng cách test
· PO
4

đo bằng cách test
· NH3 / NH
4
+
đo bằng cách test
· H
2
S bằng phương pháp Iodine
3.3.2. Khảo sát sự tăng trưởng của cá Thát lát còm, Rô phi, Sặc rằn nuôi
thương phẩm
Đối với cá Thát lát còm, cá Rô phi và cá Sặc rằn sự tăng trưởng của cá nuôi
cũng được thu thập và phân tích mỗi tháng 2 lần. Mỗi lần thu từ 20-30 con
3.4. Phương pháp xử lý số liệu
+ Trọng lượng trung bình (g/con)

t2-t1
W1: Trọng lượng trung bình của cá nuôi tại thời điểm t1W2: Trọng lượng trung bình của cá nuôi tại thời điểm t2
+ Tỷ lệ sống
Số cá còn lại sau thời gian thí nghiệm
Tỉ lệ sống (%) = x 100
Số cá thả thí nghiệm
Tỷ lệ sống thu tại một thời điểm đượctính bằng phương pháp chài, tính số cá
thu được nhân cho diện tích mỗi lần chài rồi chia cho số cá của diện tích khi
thả của diện tích chài đó.Hặc tính được bằng cách ước lượng lượng thức ăn cá
ăn hằng ngày ta tính được tỷ lệ sống của cá ở thời điểm khảo sát
3.4.1. Phân tích và thống kê số liệu
Tất cả số liệu được thu thập, phân tích, xử lý và so sánh kết quả theo phương
pháp thống kê sinh học với phần mềm Statistica 5.5, SPSS 15.0 và Exce l 6.0
15

CHƯƠNG IV
KẾT QUẢ -THẢO LUẬN

4.1. Các yếu tố môi trường
Do động vật thủy sản sống trong môi trường nước nên dễ dàng chịu ảnh
hưởng các yếu tố của môi trường như: nhiệt độ, pH, hàm lượng Oxy hoà tan
(DO),…Vì vậy theo dõi các yếu môi trường trong quá trình thí nghiệm có ý
nghĩa rất quan trọng. Quá trình theo dõi sự biến động các yếu tố môi trường
được theo dõi thường xuyên hàng tuần. Kết quả được thể hiện qua bảng sau
Bảng 1: Nhiệt độ, pH, DO trong các ao nuôi ở nghiệm thức I và II
Nghiệm thức Nhiệt độ (
o

16

thể dẫn đến pH rất thấp vào sáng sớm do vậy ảnh hưởng đến quá trình phát
triển của cá.
4.1.3. Oxy
Kết quả (Bảng1) cho thấy hàm lượng Oxy hòa tan ở các ao nghiên cứu biến
động không lớn qua các đợt thu mẫu.Và không có sự khác biệt thống kê (P>
0,05) nghiệm thức I (4,21 ± 0,2 ppm) và nghiệm thức II (4,48 ± 0,33

ppm)
Theo Trương Quốc Phú (2003) khoảng Oxy thích hợp trong nước là >4mg/L
(ppm), hàm lượng Oxy trong ao cao hay thấp tuỳ thuộc vào sự phát triển của
thực vật phù du, hàm lượng dinh dưỡng trong ao nuôi và biến động theo mùa,
ngày đêm…. Kết quả cho thấy hàm lượng Oxy hoà tan nhìn chung thích hợp
cho sự phát triển của cá nuôi.
Trong một số đợt thu mẫu hàm lượng Oxy trong nghiệm thức I rất thấp 2
mg/L. Điều này có thể giải thích ở nghiệm thức I do hàm lượng dinh dưỡng
trong ao rất cao, quá trính phân huỷ hợp chất hữu cơ làm tiêu hao Oxy trong
môi trường nuôi, ảnh hưởng đến sự sự sinh trưởng của cá nuôi, tuy nhiên đối
tượng thí nghiệm (Thát lát, Rô phi, Sặc rằn) là những loài cá có khả năng chịu
đựng môi trường khắc nghiệt cuả môi trường rất cao nên việc thiếu Oxy cá
vẫn tồn tại được và phát triển bình thường ( trích bởi Long và ctv, 2004).
4.1.4 NO
2
-
và NO
3
-

Hàm lượng NO

(mg/L) NO
3
(mg/L)
Nghiệm thức I
0,17 ± 0,12 0,24 ± 0,09
Nghiệm thức II
0,13 ± 0,10 0,12 ± 0,02
Các giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn
17

Hàm lượng NO
3
biến thiên từ 0,05–0,91 mg/L và khác biệt không có ý nghĩa
giữa các ao nuôi trong mô hình VACB (nghiệm thức I)và ao đất (nghiệm thức
II), (P>0,05), dao động từ 0,05–0,36 mg/L trong các ao trong mô hình ao đất.
Theo Trương Quốc Phú (2006) thì nồng độ thích hợp cho sự phát triển tôm cá
là từ 0,1-10 ppm. Hàm lượng NO
3
trên (Bảng 2) nằm trong khoảng thích hợp
chọ sự phát triển cho tôm cá nuôi.
4.1.5 H
2
S
Hàm lượng H
2
S trong 2 nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê, với
giá trị trung bình lần lượt là (0,08 ± 0,02) mg/L và (0,07 ± 0,01) mg/L. Độ độc
của H
2
S đối với cá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như pH, nhiệt độ của nước

Bảng 4: Hàm lượng PO
4
3-
và TAN ở nghiệm thức I và II
Nghiệm thức TAN (mg/L) PO
4
3-
(mg/L)
Nghiệm thức I
3,02 ± 1,71 3,65 ± 1,36
Nghiệm thức II
0,40 ± 0,16 0,28 ± 0,09
b

Các giá trị trong cùng 1 cột có các chữ cái khác nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê(P< 0,05).
Các giá trị thể hiện là số trung bình và độ lệch chuẩn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status