Tài liệu CHIẾT XUẤT, XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG POLYPHENOL VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY HOÁ CỦA CÁC MẪU BỘT CHIẾT LÁ DÂU potx - Pdf 10

TCNCYH 38 (5) - 2005
CHIẾT XUẤT, XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG POLYPHENOL VÀ
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CHỐNG OXY HOÁ CỦA
CÁC MẪU BỘT CHIẾT LÁ DÂU
Phạm Thiện Ngọc, Lê Ngọc Liễn
Bộ môn Hoá sinh - Trường Đại học Y Hà Nội .

t
lĐã có một số nghiên cứu trên thế giới đánh giá về tác dụng quý có thể áp dụng trong sinh y học của lá
dâu. Cây dâu được trồng phổ biến ở nước ta để lấy lá nuôi tằm, nhưng chưa có nghiên cứu khoa học nào
về chiết xuất, xác định lượng polyphenol, tác dụng chống oxy hoá của lá dâu. Mục tiêu: (1) Chiết xuất và
xác định hàm lượng polyphenol lá dâu. (2) Đánh giá khả năng chố
ng oxy hoá của các mẫu bột chiết lá
dâu. Đối tượng và phương pháp: Dùng 5 loại dung môi methanol 100%, methanol 75%, n - hexan
100%, ethylacetat 100% để chiết xuất tạo bột lá dâu. Hàm lượng polyphenol trong các mẫu bột chiết được
xác định bằng phương pháp đo quang đơn giản dùng ferrous sulphate. Sử dụng acid linoleic đánh giá khả
năng chống oxy hoá in vitro của các mẫu chiết xuất. Kết quả: (1) Methanol 75% cho hiệu xuất chiết xuất
bột lá dâu cao nhất (3,9%), trong đó lượng polyphenol chiếm 2,62%. Xác định hàm l
ượng polyphenol
trong mẫu chiết xuất bằng phương pháp Ferrous sulphat cho kết quả chính xác hơn phương pháp dùng
thuốc thử folin (2) Ở ngày thứ 7 và 12, acid linoleic với sự có mặt của các mẫu bột chiết lá dâu chỉ bị
peroxy hoá từ 15% tới 42,2%, trong khi ở mẫu đối chứng bị peroxy hoá là 100%. Kết luận: (1) Lá dâu có

NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng
1.1. Chất liệu
Nguyên liệu nghiên cứu là lá dâu (Morus alba
L. thuộc họ Moraceae) được thu hái vào cuối
tháng 11 năm 2004 tại xã Tam Giang, huyện Yên
Phong, tỉnh Bắc Ninh.
1.2. Hóa chất
- Ethylgallate, ferrous sulfate, postasium
sodium tartrate tetratrydrat, phosphate buffer
sodium, acid linoleic, polyphenol chè xanh, folin
ciocalteau phenol.
- n - hexan, aceton, ethylacetat, methanol,
ethanol.
- Acid linoleic (Nhật bản).
- Sunphenon 100S của công ty Taiyokagaku
(Nhật Bản) chứa 68,5% polyphenol
- Acid galic.
1
TCNCYH 38 (5) - 2005

i

l ị1.3. Trang th ết bị
- Bộ cất quay chân không của hãng Buchi
(Thụy Sĩ).
- Quang kế photometer 4010 (Đức)

nghiệm (kể cả ống chứng). Mỗi ống chứa 0,8 ml
acid linoleic 2,5% ; 1,6 ml đệm phosphat pH 7,0 ;
0,8 ml nước cất và 1,8 ml mỗi mẫu dịch chiết
0,001% (ống chứng được thay bằng 1,8 ml
ethanol 96
o
. Các ống nghiệm được nút kín, tránh
ánh sáng, ở 40
0
C.
- Thực hiện phản ứng xác định mức độ peroxy
hoá của các mẫu ở các thời điểm:
Trước khi tạo
hỗn hợp phản ứng, ngày thứ 7, ngày thứ 12 sau
khi tạo hỗn hợp phản ứng. Mức độ peroxy hoá
acid linoleic được xác định bằng phản ứng màu với
hỗn hợp sau: dịch các ống nghiệm ở trên (0,05ml),
Ethanol 75
0
(4,85ml), NH
4
SCN 30% (0,05ml), FeCl
2

0,02M/HCl 3,5% (0,05ml). Lắc đều, đúng 3 phút
sau đo mật độ quang học các mẫu thí nghiệm so
với ống trắng (Ethanol 75
0
) ở bước sóng 500nm.


.
3. Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của các mẫu chiết lá dâu bằng cách sử dụng acid linoleic
Hoạt tính chống oxy hoá của 5 loại bột chiết lá dâu dựa theo ống chứng có so sánh với mẫu chè xanh
có cùng hàm lượng polyphenol được trình bày ở bảng 2 và minh hoạ ở biểu đồ 1.
Bảng 2. MĐQH và mức độ peroxy hoá acid linoleic (POL)
của các mẫu thí nghiệm ở các thời gian

Thời điểm
Trước khi ủ Ngày 7 sau ủ Ngày 12 sau ủ
Polyphenol
(0,01%)
MĐQH POL(%) ) MĐQH POL(% MĐQH POL(%)
Mẫu 1 0,020 1,57 0,148 11,60 0,376 29,47
Mẫu 2 0,023 1,80 0,216 16,93 0,536 42,01
Mẫu 3 0,031 2,43 0,174 13,64 0,420 32,92
Mẫu 4 0,025 1,96 0,146 11,44 0,232 18,18
Mẫu 5 0,018 1,41 0,179 14,03 0,191 14,97
Chè xanh 0,027 2,12 0,194 15,20 0,207 16,22
Chứng 0,018 1,41 1,271 99,61 1,276 100,00
Nhận xét:

Tất cả các mẫu bột chiết lá dâu có tác dụng hạn chế quá trình peroxy hóa lipid in vitro và
tác dụng mạnh nhất là ở mẫu bột lá dâu 5 tương đương với mãu chè xanh. Chúng tôi coi toàn bộ lượng
acid linoleic có trong ống nghiệm ở thời điểm 12 ngày sau ủ đã bị oxy hoá hết và có MĐQH là 1,276.

Biểu đồ 1. Mức độ peroxy hoá acid linoleic của các mẫu thí nghiệm
với sự có mặt của các loại bột chiết lá dâu

3
TCNCYH 38 (5) - 2005

quả định lượng được như sau: Hàm lượng
polyphenol dịch chiết lá dâu (từ 50g bột lá dâu
khô) cao nhất ở mẫu chiết bằng Methanol 75%
(50,8mg), tiếp đến là mẫu chiết bằng Methanol
100% (17,5mg), sau đó là mẫu chiết bằng
Ethylacetate 100% (5,36mg), mẫu chiết bằng
Aceton 100% (3,17mg) và thấp nhất là mẫu chiết
bằng n - Hexan 100% (0,04mg).
Sự khác nhau về lượng dịch chiết thô thu được
cũng như hàm lượng polyphenol dịch chiết ở
đây
phụ thuộc hoàn toàn vào dung môi dùng để chiết
xuất. Vì các mẫu chiết xuất trên cùng một lượng
50g bột lá dâu khô (lá dâu cùng loại), qui trình và
điều kiện chiết xuất giống nhau. Tỷ lệ polyphenol
trong dịch chiết ở các mẫu đánh giá chất lượng
dịch chiết thu được ở mỗi mẫu chiết bằng các
dung môi khác nhau. Tỷ lệ này cao nhất ở mẫu
chiết bằng Methanol 75% (2,62%), tiếp theo là
mẫu chiết b
ằng Methanol 100% (1,01%), sau đó
là mẫu chiết bằng Aceton 100% (0,44%), mẫu
chiết bằng Ethylacetate 100% (0,34%), thấp nhất
ở mẫu chiết bằng n - Hexan 100% (0,04%).
2. Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của
các mẫu chiết bằng cách sử dụng acid
linoleic
Trong thí nghiệm này chung tôi đánh giá tác
dụng chống oxy hoá của các polyphenol trong các
mẫu chiết (ở nồng độ 0,01%) thông qua lượng acid

chè xanh, tiếp theo là polyphenol Mẫu 4,
polyphenol Mẫu 1, polyphenol Mẫu 3 và thấp nhất
polyphenol Mẫu 3.
Sự khác nhau về hoạt tính chống oxy hóa của
các polyphenol ở các mẫu chiết có thể do thành
phần và lượng polyphenol. Hay nói cách khác,
dùng các dung môi chiết xuất khác nhau có thể
thu được các polyphenol có phẩm chất khác nhau.
Ta thấy polyphenol Mẫu 1 (chiết bằng Methanol
75%) có khả năng chống peroxy hóa tốt và tác
dụng này được kéo dài theo thời gian .
V. KẾT LUẬN
1. Lá dâu chiết bằng dung môi methanol 75%
thu được lượng bột lớn nhất (3,9%); trong đó hàm
lượng polyphenol cũng nhiều nhất (2,62%).
4
TCNCYH 38 (5) - 2005
2. Các mẫu chiết xuất lá dâu đều có khả năng
chống oxy hóa, mẫu chiết bằng methanol 75% có
khả năng chống oxy hóa cao nhất, tiếp đến là mẫu
chiết bằng methanol 100%, mẫu chiết bằng dung
môi n - hexan 100%, mẫu chiết bằng dung môi
aceton 100% và thấp nhất là mẫu chiết bằng dung
môi ethylacetate 100%. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Tất Lợi (2001), Cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật , tr
252 - 253, 498 - 499, 721 - 723, 734 - 735, 820 -

the extracts are determined by ferrous sulphate and follin reagent assay. Antioxidant capacities of the
powders are based on peroxidation of linoleic acid at 40oC. Results: Among five solvens, the extract by
methanol 75% from 50g dryed leaves is best. The powder is 1,94g with 2,62% of polyphenol. Polyphenol
concentraion of the extract powders are determined by two methods: ferrous sulphate and follin reagent.
The result with ferrous sulphate method is more accurate than follin reagent method. The mulberry leave
extract powders inhibited linoleic acid peroxidation at the 7
th
and 12
th
of reaction (only 15,5 % to 42,2%
linoleic acid peroxidated) in comparison with control (100% linoleic acid peroxidated). Conclusions:
Polyphenol from mulberry leaves was extracted by some solvens. Among them extraction of polyphenol by
methanol 75% is best. Polyphenol concentration of extract powders can be dedermined by ferrous sulphat.
The extract powders from mulberry leaves exhibited antioxidant capacities in vitro. The extract powder by
methanol 75% showed highest antioxidant capacitiy.
Keywords: mulberry leaf, polyphenol, linoleic acid peroxidation.5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status